Trong bộ sách về Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, PGS. Phan Dũng nêu các phương pháp:

Phổ biến kiến thức một bộ môn khoa học nào đó thường được thể hiện dưới các hình thức:

  1. Đăng trên báo chí các bài viết dễ hiểu về môn khoa học đó để nhiều người đọc, từ đó họ sẽ tìm hiểu thêm, sâu hơn.
  2. Tổ chức các buổi nói chuyện, seminar, hội thảo.
  3. Viết và xuất bản các sách chuyên về bộ môn khoa học đó.
  4. Mở các lớp dạy bộ môn khoa học đó cho những người quan tâm theo học.
  5. Đưa bộ môn khoa học đó vào dạy trong các nhà trường.

Trong các hình thức nói trên, hai hình thức cuối về “dạy và học”, đặc biệt, đưa vào dạy trong các nhà trường là cách làm bài bản, căn cơ và có hiệu quả thực sự to lớn, lâu dài nhất.

Dựa trên lý luận đó, thầy Phan Dũng tập trung vào việc dạy học trong nhà trường (5) (mở các khóa dạy ở trường ĐH KHTN TPHCM) rồi lập trung tâm TSK-CSTC để dạy mở rộng cho xã hội (4), trong quá trình đó thì khi có điều kiện cũng tạo ra các sản phẩm phụ: các bài báo cho đại chúng và trên truyền hình (1), nói chuyện với các quan chức và những nhóm người quan tâm theo hình thức seminar (2), viết và in sách (3). (xem tổng hợp kết quả trong ebook của Phan Dũng)

Cũng cùng chiến lược đó (trước tiên tập trung vào việc mở các lớp giảng dạy trong nhà trường), hoạt động của G. S. Altshuller thì thành công, phổ biến TRIZ rộng khắp ở Liên Xô. Đầu tiên họ có nhiều trường dạy sáng chế và khoa học sáng tạo (i), các học viên của những khóa học ấy áp dụng những điều học được để giải quyết các bài toán sáng chế và làm ra hàng ngàn bằng sáng chế mới (ii), hình thành các câu lạc bộ TRIZ hoạt động có tổ chức và có liên kết (iii), nghiên cứu phát triển lý thuyết và viết sách (iv).

Tại sao từ hoạt động dạy học TRIZ trong nhà trường ở Việt Nam, khó dẫn đến các bước tiến tiếp theo? (từ (ii) đến (iv) như kết quả ở Liên Xô)

Tôi tạm tìm một số lý do:

  1. Lực lượng mỏng, nên không có yếu tố cộng hưởng. So với Liên Xô: quá trình hoạt động ban đầu của Altshuller cũng phải mất hàng chục năm để đào tạo được lớp chuyên gia đầu tiên, lăn lộn đủ nhiều để có nền tảng hiểu biết và kinh nghiệm có thể dẫn dắt các nhóm hoạt động. Việc này cần thời gian, và ít nhiều may mắn.
  2. Đầu tư của nhà nước quá yếu, nên thiếu nguồn lực để bơm vào trong giai đoạn non trẻ của một ngành khoa học. So với Liên Xô: sau những năm đầu khó khăn trong việc thuyết phục lãnh đạo, Altshuller chắc cũng được sự ủng hộ nhiệt tình của những quan chức ít nhất là cấp trung, những người có quyền quyết định đến việc mở một trường học, cấp cho những tài nguyên của địa phương để mở trường. TSK chỉ làm đào tạo tự thu tự chi mà sống được thì cũng đã là thành công, kiểm chứng là xã hội có nhu cầu. Tuy vậy mô hình của TSK không được nhân rộng (do thiếu chuyên gia, thiếu lãnh đạo hỗ trợ nhiệt tình kiểu như ở ĐH KHTN TPHCM trong hoàn cảnh đất nước khó khăn). Nếu có khoảng 4 trung tâm kiểu TSK hoạt động trên cả nước, hàng năm gặp gỡ nhau trao đổi kinh nghiệm và học thuật, thì sức ảnh hưởng sẽ gấp nhiều lần.
  3. TSK tập trung vào dạy “TRIZ mở rộng” cho nhiều tầng lớp dân chúng, nhắm đến giải quyết các vấn đề có mức sáng tạo thấp (giải quyết các bài toán hàng ngày), nhằm giúp cho người học (và xã hội) sớm thấy lợi ích của sáng tạo học. Chuyện này thầy Phan Dũng có đề cập khi trả lời phỏng vấn của chương trình Người đương thời (tại sao tập trung giảng dạy mà không làm tư vấn cho doanh nghiệp sáng chế? -> có 2 lý do chính là nếu đi giải quyết sáng chế thì không còn nguồn lực cho việc dạy, và các sáng chế ở mức cao cần có môi trường phù hợp mà chưa thấy ở Việt Nam). Do vậy việc đào tạo TRIZ ở TSK không tập trung vào giới kỹ thuật như kiểu Altshuller làm ở Liên Xô, thành ra không tạo ra được những bằng sáng chế. (thật ra thì trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật của Việt Nam còn thấp, rất ít bằng sáng chế mà nếu có bằng sáng chế cũng khó thương mại hóa để tạo động lực cho các doanh nghiệp; dù vậy một số học viên của TSK là người trực tiếp làm kỹ thuật trong nhà máy thì cũng tạo ra một số bằng sáng chế, theo báo chí điểm lại)

Điểm yếu về nhân sự có lẽ là khó khắc phục nhất, vì đào tạo một chuyên gia cho một lĩnh vực cần hàng chục năm. Khoa học sáng tạo dựa trên TRIZ còn cần rất nhiều nền tảng về cả khoa học tự nhiên (logic, hệ thống, hiểu biết về các hiện tượng khoa học) + tâm lý (sức ỳ tâm lý, các cách mở rộng góc nhìn, định hướng tư duy) + triết học (các nguyên lý phổ quát của tự nhiên, các nguyên lý hành động của con người), nên tập người phù hợp càng hạn chế.

Hai điều kiện có thể tạo kích thích ngắn hạn cho việc phát triển TRIZ: (a) đầu tư lớn của nhà nước qua một số chương trình hỗ trợ nào đó (kiểu đầu tư cho ngành Toán qua Viện Toán cao cấp), (b) mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp (dựa trên việc đào tạo tư duy TRIZ về quản trị và đào tạo kỹ sư để giải quyết các vấn đề sáng tạo và sản xuất). Tuy vậy đường dài cũng phụ thuộc vào lực lượng nhân lực đầu ngành (có được 5 người như Phan Dũng, mỗi người tập hợp quanh mình hàng chục chuyên gia, thì mới hy vọng).

Khi TRIZ mới vào Trung Quốc, có học giả đã dùng TRIZ để lập ra mô hình phát triển TRIZ ở nước này: https://triz-journal.com/triz-development-model-china/. Tài liệu này nên được phân tích thêm.


Cập nhật nhận xét về bài báo từ Trung Quốc: Daniel K. Lau, “TRIZ Development Model in China”, TRIZ Journal, 3/2005

Bài này không có gì nhiều, họ đưa ra một cái “LEADS model” thực chất giống kiểu “Bloom taxonomy” trong giáo dục, ở đây là một dạng bảng taxonomy cho việc học và áp dụng vào kỹ thuật. Tóm tắt là họ đưa ra các bước để học và ứng dụng TRIZ từ góc độ một công ty: Learn -> Evaluate -> ADapt -> Specialize. Một tri thức công nghệ, phương pháp khoa học nào cũng sẽ cần được tiếp nhận theo quá trình tương tự, chứ không riêng gì TRIZ. Các nội dung khác trong bài mang tính chất đưa ra ví dụ để giới thiệu các thành phần của TRIZ.

Back to Top