TRIZ in the world

(Đọc thêm bài: TRIZ history)

Lịch sử phát triển TRIZ ra phương Tây từ năm 1991 đến 2016 và tình hình của ngành này được Valeri Souchkov tóm tắt trong bài:

http://www.xtriz.com/publications/ValeriSouchkov-TRIZ-in-the-World.htm

Ở đây tôi ghi chú lại một số thông tin và bài học từ bài viết của Souchkov.

Quá trình phổ biến TRIZ ra khỏi Liên Xô:

+ Khi Liên Xô tan rã và tình hình kinh tế khó khăn, các chuyên gia TRIZ bắt đầu ra nước ngoài, với những nhóm lớn là:

  • Nikolai Khomenko khi trước là lãnh đạo của nhóm TRIZ ở Minsk, hợp tác với công ty Invention Machine Lab viết phần mềm Invention Machine, năm 1993 công ty này chuyển trụ sở sang Mỹ thành Invention Machine Corporation, phổ biến TRIZ qua phần mềm đó. Sau này Invention Machine phát triển và đổi tên thành TechOptimizer -> CoBrain -> Goldfire Innovator. Từ 2012 công ty tư vấn lớn của Mỹ là IHS Markit mua lại và tích hợp Goldfire vào bộ giải pháp của họ dành cho các doanh nghiệp lớn.
  • Simon Litvin là lãnh đạo của nhóm TRIZ ở Saint Petersburg, cũng tham gia vào Invention Machine Corp, phụ trách bộ phận tư vấn cho doanh nghiệp áp dụng TRIZ. Sau này Simon Litvin tham gia vào GEN3 là công ty có tiếng về tư vấn TRIZ. Simon Litvin (và GEN3) vẫn phát triển được thêm lý thuyết TRIZ trong quá trình làm dịch vụ, có công cụ được dùng nhiều trong “modern TRIZ”: Function-Oriented Search (FOS), Main Parameters of Value Discovery.
  • Boris Zlotin và Alla Zusman trước là lãnh đạo nhóm TRIZ ở Kishinev, sang Mỹ mở công ty Ideation International từ 1992, cũng làm phần mềm và dịch vụ tư vấn TRIZ. Họ phát triển lý thuyết Ideation/TRIZ (viết tắt là I-TRIZ), làm ra các phần mềm Innovation Workbench (IWB), Directed Evolution (DE), Anticipatory Failure Determination (AFD) có nhiều tiếng tăm. (bây giờ chỉ dùng thử các phần mềm đó vài ngày cũng đã phải trả tiền, không cho trial miễn phí nữa)
Image from xTRIZ

+ Lúc đầu người ta nghĩ rằng nhu cầu ở Mỹ để đổi mới sáng tạo là rất cao, nên nhiều chuyên gia từ Liên Xô sang Mỹ sau khi Liên Xô tan rã; sau này họ thấy thị trường không hẳn là lớn, do động lực sáng tạo ở các công ty và người đi làm không phải lúc nào cũng có. Trong các hoạt động truyền bá TRIZ ban đầu ở Mỹ thì việc làm phần mềm bán là được tiếp nhận thuận lợi hơn cả (so với đào tạo, tư vấn).

+ Phần mềm lúc đầu cũng khó thâm nhập vào các công ty, do đặc tính tổ chức sản xuất chặt chẽ ở Âu Mỹ nên thời gian dành cho việc đào tạo nhân viên không nhiều, mà muốn áp dụng được TRIZ thì cần phải đào tạo khá nhiều, chỉ hai ngày dạy sử dụng phần mềm thì chưa đủ nền tảng hiểu biết về TRIZ để dùng tốt.

+ Sau này một số công ty lớn tiến hành đào tạo TRIZ cho đại bộ phận nhân viên, thì TRIZ mới được quan tâm rộng rãi. Lĩnh vực tạo cú hích lớn nhất và đến nay vẫn giúp TRIZ được phát huy tốt nhất ở các nước Âu Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc là lĩnh vực quản lý chất lượng, ở đó TRIZ kết hợp với 6-Sigma và cách tổ chức sản xuất tinh gọn Lean. Lý do chính là vì TRIZ giúp tìm ra các giải pháp đơn giản (và hiệu quả) để có thể triển khai trong thời gian ngắn.

