TUYỂN TẬP THƠ
của
NGUYỄN DUY

“Cứ chìm nổi với đám đông / riêng ta xác định ta không là gì (…) Cứ là rượu của chúng sinh / cho ai nhắm nháp cho mình say sưa”…
— Nguyễn Duy,1993
Dù có sao/ vẫn Tổ quốc trong lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần/ còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy thì ta tồn tại.
— Nguyễn Duy, 1980 – 1982
Thôi, trong khi đợi anh được phong là thi sĩ nhân dân, tôi cứ gọi Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân.
— Chu Văn Sơn, nhà phê bình văn học

Ảnh Nguyễn Duy trong một sự kiện năm 2025. Nguồn ảnh không rõ, nhiều nơi đăng lại mà không nói nguồn gốc
Lời nói đầu
Tôi nhận được Tuyển tập thơ được nhà thơ Nguyễn Duy tặng. Rất ấn tượng. Rất đáng yêu. Thơ anh là cả một đại dương, mênh mông và sâu thẳm. Thơ trữ tình, thơ tình cảm, thơ yêu, thơ nhận thức ….đều có, với hầu như tất cả các cung bậc. Phải có tình yêu mãnh liệt lắm đối với tổ quốc và con người, trí tuệ phải sắc bén lắm để phân tích, để thấy chất thơ, hài hòa cũng như nghịch lý của đất nước, thi sĩ mới bật ra được những vần thơ rất đáng yêu. Chỗ nào anh để mắt tới, chỗ đó biến thành thơ, như nhân vật Medusa trong Thần thoại Hy lạp. Anh sống như thơ, từ phòng khách được anh trang trí, đến các món ăn được bày biện, nơi đâu cũng thấy hồn thơ của anh hiện hữu. Anh được nuôi dưỡng bởi những chất liệu mộc mạc của quê hương mà lại cho ra được những bông hoa hiện đại thơm ngát, chất lượng cao. Không, chúng ta không phải thuần là cát bụi và bóng tối như nhà thơ Horace nói hơn hai nghìn năm trước. Chúng ta là cát bụi nhưng biết làm thơ, ca hát, và bóng tối không phải đen ngòm mà là không gian lấp lánh như trời đêm đầy sao với những dòng năng lượng cuốn xoáy của Van Gogh. Ai muốn đem ánh sáng cho nhân sinh, người đó đã phải trải qua sống trong những giai đoạn bóng tối, như một nhà thơ Đức nói. Vâng anh đã từng trải sống qua bóng tối. Nhưng anh không bị tha hóa, mà ngược lại tỏa sáng với thơ.
Tôi rất yêu những vần thơ của anh, khi thì mộc mạc, khi thì hùng dũng réo gọi lương tâm, và thầm nghĩ vui, “Nguyễn Duy liền với Nguyễn Du một vần”. Thơ lục bát là sở trường của anh, cũng như những dạng thơ mới. Hãy nghe những lời tự bạch của Nguyễn Duy:
Thương Kiều tìm gặp Nguyễn Du
có gì đâu… một nấm mồ cỏ xanh
lẫn trong thập loại chúng sinh
người như thế mới tài tình làm sao
(Tảo mộ – 1971)
Nhiều bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Duy được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam bao gồm “Tre Việt Nam”, “Ánh trăng”, “Đò Lèn” và “Đánh thức tiềm lực”.
Tuy phần lớn thơ của Nguyễn Duy là thơ “thế sự”, nhưng ông còn để ý đến dòng thơ thiền. Trong một bài giới thiệu của anh Cao Huy Thần tập “Thơ thiền Lê-Nguyễn” mà Nguyễn Duy vừa xuất bản cùng với Nguyễn Bá Chung và Sam Hamill đăng trên Diễn đàn ngày 15/08/2019, người ta có thể đọc bài thơ sau đây của Hồ Xuân Hương làm trên núi Đông Sơn:
Ngộ đạo cao tăng huề tích khứ
Hiển thân cổ Phật đáo kim truyền
Đăng lâm độc bộ cao sơn thượng
Thừa hứng lâm lưu nguyệt mãn thuyền
được Nguyễn Duy dịch như sau:
Cao tăng cầm gậy viên thông
Hiện thân Phật tổ giữa lòng thế gian
Một mình dạo núi Đông Sơn
Trào dâng thi hứng, trăng tuôn đầy thuyền
Bà ấy cũng biết vượt khỏi thế giới trần tục lắm. Một bài thơ khác của Quốc sư Vạn Hạnh được Nguyễn Duy dịch sang lục bát như sau:
Thân như chớp có lại không
Cỏ cây xuân thắm rồi đông úa tàn
Sợ gì suy thịnh thế gian
Thịnh suy như cỏ bên đàng treo sương
Ông làm thơ thế sự, sống mặn nồng với thế sự, nhưng biết vượt lên thế sự để bước vào không gian tĩnh lặng của thiền, để trở về cái tâm, cái thiện là cõi vô vi tĩnh lặng như cõi sinh của vũ trụ ngay trong lòng mỗi con người, nơi con người tiếp giáp với vũ trụ. Tháng 5, 2025, Đại học Văn Lang có tổ chức Triển lãm thơ Thiền cổ điển Việt Nam với sự tham gia của Nguyễn Duy và nhiều nhân vật khác:

Nhà thơ Nguyễn Duy tại sự kiện triển lãm tại Đại học Văn Lang năm 2025
Tại buổi ra mắt ‘Thơ thiền Lê – Nguyễn’ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp sáng 28-8-2019, Nguyễn Duy, cho rằng, thơ thiền ở đây được hiểu là “thơ nói đến sự tĩnh tâm, thảnh thơi, thanh thản của con người, sống ôn hòa với cuộc đời, với thiên nhiên… tính thiền là như vậy” (Nghiêng được thêm vào). Và khi tuyển chọn, Nguyễn Duy cũng cho biết ông không đặt ra tiêu chuẩn cụ thể để chọn ai, bài nào, mà cốt yếu “bài nào mình thấy hay thì mình chọn”. (Báo Tuổi Trẻ) Vâng, thiền là hòa mình trong sự tĩnh lặng với cái tâm, với con người, và với thiên nhiên.

Ảnh của tập thơ thiền (L. Điền)
Có lẽ sau bao năm sống với chiến tranh, ông muốn tim lại sự cân bằng tâm hồn, ở cõi thiền, như một nơi xin tạm gọi “rehabilitation”, để quên đi những trải nghiệm ác liệt có thể vẫn còn đeo đuổi âm thầm ở những tầng sâu vô thức của con người. Theo thống kê, có tới khoảng 30% lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam khi trở về bị “hội chứng chiến tranh Việt Nam” (PTSD, Post-Traumatic Stress Disorder), và họ cần được điều trị về tâm lý, và liệu pháp này này thường bao gồm hành thiền (vipassana meditation) trong đó. Nhưng Nguyễn Duy đến thiền có lẽ trước nhất do nhu cầu tâm linh của anh muốn trở về cội nguồn. Thơ anh có thể đã là những giọt nước Cam Lồ có tác dụng làm mới anh mỗi lúc.
Đã có nhiều nhà phê bình bình thơ của Anh rất hay, như Đỗ Lai Thúy và Chu Văn Sơn, tôi không dám làm chuyện đó. Chỉ muốn đưa tin về Tuyển tập thơ như một sự kiện ra mắt mới đây, và đưa lên mạng rosetta để kỷ niệm một sự kiện đáng nhớ trong đời sống văn hóa của cộng đồng. Nhưng trước nhất xin có
Vài dòng về tác giả:
Nguyễn Duy (tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ; sinh năm 1948). Anh làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1973, đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, “Giọt nước mắt và nụ cười“, Tre Việt Nam trong tập Cát trắng. Ngoài thơ, anh cũng viết tiểu thuyết, bút ký. Nguyễn Duy đã in 13 tập thơ, 3 tập bút ký, 1 tiểu thuyết. Trong những năm 1960 anh từng tham gia chiến đấu tại khu vực cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt với không quân Mỹ. Năm 1966, anh trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin và đã có mặt tại nhiều nơi trên chiến trường. Trong giai đoạn này, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ của thời chiến. Năm 1976, giải ngũ, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, ông là đại diện thường trú của tuần báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam. Năm 1979, khi Trung Quốc nổ súng xâm lược nước ta, ông lập tức có mặt tại biên giới phía Bắc.
Năm 1997, ông giành giải Mai Vàng cho tuyển tập thơ Bụi. Năm 2007, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với các tập thơ: Cát trắng, Ánh trăng, Mẹ và em.
Xin nồng nhiệt giới thiệu anh chị.
Nguyễn Xuân Xanh

Tuyển tập thơ Nguyễn Duy. Ấn bản mới 2026. 424 trang. Cty Nhã Nam phát hành. NXB Hội nhà văn.
