Bàn về việc sử dụng thị trường để huy động nguồn lực giải quyết vấn đề ở Mekong Delta

Tóm tắt:

Để giải quyết khó khăn do biến đổi khí hậu và thiếu nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong thời gian tới, đòi hỏi các hành động diễn ra ở nhiều quy mô và cách thực hiện: có thể nhà nước làm, các doanh nghiệp làm, hoặc ở quy mô hộ gia đình. Tựu trung cần nguồn vốn đầu tư lớn và nhân lực nhiều, nên cần bàn vấn đề làm thế nào để huy động nguồn lực. Bài này bàn về cách huy động nguồn lực theo hướng dựa trên vận hành của cơ chế thị trường.

Nội dung đăng lại dưới đây.

Anh Huy Nguyen có bàn về các giải pháp kỹ thuật để giúp ĐBSCL tồn tại trong tương lai hạn mặn (hai vấn đề lớn cho ĐBSCL vào mùa khô: nước từ thượng nguồn về ít do các đập thủy điện ở thượng nguồn lấy nước, và nước biển dâng nên tràn vào sông; mùa mưa thì có thể nhận lũ nếu các hồ thủy điện ở Trung Quốc, Lào cùng xả nước).

Tôi đồng ý với tinh thần thích nghi với hoàn cảnh mới trong các giải pháp của anh Huy. Ở đây xin bàn thêm về phương hướng thực hiện.

Trước tiên, cần huy động được nguồn lực rất lớn để bơm vào các hoạt động cải tạo lối sống, phương thức sản xuất ở ĐBSCL. Bởi cho dù không thể chọn cách xây đê làm cống ngăn mặn kiểu Hà Lan mà chỉ cần làm sao để tồn tại được, chi phí để thay đổi ĐBSCL là quá lớn. Trong trường hợp chi phí đó nội lực Việt Nam có thể chấp nhận được, thì cũng là tổng hợp từ nhiều nguồn lực:
– tiền ngân sách nhà nước
– chi phí do dân cư trong vùng tự đóng góp
– các nguồn vốn tư nhân khác từ bên ngoài đầu tư vào

Đánh giá các nguồn lực:

– ngân sách nhà nước VN rất hạn chế, ăn bữa nay lo bữa mai, hầu như không thể xén thêm từ các vùng khác để dồn vào lo cho vùng ĐBSCL (mới mấy năm trước, dân Hà Tĩnh và các tỉnh lân cận bị ảnh hưởng của vụ nhà máy thép Formosa xả thải làm các hoạt động kinh tế biển bị mất hết, nhà nước có thể làm gì để hỗ trợ dân? Tôi chỉ thấy ấn tượng hai chuyện: đòi được 500 triệu USD bồi thường từ Formosa để chia lại cho dân, và ưu tiên đưa dân Hà Tĩnh đi xuất khẩu lao động. Tôi không ghi nhận nhà nước làm gì được để tạo nền kinh tế mới cho dân Hà Tĩnh hoặc có tiền đầu tư vào những chương trình lớn nhằm làm việc đó, ai biết xin bổ sung thêm giúp.)

– chi phí do dân trong vùng ĐBSCL bỏ ra: có lẽ đây sẽ phải là nguồn chính, dân đứng trước nguy cơ chết đói thì phải vận động đủ mọi cách, có bao nhiêu tiền sẽ phải dùng hết, nhưng dân cư ĐBSCL tổng quan là nghèo, của cải dự trữ không có mấy, nên nguồn lực này cũng hạn chế. Phần lớn nhất dân ở đây có thể đóng góp, là họ thay đổi cách sinh hoạt và sản xuất, ví dụ tiết kiệm nước, như dùng lu hồ trữ nước mưa để dành cho mùa khô.

– nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào ĐBSCL: có lẽ đây là nguồn hy vọng chính để cải tạo ĐBSCL, theo nghĩa: nếu không huy động được nguồn vốn tư nhân lớn vào thì ĐBSCL sẽ như mũi tàu chìm dần không cứu nổi, còn huy động được thì có cơ hội thay đổi vùng đồng bằng này.

Huy động nguồn lực tư nhân bằng cách nào? Chỉ có cách là dùng giải pháp của thị trường, nếu tư nhân đầu tư vào có lợi thì họ mới nhảy vào (ở đây đang nói nguồn đầu tư là từ bên ngoài ĐBSCL, tức là họ đầu tư không vì mối liên quan kiểu dân đồng bằng đầu tư về quê hương hoặc trên tinh thần nhân đạo).

Xét theo cách hành xử của thị trường, người ta đầu tư vào ĐBSCL có thể kiếm lợi nhuận từ nguồn nào? Có mấy khả năng:

– một là dân phải trả tiền, tức là chi phí cuộc sống buộc phải tăng cao để mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư, ví dụ giá nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất sẽ phải tăng lên. Nếu không có người đầu tư vào các nhà máy lọc nước mặn hoặc làm hồ trữ nước, thì tình trạng có thể cực đoan như báo chí đang phản ánh là 1 mét khối nước ngọt lên tới khoảng 300 ngàn; nếu có các nhà đầu tư để tăng nguồn cung, thì giá nước tăng ít hơn, cỡ 100 ngàn / m3 chẳng hạn, ở mức nào đó mà dân có thể còn tồn tại được, nhà đầu tư cũng được lợi và họ giúp giữ cho chi phí không quá cao.