+ Sau giai đoạn TRIZ bắt đầu được chấp nhận thông qua việc cung cấp phần mềm cho các công ty thì Valeri Souchkov sang Hà Lan để mở rộng thị trường (hầu hết chuyên gia TRIZ từ Liên Xô đầu tiên sang Mỹ, ít người sang Tây Âu) và bắt đầu tạo mạng lưới nghiên cứu giảng dạy TRIZ trong các trường đại học ở châu Âu. Hiệp hội TRIZ châu Âu (ETRIA) là do Souchkov đồng sáng lập, hàng năm họ tổ chức hội nghị TRIZ Future là hội nghị lớn, bên cạnh TRIZfest của tổ chức TRIZ quốc tế (MATRIZ), và TRIZCON của Altshuller Institute ở Mỹ.

+ Năm 2009 các nước Mỹ La Tinh bắt đầu quan tâm TRIZ: Brazil, Chile, Colombia. Ở vùng Trung Đông có: Jordan, Saudi Arabia, Iran. (Israel không tính vì có nhiều người gốc Do Thái ở Liên Xô di cư sang từ trước, có nhiều đồng sự và học trò của Genrikh Altshuller nên họ biết TRIZ sớm.) Trường hợp của Jordan là lãnh đạo nhà nước tổ chức mời chuyên gia đến đào tạo.

+ TRIZ đến với Trung Quốc vào năm 2010, hơi muộn vì lý do khác biệt ngôn ngữ và đặc điểm không tôn trọng bản quyền ở Trung Quốc. Hiệp hội TRIZ Malaysia (MyTRIZ) tổ chức hội nghị TRIZ mỗi hai năm một lần, thu hút đến 800 người tham dự. Thái Lan cũng có hiệp hội TRIZ, bên cạnh Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.

(Nói thêm: đợt học tập TRIZ lớn đầu tiên ở Malaysia chắc là vào năm 1996 do thầy Phan Dũng sang dạy cho các quan chức bộ giáo dục và một số hiệu trưởng, xem thêm một số phản hồi ở trang web TSK, qua chuyến đi đó thầy Dũng nhận xét là Malaysia tiếp cận rất bài bản và ta có thể sẽ phải sang học lại họ. Singapore cũng tiếp thu TRIZ có bài bản, theo chiến lược của chính phủ Singapore lấy sáng tạo làm động lực cạnh tranh của nền kinh tế.)

Về việc phát triển TRIZ trong học thuật:

+ Tuy nhiên, do tiêu chuẩn về khoa học ở Tây Âu rất chặt chẽ, nên TRIZ vẫn còn chưa được xem là một ngành khoa học ở nhiều nước (Souchkov cũng lưu ý là ngành tâm lý học cũng chưa được xem là khoa học ở một số nước). Ví dụ về các định luật phát triển của TRIZ đã đưa ra, một định luật không (chưa) thể phát biểu một cách chặt chẽ là ở trong hoàn cảnh, điều kiện nào thì định luật ấy sẽ phát huy tác dụng (khác với các định luật toán lý hóa). Do vậy lúc đầu các nhà khoa học ở các trường đại học ở châu Âu tham gia vào với mong muốn rằng có thể xem TRIZ là một môn khoa học, thì về sau niềm tin ấy giảm dần khi họ hiểu hơn về TRIZ. Cho đến nay Souchkov vẫn chỉ thận trọng nói rằng TRIZ có tiềm năng trở thành một ngành khoa học.

+ Từ năm 1996, Ellen Domb lập ra TRIZ Journal ở Mỹ thì đó gần như là nguồn trao đổi thông tin duy nhất về TRIZ trong cộng đồng nói tiếng Anh. Tuy nhiên các bài viết ở TRIZ Journal có chất lượng trồi sụt, nó chưa phải là một dạng tạp chí khoa học có phản biện kiểu peer review, nhiều bài chỉ mang tính chất phân tích các case studies.

+ Gần đây dân học thuật ở Trung Quốc làm ra nhiều bài báo nhất, nhưng thường là chất lượng kém. Những bài báo khoa học từ các nước Đông Nam Á mấy năm gần đây có tăng lên, tuy nhiên họ ít phát triển về mặt lý thuyết, phương pháp luận của TRIZ, mà chủ yếu là kiểu bài viết ứng dụng TRIZ vào tự động hóa quy trình giải quyết vấn đề hoặc vào phương pháp thiết kế kỹ thuật nào đó.

Phát triển tiếp lý thuyết TRIZ:

+ Trong các tổ chức có phát triển TRIZ thêm sau này thì công ty GEN3 ở Mỹ (do Simon Litvin lãnh đạo) là vẫn phát triển thêm lý thuyết TRIZ theo tinh thần adaptation, tức là thích nghi với lĩnh vực ứng dụng mới. Nó khác với kiểu phát triển simplification, tức là tạo ra phiên bản đơn giản hơn cho TRIZ nhằm dễ giới thiệu đến với những người mới (kiểu như SIT, ASIT, USIT, CreaTRIZ), những kiểu đơn giản hóa này đã không tạo được thành công lớn, và khi đối mặt với những bài toán khó cần mức sáng tạo cao thì chúng ít có tác dụng (một số phương pháp đó đã bị biến mất dần).

+ Trong các tác giả đã viết, phổ biến, và nghiên cứu thêm về TRIZ sau này thì có Boris Zlotin và Alla Zusman viết quyển “Tools of classical TRIZ“, Dmitry Savransky viết “Engineering of creativity” là đáng xem. Quyển “Hand-on systematic innovation for Technology and Engineering” Darrel Mann ở Anh cũng đã tạo ra tác động lớn phổ biến TRIZ (Darrel Man có công ty Systematic Innovation ở Anh). Một số sách của thời trước 1991 được dịch ra tiếng Anh sớm là “The Innovation Algorithm” và “And Suddenly the Inventor Appeared” của Altshuller, và “TRIZ: The Right Solution at the Right Time” của Yuri Salamatov (tên dịch sát từ bản tiếng Nga là “How to Learn to Invent”). Bây giờ sách về TRIZ đã rất nhiều (năm 2012 có hơn 200 quyển với 40 thứ tiếng, bây giờ sách mới tiếng Hàn, Nhật, Trung, Ả Rập được xuất bản nhiều), tuy nhiên sách giáo khoa có chất lượng về TRIZ thì vẫn thiếu, một số chuyên gia đang được mời viết text book về TRIZ.

(Thông tin thêm: tháng 1/2019 tổ chức MATRIZ đã phát hành bản tài liệu sườn đào tạo TRIZ cấp 1 – cấp bắt đầu, tác giả là Simon Litvin và các cộng sự Sergei Ikovenko, Alex Lyubomirskiy, Kim Stevenson, được cho tải miễn phí ở: https://matriz.org/level-1-training-manual-is-published/. MATRIZ là tổ chức phi lợi nhuận và cố gắng giữ tinh thần của Altshuller là phổ biến rộng rãi tư duy sáng tạo có hệ thống cho mọi người, “mỗi người có quyền biết cách suy nghĩ sáng tạo”.)

Về việc đào tạo TRIZ:

+ Trước đây, do chưa có hệ thống đánh giá chất lượng và chứng nhận đào tạo, nên việc đào tạo còn diễn ra láo nháo, chất lượng lộn xộn (có những người làm chương trình dạy TRIZ khi chỉ mới đọc một hai quyển sách, chỉ có kinh nghiệm giải quyết một hai vấn đề). Từ sau khi tổ chức MATRIZ dưới sự lãnh đạo của Mark Barkan (chuyên gia người Nga di cư sang Mỹ) khoảng năm 2007 làm ra hệ thống chứng chỉ (certification) TRIZ, chất lượng đào tạo được chuẩn hóa tốt hơn. Gần đây MATRIZ cũng làm công tác điều hành hoạt động của TRIZ để có tính tổ chức hơn (đang cố gắng lập lại sự tổ chức như thời Genrikh Altshuller còn sống).

(Nhận xét thêm: có lẽ hoạt động TRIZ trên thế giới sẽ dần được sắp xếp theo hệ thống do MATRIZ lãnh đạo. Để hội nhập vào hoạt động chung thì Việt Nam cũng cần có hiệp hội TRIZ và đăng ký là hiệp hội thành viên của MATRIZ; người có uy tín lãnh đạo hiệp hội TRIZ Việt Nam hẳn chỉ có thể là Phan Dũng, do tuổi thầy Phan Dũng đã cao nên việc lập hiệp hội TRIZ Việt Nam cũng gặp áp lực về thời gian. Một điều kiện để trở thành tổ chức thành viên của MATRIZ là cần có đăng ký tư cách pháp nhân của một tổ chức phi lợi nhuận do nước sở tại công nhận, format của tổ chức đó được MATRIZ yêu cầu khá rõ, ví dụ làm đại hội bầu ban điều hành mỗi hai năm một lần: https://matriz.org/about-matriz/membership-requirements/).

+ Việc đào tạo TRIZ ở khu vực đào tạo chuyên nghiệp (cho các công ty) vẫn còn gặp khó khăn. Lý do chủ yếu là vì sự phức tạp của TRIZ mà quỹ thời gian đào tạo của các công ty bị hạn chế, các công ty mỗi năm chỉ dành 20-40h cho nhân viên bồi dưỡng thêm, mấy chục giờ này TRIZ cũng phải cạnh tranh với rất nhiều loại khóa học kỹ năng (ví dụ về kỹ năng thuyết trình, giao tiếp trong công việc…). Kiểu đào tạo ban ngày học lý thuyết, buổi tối làm thực hành như ở Liên Xô trước kia thì không áp dụng được ở Âu Mỹ. (bàn thêm: cách đó chắc vẫn áp dụng được ở Việt Nam?)

+ Rồi khi người học tiếp thu được TRIZ xong lại quay trở về làm việc ở môi trường cũ, mà không có sự tác động mà một cách chiến lược từ lãnh đạo cấp cao xuống, dẫn đến TRIZ không được sử dụng trong quy trình làm việc hàng ngày, thì dần dần nó cũng không phát huy được tác dụng, người ta trở lại làm việc theo kiểu cũ.

+ Việc đào tạo trong các doanh nghiệp lớn cần phải có những chương trình sâu rộng, do lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp nhận thấy nhu cầu phải đổi mới sáng tạo như là một công cụ cạnh tranh quan trọng để đầu tư làm một bộ giải pháp cẩn thận, thì mới dẫn đến khả năng bám rễ tư duy TRIZ lâu dài ở doanh nghiệp đó. (nói thêm: ví dụ triển khai để đạt chứng chỉ chất lượng ISO, doanh nghiệp thường cần thay đổi quy trình làm việc hàng ngày để đạt yêu cầu).

+ Ví dụ thành công nhất là Samsung: sau khi được tiếp cận với TRIZ, một số lãnh đạo của công ty này đã nhìn thấy TRIZ như là cơ hội để giúp họ đổi mới sáng tạo nhằm vượt qua các đối thủ Nhật Bản. Tư tưởng của họ là: nếu đi theo cách truyền thống giống như người đi trước thì sẽ không thể nào vượt được, do vậy các lãnh đạo của Samsung và kéo theo các công ty Hàn Quốc khác đã nhìn thấy TRIZ như một cơ hội làm khác. Họ quyết tâm đầu tư vào ở tầm rộng (đến 2016 có hơn 30 ngàn nhân viên của Samsung được đào tạo TRIZ, với chương trình học ít nhất là 1 tháng, hơn 60 đến tầm chuyên gia cao nhất thì trải qua 4 cấp huấn luyện và sử dụng TRIZ trong các dự án, tổng thời gian khoảng 5 tháng), và đã thành công trong cuộc chạy đua sáng tạo tìm sản phẩm mới, xem thêm bài ở Forbes: What Makes Samsung Such An Innovative Company?

Image from xTRIZ

+ Đối với công ty lớn nào không có tầm nhìn và quyết tâm từ lãnh đạo cấp cao như trường hợp của Samsung, thì lại không phải là nơi thuận lợi để áp dụng và phát triểnTRIZ. Lý do là vì họ có nguồn lực rất lớn nên những vấn đề nảy sinh hầu như họ đều có thể giải quyết được. Do vậy vai trò của TRIZ chỉ thực sự quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), do các SMEs thiếu nguồn lực nên cần phải tìm cách giải quyết vấn đề hiệu quả nhất, mà các vấn đề thì vẫn thường xuyên nảy sinh.

+ Do thời gian để đào tạo đối với những người đã đi làm là hạn chế, nên một giải pháp mà Valeri Souchkov đã thử nghiệm và khá thành công là: trước tiên cho học viên tự học online về lý thuyết, các phương pháp của TRIZ, rồi sau đó xếp lịch linh động để trò chuyện online, một kèm một hoặc một thầy giáo kèm một nhóm nhỏ người học. Như vậy giáo viên có thể hỗ trợ học viên làm việc trên bài toán của cá nhân họ, hiệu quả tiếp thu cao hơn so với việc học cấp tập trong một khóa tập trung, nhiều trường hợp dẫn đến đăng ký patent mới. Đối với khóa học cấp tập thì thường là phải đi theo ví dụ đã được chuẩn bị kỹ càng từ phía giảng viên (nếu không tạo ấn tượng như thế thì khó thuyết phục công ty bỏ tiền ra đào tạo nhân viên), cho nên các ví dụ của học viên không được bàn nhiều.

+ Trong trường hợp dạy khóa dài thì một thử nghiệm của Valeri Souchkov làm ở đại học Twente, Hà Lan là mở khóa học hè 2 tuần liên tục, nhận cả sinh viên lẫn người đi làm. Những người đi làm thì mang những vấn đề thực tế từ công việc của họ đến, nên là ví dụ sinh động chưa có lời giải, sinh viên và người đi làm cùng giải, có trường hợp dẫn đến kết quả đăng ký được patent. Một thuận lợi cho khóa học ở trường đại học là có thể kéo dài đến 80 giờ hoặc hơn, chi phí ở trường học đã được đài thọ nên chỉ dạy sinh viên thôi cũng được, mở thêm cho người đi làm học là tốt mà không bị áp lực tài chính. Trong khóa học đó có đến 60% thời gian là Souchkov dành cho việc thực hành (làm việc nhóm trên vấn đề thực tế của người tham gia).

+ Áp dụng TRIZ vào kinh doanh và quản trị (một lĩnh vực mà Souchkov đánh giá là có thành công): việc phát triển TRIZ vào lĩnh vực này thường gặp vấn đề “copy mù quáng” TRIZ từ kỹ thuật, ví dụ chuyên gia TRIZ về kỹ thuật dùng các ví dụ trong kỹ thuật để dạy cho người làm kinh doanh (mà thường chỉ là dạy 40 nguyên lý sáng tạo), người học hiểu được ví dụ nhưng phải tự tìm cách diễn giải với nền hiểu biết của mình, ít khi chuyển được kiến thức đó sang lĩnh vực của họ, nên không phát huy tác dụng. Cộng đồng TRIZ cũng đang tìm cách thích nghi (adapt) TRIZ với các khái niệm, thuật ngữ về kinh doanh, viết lại các nguyên lý của TRIZ cho phù hợp, tạo ra thư viện các case studies trong kinh doanh và quản trị.

(Nhận xét thêm: OTSM-TRIZ được Khomenko phát triển thành lý thuyết tư duy cho trẻ em chắc cũng cần diễn dịch với ngôn ngữ và nền tảng hiểu biết của đối tượng mới, ở lĩnh vực kinh doanh và quản trị thì chắc là nền kiến thức rộng hơn nhiều nên việc liên hệ với tri thức đó và diễn đạt lại cần nhiều công sức hơn.)

+ Áp dụng TRIZ vào sư phạm: Tây Âu có sự quan tâm lớn, nhưng còn quá thiếu chuyên gia có năng lực về TRIZ tham gia lĩnh vực này. Mặt khác muốn có sự thay đổi trong hệ thống sư phạm thì cần sự đầu tư từ nhà nước, mà nhà nước lại muốn thấy kết quả thử nghiệm trước rồi mới quyết định đầu tư, thành một vòng luẩn quẩn. (thông tin thêm: EU từng tài trợ một dự án tạo ra tài liệu và thử nghiệm dạy TRIZ trong trường học, là dự án TETRIS)

Một số vấn đề chính của TRIZ (như một ngành, một cộng đồng) trên thế giới hiện nay:

+ Ngày càng có ít người trẻ có động lực làm việc trong lĩnh vực cần sáng chế, ít người trẻ tham gia nghiên cứu TRIZ (khảo sát của Souchkov, năm 2016 giảm còn 6% số sinh viên được hỏi).

(Nhận xét thêm: thiếu động lực cũng là một vấn đề, tuy nhiên khi người ta không có ý thức tự xác định vấn đề thì TRIZ cũng không giải quyết được. Tôi nghĩ sẽ cần bổ trợ các phương pháp suy nghĩ tỉnh thức (mindfulness) để giúp người ta tự nhận thức vấn đề. Chuyện này có lẽ cần bàn thêm ở một bài khác.)

+ Ngay cả khi dùng TRIZ để tạo ra những sáng chế kỹ thuật mới, thì việc thương mại hóa cũng còn gặp nhiều khó khăn khác, do các yếu tố thị trường, kinh doanh… Souchkov có gợi ý là công ty làm tư vấn TRIZ không chỉ tư vấn ở việc đào tạo hay giải quyết để ra ý tưởng, mà còn cung cấp dịch vụ tư vấn cho toàn bộ quá trình thực thi ý tưởng đó để đưa được sản phẩm mới ra thị trường.

+ Theo kinh nghiệm 20 năm dạy TRIZ của Souchkov, thường thì những người có động lực học TRIZ để giải quyết vấn đề sáng chế, họ nhắm tới nhu cầu cao nhất của tháp Maslow (được công nhận). Họ có đặc điểm là muốn biết quá nhiều tri thức khác nhau, nên lại làm giảm thời gian đầu tư để có thể rèn luyện thuần thục các tri thức và kỹ năng TRIZ. (cần có sự tập trung!)

+ Tác dụng của TRIZ cần được truyền đạt rõ hơn: TRIZ không phải là công cụ duy nhất giúp giải quyết các vấn đề khó, mà lợi ích chính là ở khả năng rút ngắn thời gian tìm ra giải pháp cho những vấn đề phức tạp, và giúp dự báo khá chính xác sự phát triển trong tương lai của hệ thống. (dự án FORMAT được EU tài trợ là dùng TRIZ để dự báo sự phát triển của các phương pháp sản xuất)

+ TRIZ thường được xem là công cụ để giải quyết vấn đề có mức sáng tạo cao, tạo ra ý tưởng đột phá. Tuy vậy có lẽ để bán các gói tư vấn, đào tạo TRIZ thì thị trường chính là ở những vấn đề cần mức sáng tạo thấp. TRIZ vẫn có tác dụng tốt với những sáng chế mang tính “cải tiến từng chút” (incremental), nó giúp giảm thời gian tìm kiếm ý tưởng phù hợp và triển khai giải pháp.

+ Nhiều khi TRIZ được quảng cáo là “TRIZ giúp giải quyết vấn đề”, tuy nhiên dễ làm người ta hiểu nhầm TRIZ như một công cụ (như một cái búa) mà mình làm theo giải thuật của nó thì sẽ giải quyết được vấn đề. Không, phải làm rõ là con người vẫn phải suy nghĩ để giải quyết vấn đề, TRIZ chỉ có tác động lên quá trình suy nghĩ để có định hướng và hạn chế các trở ngại (như tính ì tâm lý) mà thôi.

+ TRIZ vẫn cần được đơn giản hóa khi giới thiệu cho người mới bắt đầu, tuy nhiên người học cần biết rằng đó mới chỉ là một phiên bản thu gọn, để không cảm nhận về (bộ công cụ) TRIZ chỉ qua những đánh giá đối với bản thu gọn đó (thầy bói xem voi).

+ Thiếu cách triển khai TRIZ hiệu quả và quy trình kinh doanh có sẵn, ví dụ cần có những quy trình với đầu vào, đầu ra cụ thể, vừa để hướng dẫn mà vừa thuận lợi để đánh giá hiệu quả tài chính mà TRIZ mang lại. (nhận xét thêm: có thể là kết hợp cách thực thi chặt chẽ như trong quyển “4 nguyên tắc thực thi” thì sẽ cải thiện điểm yếu này của TRIZ)

+ TRIZ thiếu công cụ để phân tích. Trong TRIZ cổ điển (classical TRIZ), chỉ có mỗi công cụ Function Analysis. Tuy nhiên các kỹ thuật xác định vấn đề, chia nhỏ vấn đề, phân tích cấu trúc vấn đề là những khâu quan trọng cần công cụ. TRIZ hiện đại có bổ sung nhiều phương pháp và công cụ như vậy. Souchkov ví dụ là chương trình huấn luyện TRIZ của ông ấy dùng 50% chất liệu từ TRIZ cổ điển, 50% từ những thứ mới được phát triển khoảng 15 năm gần đây.

+ TRIZ vẫn phức tạp, nhưng để truyền đạt TRIZ thành công thì sự đơn giản hóa không cần lắm, mà là cần cách thức tiếp cận từ từ, tiếp thu từng bậc kiến thức. Hiện nay các chương trình giảng dạy TRIZ cũng được tổ chức theo từng bậc kiến thức, đạt được tiêu chí này.

(Nhận xét thêm: theo lý thuyết sư phạm, thì việc truyền đạt phải tiến hành từng nấc, theo kiểu xoắn ốc, giống như trẻ em học Toán thì mỗi năm lại học thêm cái khó hơn, giới chuyên gia TRIZ ban đầu phổ biến nó ra thế giới chắc chưa có sự hỗ trợ của các chương trình đào tạo từ trường đại học nên thiếu một kết cấu chương trình như vậy. Tuy nhiên MATRIZ có vẻ đang làm tốt khi đưa ra chuẩn kiến thức cho mỗi cấp bậc. Để triển khai ở Việt Nam, cũng cần lưu ý việc dạy các kiến thức TRIZ từ đơn giản đến phức tạp dần trong các năm học phổ thông. Một số giải pháp tiết kiệm tài nguyên là đưa tài liệu lên mạng để học online theo từng cấp lớp, viết các bài báo vui trên tạp chí cho trẻ em, vẽ truyện tranh. Lập một trung tâm để huấn luyện giáo viên kỹ năng tổ chức các buổi dạy thực hành tư duy sáng tạo có hệ thống, theo từng cấp lớp. Kỹ năng tư duy này cần được nhìn nhận là đủ khó để không học nhanh được như kiểu “vẽ bản đồ tư duy – mindmap”, mà cần bồi dưỡng qua nhiều năm, như kiểu học các tư duy logic và các công cụ của Toán, Lý…)

+ Việc sử dụng các công cụ về tâm lý, kỹ năng tưởng tượng của TRIZ còn thiếu cấu trúc. Điều này dẫn đến người học áp dụng công cụ của TRIZ một cách máy móc, mà không vận dụng suy nghĩ và trí tưởng tượng khi giải quyết vấn đề.

(Nhận xét thêm: luận văn tốt nghiệp đại học TRIZ của thầy Phan Dũng trước đây về tính ì tâm lý và mở rộng ra tính ì của hệ thống, rồi sau này thầy Phan Dũng mở rộng TRIZ cũng kết hợp điểm mạnh của những phương pháp tâm lý sáng tạo khác. Có lẽ đây là điểm mạnh của TRIZ mở rộng ở Việt Nam, so với cộng đồng TRIZ thế giới nặng về tính kỹ thuật.)

+ Tài liệu về TRIZ còn hạn chế về chất lượng: không nhiều sách giáo khoa có chất lượng, bài báo khoa học thì nhiều khi không phải dân hàn lâm viết nên chưa đạt chuẩn khoa học và thiếu đào sâu để chứng tỏ tính mới (ví dụ làm thống kê so sánh, kiểm chứng phương pháp). (kết luận rút ra: chỉ nên đọc tác giả có uy tín cho đỡ mất thời gian, Việt Nam có may mắn là thầy Phan Dũng đã viết ra bộ tài liệu “Sáng tạo và đổi mới” có khá đầy đủ công cụ của TRIZ cổ điển và mở rộng cho mọi lĩnh vực.)

Leave a Reply