![]()
Cái thế giới mà Nguyễn Duy dựng lên suốt cả nghiệp thơ của mình, hoàn toàn có thể coi là cõi chúng sinh thì hiện tại: binh lửa và bụi bặm, bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa… mà đâu đâu cũng là mồ hôi và nước mắt. Có ngẫu nhiên đâu, khi ở đó, nhân loại nhân vật của thi sĩ này hầu hết là thảo dân! Họ là thập loại chúng sinh thì hiện tại. Trong đó, ta cũng thấy bóng dáng những ông vua. Nhưng hoặc là ông vua vì chúng sinh mà phải gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người (vua Duy Tân), hoặc là đã trải hết nỗi đời một thảo dân, trăm sự đều vì đời sống lương dân (Pie đại đế), chứ không phải loại vua coi dân là lương thảo. Còn thì tất cả thuần là thứ dân. (Chu Văn Sơn)
Cái bình thường trong cái bình thường của thơ Duy có thể đứng được là nhờ nó có giá trị tự thân, và giá tự thân ấy là ở triết lý dân gian, mà dân gian ở Việt Nam đồng nghĩa với dân tộc, nhân loại. Triết lý dân gian không vón cục mà tan vào đời sống như không khí. Và, cũng như không khí, nó quen thuộc đến mức không ai để ý đến sự tồn tại của nó cho đến khi thiếu nó không thở được. Nguyễn Duy biết sáng tạo ra những trường hợp thơ yếm khí, yếm triết để đưa dưỡng khí triết lý dân gian vào. Người đọc, vì thế, thấy thơ Duy vừa quen vừa lạ. Quen vì hình như đã từng nghe, từng biết ở đâu đấy, lạ vì nó trình hiện trong hình âm vóc chữ thơ Duy. (Đỗ Lai Thúy)
Năm 2010, Nguyễn Duy như muốn kết lại thơ anh cho đến thời điểm này vào một tuyển. Duy chia đường thơ mình thành bốn chặng: Đường làng, Đường nước, Đường xa, Đường về. Đây là vòng đời cũng như vòng thơ Duy. Trước đây Duy đã rất có ý đồ khi sắp xếp thơ anh theo chủ đề ở mỗi tập, như Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Sáu & tám (1994), Về (1994), Bụi (1997)… Cách sắp xếp lần này ở tuyển là dựng nên cấu trúc của cả thi nghiệp. Những bài thơ đã biết, quen thuộc được đưa vào cấu trúc mới sẽ ánh lên những ý nghĩa mới, khác lạ. Nguyễn Duy từ làng, từ tuổi thơ đi vào rồi ra khỏi cuộc chiến tranh, từ trong nước đi xa ra thế giới, rồi từ thế giới không quên đường về. Nhưng Duy không về làng, “Đò Lèn” hay “Cầu Bố”, như cha anh và bao người nông dân khác, để khép kín một vòng đời, mà ở lại Sài Gòn, quê mới của Duy. Một đô thị hiện đại bậc nhất Việt Nam. (Đỗ Lai Thúy)
NGUYỄN DUY MỘT VÁN CHƠI
Đỗ Lai Thúy
https://nguyenhungvabanbe.com/nguyen-duy-mot-van-choi-do-lai-thuy
Một mây một gió một màu
Một hiên ngang ngẩng mái đầu tuyết phơi
Một ngôi riêng một mé trời
Một ta sừng sững muôn đời. Một ta…
(Núi Phú Sỹ – Nguyễn Duy)
“Cứ chìm nổi với đám đông / riêng ta xác định ta không là gì (…) Cứ là rượu của chúng sinh / cho ai nhắm nháp cho mình say sưa”…
“những mong có ích cho người / dẫu làm thân cỏ dập vùi… sá chi”
“Xin em đừng nản lòng yêu / tình tang là cuộc phiêu lưu tuyệt vời”
“Người con gái chợt qua đường / áo em mong mỏng màn sương núi đồi / Chợt rơi lại một nụ cười / và… sương rười rượi một trời phía sau / Đem nhan sắc tặng cho nhau / em giăng cái đẹp ngang cầu ban mai / chả riêng ta… chả riêng ai / để heo hút gíó thở dài trên cây”.
Bài thơ xúc động về Mẹ và Lời bình của TS Chu Văn Sơn
https://www.youtube.com/watch?v=WELGmgYA7oQ
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò… sung chát… đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Bao giờ cho tới mùa thu
trái bòng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng
Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búm lưỡi lừa cá xương
(Sài Gòn,1986 / Mẹ & Em – 1987)
Tre Việt Nam
Tre xanh,
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh.
Thân gầy guộc, lá mong manh,
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi,
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.
Có gì đâu, có gì đâu,
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.
Rễ siêng không ngại đất nghèo,
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.
Vươn mình trong gió tre đu,
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Bão bùng thân bọc lấy thân,
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.
Thương nhau tre không ở riêng,
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.
Chẳng may thân gãy cành rơi,
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.
Nòi tre đâu chịu mọc cong,
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.
Lưng trần phơi nắng phơi sương,
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
Măng non là búp măng non,
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre.
Năm qua đi, tháng qua đi,
Tre già măng mọc có gì lạ đâu.
Mai sau,
Mai sau,
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
(1970 -1972 / Cát trắng – 1973)
Từ Hội Nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh:
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian…
Nhà thơ Nguyễn Duy của chúng ta đang đứng ở thời điểm “ngày đông tháng giá” của đời người, thế mà hồn thơ vẫn không ngừng bay lên như cánh chim không mỏi. Nơi giường bệnh, tỉnh lại sau hôn mê Anh lại “chấp bút” gửi thơ vào đời. Một lần nữa, thi nhân đã chứng minh cho người thấy được: Nghệ thuật và thi ca đã chiến thắng trước sức mài nghiệt ngã của thời gian – Dẫu thân trần đã có phần thấm mệt, nhưng nhuệ khí hồn thơ luôn cùng tráng kiện.
— Tuấn Trần
https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/nguyen-duy-vin-thi-ca-vuot-thac-thoi-gian
Trang có nhiều hình ảnh:
Nhà thơ ‘Tre Việt Nam’ Nguyễn Duy: Làng ta ở tận làng ta
https://thethaovanhoa.vn/nha-tho-tre-viet-nam-nguyen-duy-lang-ta-o-tan-lang-ta-20170615162503218.htm

TÌM THÂN NHÂN. Trong những ngày đầy biến cố của dân tộc “có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn”, Nguyễn Duy lặng lẽ nhìn những chuyển động bên dưới của đất nước có tác dụng hàn gắng biết bao sự chia cắt kéo dài nhiều thập kỷ. Anh diễn tả những điều đó trong bài thơ Tìm người thân sau đây:

Nhà thơ Nguyễn Duy ngâm bài Tìm thân nhân tại buổi chiêu đãi do anh Trần Văn Thọ và chị Phạm Chi Lan và nhiều cộng sự tổ chức tại Sài gòn nhân giới thiệu quyển sách Hồi Ức Đến Tương Lai của anh Thọ tháng 6, 2025. Lời thơ anh đã gây xúc động cho bạn bè đêm đó.
TÌM THÂN NHÂN
“Con – Mai Thị Từ
quê ở Bùi Chu
di cư năm 1954
nay ở đâu tin cho cha biết…”
“Cha – Huỳnh Đình Thà
ở Phú Thọ Hoà
năm 1954 tập kết
nay ở đâu cho con được biết…”
Và
anh tìm em
và
vợ tìm chồng
những dòng tin như vết cứa của lòng
bao nhiêu vết cứa của lòng
đang liền lại cùng đất đai liền lại
Hai mươi mốt năm dài
máu chảy
hai mươi mốt năm dài
thương đau
đủ cho qua đi một thời con trai
đủ cho qua đi hai thời con gái
nhưng mà không qua cây cầu chờ đợi
Hai mươi mốt năm dài
không có ai ngồi chờ đợi ai
không có ai ngồi nhớ mong hoài
Nam đi tìm Bắc
Bắc đi tìm Nam
Tìm nhau dưới bể
tìm nhau trên ngàn
tìm nhau trong đạn trong lửa
tìm nhau trong việc mình làm
Tôi không có mẹ đi Nam
tôi không có cha đi tập kết
nhưng tôi có một thời sung sức nhất
góp với mọi người
cùng mọi người
đi tìm thân nhân
Tôi đi tìm thân nhân
không phải trên trang báo
tôi đi tìm thân nhân
suốt những năm giông bão
Tôi đi tìm thân nhân
qua rừng già nguyên thuỷ
tôi đi tìm thân nhân
qua rừng kẽm gai Mỹ
Tìm thân nhân
tôi đi từ Hà Nội
lặn lội mười năm mới tới Sài Gòn
bằng con đường số Một:
Trường Sơn
Ngày đầu tôi ở với Sài Gòn
bà má gọi tôi: Con
tự nhiên tôi gọi Má!
xa cách thế mà không xa lạ
mẹ đây rồi, ơi mẹ của tôi
tôi gặp thân nhân cùng với mọi người
Có người chưa gặp thân nhân
có người không gặp thân nhân
vợ lạc chồng
anh lạc em
và cha lạc con
ai còn?
ai mất?
Ơi ai không gặp thân nhân
xin tới cùng tôi chung mái nhà ấm áp
cùng tôi hát lên lời ca này
cái lớn lao còn lại hôm nay
là nguyên vẹn
nhân dân
Tổ quốc
Ta đi trên đất đai sum họp
nơi nào cũng có thân nhân
Sài Gòn 12-1975
Một bài báo rất đáng đọc và nghe anh diễn tả:
Nhà thơ Nguyễn Duy: Ta hành hương trên đất đai sum họp, nơi nào cũng có thân nhân
Như đã nói, Nguyễn Duy còn những vần thơ nhận thức có sức kêu gọi, đánh thức rất mạnh mẽ về những nghịch lý không thể chấp nhận được của đất nướ, như bài Đánh thức tiềm lực (1987), Nhìn từ xa … Tổ quốc! https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nhn-tu-xa-to-quoc-tieng-tho-quan-quai-bi-hng/
Tôi rất cảm ơn anh về những vần thơ “khai sáng” có lửa này. Những ai chưa có lửa đọc sẽ thấy có lửa, và những ai có lửa rồi sẽ thấy mình như đang cháy trong lòng. Một vài đoạn trích:
Nhìn từ xa … Tổ quốc!
Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…
quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường
Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt… bóng nhân tài thất thểu
Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công
Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc
Tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
Đạo Chích thành tôn giáo phổ thông
Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công
Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc
(Mátxcơva, tháng 5-1988 – Tp. Hồ Chí Minh, 19-8-1988 / Đường xa – 1989)
Đánh thức tiềm lực
Hãy thức dậy đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…
xin bắt đầu từ cơm no áo ấm
rồi hãy đi xa hơn – đẹp và giàu, và sung sướng hơn
Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?
*
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…
(Hai đoạn trên của bài thơ đã được đưa vào đề thi môn văn THPT quốc gia năm 2018)
nhưng:
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…
Tiềm lực còn ngủ yên
trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng
Tiềm lực còn ngủ yên
trong bộ óc mang khối u tự mãn
Tiềm lực còn ngủ yên
trong con mắt lờ đờ đục thủy tinh thể
Tiềm lực còn ngủ yên
trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ
Tiềm lực còn ngủ yên
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm
Tiềm lực còn ngủ yên
trong lớp da biếng lười cảm giác
Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị buộc tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương
đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường
Dù có sao
vẫn Tổ quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
ta là dân – vậy thì ta tồn tại.
Cần lưu ý
có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…
Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy
phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê
* * *
Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…
(1980 – 1982 / Mẹ & em – 1987)
Trên một tờ báo, Nguyễn Duy nói: Dân tộc này sẽ vẫn tồn tại với lớp trẻ nên các bạn cần nhận thức được điều đó. Thế hệ chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình rồi.
Nhà nghiên cứu phê bình Lã Nguyên đã gọi “Đánh thức tiềm lực” và “Nhìn từ xa… Tổ quốc” là “lời nói khai minh”. Tôi muốn chuyển cái định danh sáng láng và chuẩn xác đó của anh cho “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ”, nên chỉ gọi hai bài thơ trên là “lời phản biện xã hội”. [..] Phản biện xã hội của thơ Duy, tôi nhấn mạnh lần nữa, trên tư cách công dân trong xã hội dân sự, dẫu lúc này nó còn ở thì tương lai. Đó là tiếng nói tự do, bình đẳng và có tuệ tính. Trong hành trình rậm rịch chuyển kênh, Nguyễn Duy, đã bước trước nhiều nhà thơ cùng thời dẫu chỉ một bước.
Chúng ta cảm ơn nhà thơ Nguyễn Duy, cảm ơn nhân dân đã sinh ra một nhà thơ, nghệ sĩ tài hoa, nhân hậu nhưng không kém phần mạnh mẽ. Tất cả di sản của Anh đều mang dấu ấn không nhầm lẫn: Yêu quê hương! Tài năng và trí tuệ cho đất nước!
Nguyễn Xuân Xanh
Xem những bài gần đây nhất:
- Tưởng niệm Jürgen Habermas (Số đặc biệt của Tạp chí Triết học và Tư tưởng) 14 Tháng Năm, 2026
- Tự do học thuật của các đại học Đức (Hermann von Helmholtz) 3 Tháng Năm, 2026
- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Charles W. Eliot (Harvard) 18 Tháng Tư, 2026