– hai là nhà nước trả tiền theo cơ chế trợ giá cho dân mua những sản phẩm mới. Ví dụ rằng giá nước ngọt sẽ lên cỡ 100 ngàn/m3 vào mùa hạn, nhà nước chấp nhận trả một nửa, phần còn lại dân phải gánh và nó cũng đã là khoản tăng khá cao cho chi phí cuộc sống, nhưng dân cũng còn may là được nhà nước san sẻ gánh nặng. Lợi ích của nhà nước là không phải dành ra khoản tiền rất lớn để đầu tư ban đầu, mà duy trì được cuộc sống cho người dân không quá bị xáo trộn.

– ba là thu nhập của vùng ĐBSCL tăng lên qua việc tạo thêm giá trị cho sản phẩm của vùng này, các khoản đầu tư có thể làm tăng giá trị sản phẩm (như làm tăng giá trị thương hiệu, tăng chất lượng sản phẩm) và nhà đầu tư thu được một phần, dân cư tham gia quá trình sản xuất hưởng lợi một phần. Tuy nhiên hướng này khó khả thi vì cơ bản là vùng ĐBSCL khó tạo ra các dòng sản phẩm mới có chất lượng đột phá, còn sản phẩm hiện có (chủ yếu là nông nghiệp) thì năng suất chỉ có đi xuống và chất lượng chưa chắc tăng lên trong hoàn cảnh chịu tác động của nước mặn

– bốn là người dân phải bán dần tài sản, khi các khoản tăng chi phí cuộc sống vượt quá khả năng thu nhập của họ, họ cố trụ cho đến khi gần hết tài sản để bán thì di dân đến vùng khác để làm công nhân/nông dân. Việc sản xuất ở ĐBSCL qua đó sẽ tích tụ tài sản đất đai vào những cụm có quy mô lớn hơn, giảm bớt chi phí sản xuất để thích nghi với hoàn cảnh cuộc sống đắt đỏ hơn.

Bốn hướng trên đều là khó giải. Nguồn thứ nhất: dân cơ bản là nghèo. Nguồn thứ hai: nhà nước cơ bản cũng là nghèo, nếu có các chương trình hỗ trợ thì người ta vẫn nghĩ rằng lợi ích sẽ rơi vào các doanh nghiệp sân sau của quan chức nhà nước. Nguồn thứ ba: trừ khi có sự đột phá tư duy từ cấp quản lý nhà nước lẫn trình độ dân trí, còn không thì khó có động lực đẩy thu nhập của vùng ĐBSCL tăng lên (dùng công nghệ cao có thể làm tăng thu nhập, nhưng công nghệ cao nói chung là hiếm ở Việt Nam, người ta có công nghệ cao thì đầu tư vào những nơi như vùng Đông Nam Bộ có nguồn nhân lực và giao thương tốt hơn, không dại đầu tư vào Tây Nam Bộ mà các chỉ số cạnh tranh về công nghệ cao đều kém). Nguồn thứ tư: tài sản lớn nhất ở ĐBSCL chắc là đất đai, và nó sẽ ngày càng mất giá nếu nhà nước không có sự đổi hướng kinh tế mà vẫn kiên định đòi dùng vùng ĐBSCL để làm lúa và cây ăn quả.

Thành ra bài toán thu hút đầu tư của tư nhân vào ĐBSCL phụ thuộc vào cách giải quyết bài toán khác: làm sao để tăng thu nhập cho dân cư ĐBSCL (để họ có đủ khả năng chi trả cho các sản phẩm, dịch vụ đắt đỏ dần lên, các sản phẩm dịch vụ đó tạo sức hút để tư nhân đầu tư vào ĐBSCL và qua đó giúp vùng ĐBSCL thích nghi được với hoàn cảnh khí hậu khó khăn).

Làm sao để tăng thu nhập cho dân cư ĐBSCL?

Bài này phân tích khá dài, tuy nhiên có giá trị nhất là đoạn ở dưới này đây. Tôi chưa có thời gian diễn giải cụ thể thêm, xin liệt kê vắn tắt:

1. Giảm bớt mật độ dân cư vùng ĐBSCL: sẽ phải chấp nhận thương đau là dân nghèo ĐBSCL phải bán đất bán nhà đi lang bạt ở nơi khác kiếm ăn. Nhà nước và chính người dân cần chuẩn bị kỹ năng và thái độ lao động trong môi trường công nghiệp cho dân, đối tượng càng nghèo thì càng dễ phải di dân và cần được đào tạo để đi làm công nhân ở nơi khác.

2. Tăng cường khai thác các nguồn tài nguyên “mới” ở ĐBSCL: không hẳn là mới, mà là trước giờ nền kinh tế nông nghiệp ở ĐBSCL chưa chú trọng khai thác. Hai nguồn tài nguyên “mới” đáng kể là năng lượng mặt trời và nước mặn. Nước mặn được khai thác bằng cách nuôi hải sản chẳng hạn. Xây nhà máy sử dụng năng lượng mặt trời để lọc nước mặn thành nước ngọt, là tận dụng tốt cả hai nguồn tài nguyên này.

3. Tăng cường thu hút công nghệ trình độ khá cao về vùng ĐBSCL: việc này giúp tăng giá trị sản phẩm của vùng. Có mấy ngành có thể xem là cần công nghệ trình độ khá cao (và mức thu nhập cao hơn đáng kể so với các ngành khác): công nghệ liên quan đến thông tin (ICT), tài chính, du lịch, dược phẩm (nguồn gốc tự nhiên) và chế phẩm sinh học. Nói chung những nhà đầu tư nào trong các lĩnh vực đó có tầm nhìn thị trường càng rộng (bán hàng được cho toàn cầu là tốt) thì càng đáng để ưu đãi đầu tư nhằm thu hút vào ĐBSCL.

Nguồn: Doãn Minh Đăng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *