MỤC 3

ĐỐI TƯỢNG TIÊU ĐIỂM

Mô tả phương pháp

Phương pháp được sáng tạo bởi Charles Whiting (ở Anh) vào những năm 1960. Ý tưởng chính là thiết lập các mối liên kết giữa một đối tượng nhất định với các đối tượng bất kỳ hoặc đặc điểm của chúng. Theo đó, một vài đối tượng (từ hai đến bốn) được chọn ra một cách ngẫu nhiên, đồng thời các đặc điểm cụ thể của chúng sẽ được xác định. Sau đó, lần lượt các đặc điểm này được chuyển cho một đối tượng cụ thể làm trung tâm của sự chú ý (đối tượng tiêu điểm).

Ví dụ:
Chọn đối tượng và xác định đặc điểm hoặc giá trị của chúng:

(Bảng các đối tượng)

Sữa – Máy vô tuyến truyền thanh (radio) – khăn trải giường
Chất lỏng – bị hỏng – bằng vải

Chua – cầm tay – được thêu
Sô cô la – phát thanh – bị sờn

Ở trong bịch – lạc hậu – ngắn

Nhìn kỹ (tập trung) vào đối tượng – ví dụ: một bông hoa. Sau đó, hãy tưởng tượng một bông hoa sẽ trông như thế nào nếu nó là chất lỏng, chua, có sô cô la, trong một cái túi, bị hỏng, bằng bông.

Hàng loạt các đặc điểm bất ngờ và giá trị mà ta gán cho đối tượng sẽ giúp chúng ta tạo ra một vật thể bất thường.

Mục đích:
– Dạy trẻ đưa ra những đặc điểm khác thường cho một đối tượng.

– Đưa ra và giải thích chức năng thực tế của một đối tượng với những đặc điểm không giống bình thường.

Các bước tiến hành một buổi học

1. Đề nghị trẻ chọn ngẫu nhiên hai hoặc ba đối tượng.
Ví dụ:
Cây, que kem, con trăn.

2. Yêu cầu trẻ kể từ 4 đặc điểm hoặc giá trị trở lên cho mỗi đối tượng.
Ví dụ:
Cây có rễ, bị gãy, màu xanh, có chồi.
Kem vani, trong ốc quế.
v.v.

3. Đề nghị trẻ chuyển các đặc điểm hoặc giá trị sang một đối tượng khác đang được lấy làm trung tâm.

Ví dụ:
Ấm đun nước với rễ, bị vỡ, vv

4. Thảo luận từng sự kết hợp: đối tượng tiêu điểm và một đặc điểm của từng đối tượng.
Ví dụ:
Một ấm đun nước có rễ, khi nào nó sẽ như thế và tại sao. Mỗi sự giải thích nên được lý luận một cách thuyết phục.

5. Tổ chức hoạt động tạo nội dung cho trẻ.
Ví dụ:

Vẽ, nặn vật thể được chọn với những đặc điểm khác thường hoặc sáng tác một câu chuyện cổ tích về một chiếc ấm có rễ cây hay một chiếc ấm xanh.

Khuyến nghị cho việc xây dựng hệ thống các buổi học/chơi cho trẻ em ở các độ tuổi khác nhau.

Khi dạy dựa trên cơ sở của phương pháp này, nên sử dụng các đặc điểm và tính chất của các đối tượng được trẻ đề xuất. Phần này cần phải thật linh hoạt.

Không sử dụng các phương tiện trực quan (mô tả về các đối tượng tiêu điểm).

Giáo viên cần phải thể hiện chắc chắn rằng một đối tượng với một đặc điểm khác thường hoàn toàn có thể tồn tại trong đời thực, kết hợp sử dụng các biểu cảm (bất ngờ, vui thích, thú vị, buồn rầu) dành cho các kết hợp ngược đời.

Khi lựa chọn các đặc điểm cho một đối tượng, giáo viên nên loại trừ các thuộc tính thông thường. Ví dụ, các thuộc tính về kích thước lớn/nhỏ cũng như các thuộc tính về hình dạng vuông/tròn hoặc các thuộc tính màu sắc trắng/đen không nên được chọn. Tương tự, các khái niệm đẹp/xấu xí cũng không nên được sử dụng.

Bắt đầu với trẻ ba tuổi. Giáo viên lập một bộ sưu tập các tổ hợp từ để chỉ các đối tượng có các đặc điểm khác thường. Thảo luận khi nào (trong trường hợp nào) thì các đối tượng có các thuộc tính đó.

Ví dụ:

Trong trường hợp nào thì có thể có một “cây xà phòng” hoặc “một ngôi nhà sơn ca-rô”.
Bắt đầu với trẻ bốn tuổi. Đề nghị trẻ kể ra các đặc điểm của một đối tượng được chọn ngẫu nhiên và sau đó, xem xét các điểm đó kết hợp với một đối tượng khác. Thảo luận về các tổ hợp bất thường.

Gợi ý trẻ em từ năm đến bảy tuổi xem xét các thuộc tính của hai hoặc ba đối tượng, sau đó gán tất cả các thuộc tính đó lên một đối tượng nhất định.

Tổ chức các hoạt động tạo nội dung dựa trên kết quả đạt được.

Kết quả mong đợi

Kể chuyện (viễn tưởng/tưởng tượng) dựa trên một đặc điểm khác thường của một đối tượng được chọn. Giải thích các phiên bản khác nhau.

Sáng tác một câu chuyện (chuyện cổ tích) lý giải một thuộc tính bất thường và ý nghĩa thực tế của thuộc tính đó.

Trò chơi & Bài tập sáng tạo

Hoạt động: (dành cho trẻ 5 tuổi)

Hãy trao đổi

Mục đích:

Dạy trẻ gắn một đặc điểm khác thường cho một đối tượng và giải thích sự tồn tại của đối tượng đó trong đời thực với đủ mức xác thực.

Dụng cụ:

Giáo viên đưa ra hình ảnh mô tả các đối tượng khác nhau (con ong, áo lông, xe hơi, v.v.) cho nhóm ba hoặc bốn trẻ.

Bài tập thực tế (RA): chọn một đặc điểm đặc trưng cho đối tượng (Vd: ong thì bay, áo lông thì giữ ấm lên, xe chạy nhanh).
Đem đặc điểm này gắn cho đối tượng khác (Vd: ong làm ấm, áo lông thì nhanh, xe hơi biết bay). Giải thích khi nào đối tượng có thể như thế.

Ví dụ: Ong làm ấm vì ong biết làm mật, mật ong làm ấm lòng người bệnh; một chiếc áo lông thì nhanh nếu nó được may rất nhanh; một chiếc xe chạy rất nhanh như bay trên đường.

Nguyên tắc là đặc điểm khác thường của đối tượng luôn có thể tồn tại trong đời thực.

Trò chơi & Bài tập sáng tạo

Hoạt động: (dành cho trẻ 4 tuổi) Mớ lộn xộn

Mục đích:
Giúp trẻ tăng cường khả năng tìm các thuộc tính điển hình của một đối tượng.

Dụng cụ:

Giáo viên đặt tên cho ba hoặc bốn đối tượng với những đặc điểm khác thường và yêu cầu trẻ sắp xếp lại các đặc điểm này cho đúng.

Ví dụ: hổ vót nhọn, bút chì vằn, kệ mờ, kính treo.

Trò chơi & Bài tập sáng tạo

Hoạt động: (dành cho trẻ 4 – 5 tuổi rưỡi)

Bật mí bí mật

Mục đích:

Dạy trẻ xây dựng giả thuyết liên quan đến các đối tượng có đặc điểm khác thường.

Dụng cụ:

Giáo viên gợi ý một sự tổ hợp từ gồm: một đối tượng và một đặc điểm khác thường. Sau đó, giáo viên yêu cầu trẻ đoán và đề xuất (để xây dựng một giả thuyết) xem đặc điểm bất thường đó lấy từ đối tượng nào.

Ví dụ: cuốn sách lông thú – đặc điểm của “lông thú” có thể được lấy từ một con gấu, một con chó, v.v.
Trò chơi được khuyến khích cho trẻ từ bốn tuổi dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Từ năm tuổi rưỡi, trẻ có thể làm quản trò: xây dựng các tổ hợp từ cho các bạn khác giải thích.


Người dịch chính: Nguyễn Quang Thắng

Kiểm tra bản dịch Anh – Việt

Back to Top