Kỉ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Nguyên Hồng (5.11.1918 – 2.5.1982).

Một trong số những nhà văn nổi tiếng của Làng Văn chương Việt giai đoạn Tiền chiến (1930 – 1945) là Nguyên Hồng. Theo Wikipedia: Ông tên thật – Nguyễn Nguyên Hồng, sinh trong một gia đình nghèo, ở Nam Định, mồ côi cha từ nhỏ, theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống, ở trong xóm thợ nghèo Lạc Viên. Hồi kí Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết Bỉ vỏ ra đời ngay ở đây mà trước nhà khi mưa xuống đầy những vũng bùn lầy lội… Xuân Sách vẽ chân dung ông, xếp thứ 2 – sau Nguyễn Đình Thi, trong cuốn Chân Dung Nhà Văn:

Bỉ Vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng Gầm sông lấp mấy ai hay
Cơn Bão đến động rừng Yên Thế
Con Hổ già uống rượu giả vờ say.

Trong khổ thơ chân dung có những từ: Bỉ Vỏ, Sóng Gầm, Cơn bão đã đến, Nuí rừng Yên Thế – là tựa đề của 4 cuốn Tiểu thuyết, Con hổ là tên một truyện ngắn. Đây là một trong nhiều tác phẩm của NGUYÊN HỒNG – người được dư luận đương thời mệnh danh là nhà Văn ra đời từ ‘’bùn lầy nước đọng’’.

Ông tham gia Cách mạng từ năm 1935…

Cách mạng tháng 8/1945 nổ ra, cũng như nhiều Văn Nghệ Sỹ đương thời, Nguyên Hồng tham gia hăng hái. Toàn quốc kháng chiến, ông lên chiến khu chống Pháp. Hòa bình lập lại (1954), trở về Hà Nội, được cấp trên phân công cùng Nguyễn Công Hoan lãnh đạo tuần báo Văn của hội nhà Văn Việt Nam.

Lẽ ra, nhiệm vụ của ông là phải dùng diễn đàn của báo Văn ’’vạch mặt’’, phê phán nhóm Nhân Văn Giai Phẩm… Nguyên Hồng đã không hoàn thành nhiệm vụ, trái lại có phần nương nhẹ, nể nang, thậm chí có lúc còn ’’phụ hoạ’’ theo đối tượng. Báo Văn phải đình bản. Nguyên Hồng bị Kiểm điểm vì quan điểm mơ hồ trước cuộc ’’đấu tranh giai cấp’’ đang diễn ra gay gắt ’’một mất, một còn’’. Phần khác, cùng lúc ông lại viết một truyện ngắn cho đăng trên báo Văn mà nội dung cũng ‘’mơ hồ’’ trước kẻ thù, biểu tượng là con Hổ.

Thực ra – theo Tô Hoài – Truyện này Nguyên Hồng viết theo lời kể của cụ bà – mẹ mình. Chuyện chỉ mang đậm tinh nhân văn chứ không hàm ý gì khác, hoặc hai mặt. Có thể tóm tắt: ”Một phường săn bắt được chú Hổ vài tháng tuổi ở trong rừng, đem về nuôi. Do còn bé, Hổ con được nuôi như nuôi chó, lớn lên hiền như… chó thật. Hàng ngày nó sống hòa bình với gia súc dưới sự chăm sóc của con người. Nhưng vốn gốc dòng Hổ, mọi người biết nó rất hiền nhưng nhìn vẫn… sợ không dám gần. Người chủ đành đưa Hổ thả về rừng. Ít lâu sau nó nhớ… người – lại quay trở về… rồi lại bị xua đuổi…”.

Nội dung chỉ có vậy.

Truyện đăng tải vào lúc xã hội miền Bắc đang có những biến động lớn: Cải cách ruộng đất có sai, Đảng phải tiến hành sửa sai. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đang ’’khuấy động dư luận’’ – đòi tự do trong sáng tác… Đối tượng đầu tiên cần tẩy não (chỉnh huấn) là Văn – Nghệ – Sĩ. Không tìm ra được nhưng điều đích thực cần tẩy não, đám người cơ hội vớ ngay được truyện ngăn viết về con hổ và sai sót khi lãnh đạo báo Văn, đám cơ hội lấy Nguyên Hồng làm ’’vật tế thần’’. Không khí của những buổi họp kiểm điểm Nguyên Hồng thật nặng nề, được Tô Hoài nhớ lại, viết in trong tập hồi kí Cát Bụi Chân Ai:

”…Tôi ngồi cạnh Nguyên Hồng.

Kiểm điểm Nguyên Hồng một buổi vẫn chưa xong. Một chồng báo Văn, (để bên cạnh) như mọi hôm. Cả tổ với nhiều tổ khác tới’’viện trợ’’ cũng không hỏi thêm Nguyên Hồng một câu nào nữa. Bây giờ mà động đến, lại phân tích, lại bổ xung, lại ”tôi xin góp…” – thì chắc lại như hôm qua, kôm kia, trông trước kia kià: Nguyên Hồng xoè bàn tay (úp) trên chồng báo vuốt vuốt, mếu máo nói, nước mắt như trút… Tôi thức đêm thức hôm… tôi bỏ hết sáng tác, ngày đêm tôi chỉ nghĩ đến tờ báo… bài này đề tài công nhân… bài về kháng chiến… bài về thống nhất… bài về sửa sai Cải cách ruộng đất… tôi không… tôi không… rồi chẳng mấy lúc Nguyên Hồng khóc hu hu... (CBCA trang 119)

Nguyên Hồng khóc tức tưởi, khóc oà trong những buổi đấu tố triền miên đó. Ông tìm người này, người kia kiện cáo, thanh minh kể cả tìm tới ông Nguyễn Lương Bằng (được thời đó mệnh danh là Bao Công của Việt Nam). Kết quả vẫn chẳng đi đến đâu…

‘’… Khi (Tô Hoài) đưa cho Nguyên Hồng bài báo – Tô Hoài viết đăng trên báo Nhân dân (…). Đọc xong , Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi xua tay, nói như hét vào mặt tôi (Tô Hoài): Tiên sư thằng Câu Tiễn (1)! Ông thì không. Nguyên Hồng thì không!

Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi rồi cứ phủ phục thế, thút thít. Chị ấy bỏ chảo nem rán, chạy đến: Thầy nó làm sao? Lại làm sao thế?

Tôi đỡ Nguyên Hồng lên. Bà cụ có lẽ nặng tai, vẫn ngồi rờ rẫm khâu ríu chỗ rách. Dưới sân, trẻ con đùa cười như nắc nẻ, lại cành cạch tiếng giã cua… như không có gì mới xẩy ra.

Chúng tôi ngồi trở lại, yên lặng như từ nẫy vẫn thế. Nguyên Hồng nói khẽ: Tao tính cả rồi. Trông đây này – Gian phòng vẫn bề bộn màn mùng như mọi khi… tôi gật gù, nhưng thật cũng chưa hiểu ra như thế nào.

– Tao về Nhã Nam.

– Về Nhã Nam? 

– Ừ, Nhã Nam. Đủ lắm rồi. Ông đ… chơi với chúng mày nữa…” (CBCA trang 129).
Dường như không thể chịu đựng hơn, Nguyên Hồng xin về hưu ở tuổi 50 – một hiện tượng độc đáo trong giới cầm bút miền Bắc từ trước đến lúc đó (kể cả cho tới nay). Cũng có thể xem là có một không hai đối với hàng ngũ cán bộ đi theo Kháng chiên chống Pháp ở những năm sáu mươi của thế kỷ 20. Ông trở lại Nhã Nam, nơi hồi kháng chiến chống Pháp cơ quan văn Nghệ sơ tán – dựng nhà cùng vợ con sinh sống.
Trong Chân Dung Nhà Văn, Xuân Sách đã nhắc đến Con Hổ ‘’gìa’’ – bố của Hổ ‘’con’’ mà ông lấy làm vật hình tượng – tải đi tư tưởng trong truyện ngắn kia. Hổ ‘’con’’ của Nguyên Hồng do Người nuôi lớn lên, được sống chan hòa với những con vật khác. Nhưng vì là… Hổ (dữ), nên không được loài Người chấp nhận bởi bản tính hoang dã, hung hãn ngoại trừ chỉ’’không ăn thịt con’’…mình. Vì đã thuần hóa‘’Cậu’’ bị xua đuổi vào rừng… nhưng đã quen cuộc sống với Người, ’’Cậu’’ ta không chịu được môi trường sống của đồng loại hoang dã, lại lộn trở về (với người) Nhưng lại vẫn bị Người xua đi vì chỉ đơn giản cậu gốc gác là…Hổ!

Khác với Hổ con của Nguyên Hồng, chúng liên tưởng tới Hổ ‘’thanh niên‘’ – của Thế Lữ – bị bắt nhốt làm cảnh trong vườn bách thú, ”buồn vì bức bối rồi lặng lẽ trút tàn hơi’’. Trước lúc chết ’’chàng’’ còn gầm lên: ”Hỡi rừng xanh kiêu hãnh của ta ơi”!

Còn ông bố chúng nó – ‘’Hổ già’’ thì… khóc òa, khóc tức tưởi, vùi mình trong những cơn say sưa thực và cả ”giả vờ say” – để quên hết nỗi buồn rồi quyết định đi… ở ẩn. Cuộc hưu non, về “Rừng ở ẩn” thực chất là trốn chạy, làm chúng ta nhớ tới chuyện Giới Tử Thôi thời Đông chu liệt quốc bên Trung Hoa cách đây hơn 2000 năm. Câu chuyện có thể tóm tắt: Giới Tử Thôi là trung thần nhà Tấn, theo hoàng tử Trùng Nhĩ tòng vong (đi trốn, lánh nạn cùng chủ). Khi Trùng Nhĩ đói, Giới Tử Thôi đã cắt thịt đùi mình cho chủ ăn. Lúc trở về lên ngôi vua Tấn Văn Công – Trùng Nhĩ ban thưởng cho mọi người nhưng lại quên ân nhân số một. Có người biết chuyện trách, Tấn Văn Công hối hận cho người đi tìm… Buồn, chán cho thế sự tình người GTT cõng mẹ gìa đi vào rừng sâu ở ẩn… Trùng Nhĩ thân chinh đến cửa rừng gọi, sai quân lính đi tìm, Giới Tử Thôi nhất quyết không ra. Một công thần mách: Đại vương cứ cho đốt rừng, Giới Tử Thôi rất có hiếu với mẹ, sợ mẹ nguy hiểm nhất định sẽ trở ra.

Tấn Văn Công làm theo…

Giới Tử Thôi thực sự lo cho mẹ, quyết định cõng mẹ trở ra nhằm cưu mẹ. Mẹ thương con không chịu để con chịu nhục quyết định cùng chịu chết cháy chứ không về theo lời kêu gọi của Tấn Văn Công (Đông Chu Liệt Quốc, Hồi 36.(2)! ’’Công thần Nguyên Hồng’’ có lẽ cũng nghĩ và hành động như tiền nhân chăng?

Nguyên Hồng có một đặc điểm: Hay xúc động, dễ khóc! Sau này, nhiều người từng quen biết ông, kể lại những tình huống ông… khóc! Mỗi khi đối tượng mà ông quen biết, nghe kể… gặp những trắc trở, ông khóc thay cho họ. Từ khi lùi về ẩn dật ở Nhã Nam – Yên Thế, tâm tính Nguyên Hồng như biến đổi…

Vũ Thư Hiên kể lại trong Hồi ký “Đêm giữa ban ngày”: Một lần gặp Nguyên Hồng trên đường phố Hà Nội, ông định tới bắt tay – chào tác giả Bỉ Vỏ. Đột nhiên khi nhìn thấy bạn văn, Nguyên Hồng làm một động tác kỳ lạ: Lùi lại, tạt vào vệ cỏ bên đường, chắp hai tay trước ngực, vái… vái – như động tác của các nhà quân tử xưa, kính trọng nhau khi gặp mặt. Thay cho câu nói, tiếng chào đáp lại thịnh tình của họ Vũ , Nguyên Hồng chỉ làm động tác đáp lễ từ xa rồi vội vã bỏ đi. Có lẽ ông sợ liên lụy khi gặp nhà văn ’’xét lại hiện đại’’…

Từ 1946 – đến khi qua đời 1985 – 40 năm, Nguyên Hồng viết nhiều, điển hình là bộ tiểu thuyết Sóng Gầm, bộ trường thiên tiểu thuyết Cửa Biển, và rất nhiều tác phẩm khác. Nhưng các tác phẩm này không được độc giả yêu thích bằng Bỉ Vỏ và Những ngày thơ ấu – xuất bản trước 1945. Trong đó các nhân vật khắc ghi dấu ấn của thời đại. Người đờ nhớ mãi câu cửa miệng của đám Anh chị trong Bỉ Vỏ:

Anh đây công tử không Vòm 
Ngày mai Kẹn rệp biết Mòm vào đâu.

Các từ: Vòm (nhà), Kẹn rệp (túng thiếu, đói), Mòm (ăn) – được nhân vật Bỉ Vỏ nói, từ hơn 70 năm trước – bây giờ giới trẻ ’’bặm trợn’’ – vẫn hay dùng…

10.5.2012

Lê Xuân Quang

——————————————-

(1) – Câu Tiễn là vua nước Việt, thua trận, bi vua nước Ngô là Phù Sai bắt đem về nước Ngô – cầm tù. Vì quyết tâm trả mối thù… Câu Tiễn nghe theo lời quân sư Phạm Lãi… chịu nín nhịn, chờ thời. Trong đó phải kể tới chi tiết: Để lấy lòng Phù Sai, theo bố trí của quân sư Phạm Lãi, Câu Tiễn đã ‘’nếm phân’’ của Phù Sai, nhằm chứng minh rằng mình đã hết lòng với vua Ngô, không có ý làm phản… Phù Sai mất cảnh giác không nghe lời can gián của quân sư Ngũ Tử Tư – tha chết cho vợ chồng Câu Tiễn. Nhờ đó Câu Tiễn đã trở về nước phục vị lặng lẽ chuẩn bị lực lượng rồi khi đủ sức, mang quân tiêu diệt Phù Sai, chiếm lại nước Ngô…
(2). Mặc dù đã hàng nghìn năm, dân TQ vẫn ghi nhận sự tích này trong đời thường: Để kỉ niệm ngày GTT chết cháy, hàng năm, vào ngày đó người ta có tục kiêng lửa gọi tết Hàn Thực (ăn đồ lạnh) không nấu nướng.

Source: Nguyên Hồng: “Uống rượu giả vờ say”

Nguyên Hồng: “Uống rượu giả vờ say”
Tagged on:
%d bloggers like this: