Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Charles W. Eliot (Harvard)

by , under Uncategorized

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA CHARLES W. ELIOT (1926-2026)

PHÁT BIỂU CỦA ÔNG TẠI LỄ NHẬM CHỨC CỦA DANIEL C. GILMAN (JOHNS HOPKINS)

 

Thành quả đáng giá của nền văn hóa học thuật là một tâm trí cởi mở, được rèn luyện để suy nghĩ cẩn trọng, được hướng dẫn về các phương pháp nghiên cứu triết học, được làm quen một cách tổng quát với những tư tưởng tích lũy của các thế hệ trước, và thấm nhuần lòng khiêm nhường.

— Charles Eliot, Phát biểu nhậm chức Đại học Harvard 1869

 

Nếu chỉ lo cải thiện chiếc đèn dầu thì chúng ta chẳng bao giờ có đèn điện cả.

— Thomas Edision, nhà phát minh thiên tài người Mỹ

Charles William Eliot (20 tháng 3 năm 1834 – 22 tháng 8 năm 1926). Theodore Roosevelt gọi ông là “người đàn ông duy nhất trên thế giới mà tôi ghen tị.”

 

Lời nói đầu

Anh chị thân mến,

Năm nay kỷ niệm đúng 100 ngày mất của nhà giáo dục đại học hàng đầu Mỹ: Charles W. Eliot. Lạ lùng thay nó trùng với năm mất của cụ Phan Châu Trinh cũng một trăm năm trước. Ngoài ra, năm nay cũng kỷ niệm 390 ngày thành lập Đại học Harvard (1636). Để kỷ niệm vị hiệu trưởng tài năng của Đại học Harvard trong thời đại khó khăn được ông lèo lái, tôi muốn lấy bài Diễn văn nổi tiếng dưới đây giới thiệu anh chị, cộng thêm một số nét tiểu sử và hoạt động của ông trong lãnh vực giáo dục đại học. Bài diễn văn này được ông phát biểu tại lễ nhậm chức của nhà giáo dục đại học Daniel Coit Gilman, hiệu trưởng Đại học Johns Hopkins, được thành lập mới đầu năm 1876 như đại học nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ theo mô hình đại học nghiên cứu Đức (Humboldt). Bài phát biểu cũng đúng 150 năm, và là một trong những bài diễn văn hay nhất của Eliot.

Tôi đã giới thiệu, như điều tôi ao ước, tư tưởng của ông trong quyển sách ĐẠI HỌC năm 2018. Những phát biểu của ông về giáo dục đại học toát lên tinh thần cao quý và nhận thức sâu sắc về vai trò phụng sự cao cả của đại học và giảng viên, sinh viên. Lần trích dẫn Eliot đầu tiên của tôi nằm trong Diễn văn năm học mới 2012:

Sự vĩ đại đích thực của một quốc gia không nằm ở lãnh thổ, thu nhập, dân số, thương mại, hoa màu hay hàng chế biến, mà chính ở các giá trị tinh thần và phi vật chất; ở sự tinh khiết, sự dũng cảm và tính chính trực của dân tộc đó, ở thi ca, văn chương, khoa học và nghệ thuật mà dân tộc đó đã tạo ra, ở giá trị đạo đức của lịch sử và đời sống của họ. Đối với quốc gia, cũng như cá nhân, không có gì khác hơn là sự ưu việt đạo đức mới là bất biến và vĩnh cửu có lợi. Các đại học, được dìu dắt khôn ngoan, lưu trữ vốn trí thức của giống nòi, và trở thành những nguồn suối của sức mạnh tinh thần và đạo đức. Ở đây các bước chân trẻ, tránh xa những lối mòn bẩn thỉu của ham muốn thấp kém và tham vọng trần tục, có thể bước đi trong những dấu chân của những người quá cố lừng lẫy – những nhà thơ, nghệ sĩ, triết gia và chính khách của quá khứ; ở đây những mái đầu tươi rói có thể thám hiểm những vùng đất mới và tăng trưởng vốn tri thức lên; ở đây chốc chốc những con người vĩ đại có thể được đào tạo thành các nhà lãnh đạo dân tộc; ở đây ánh sáng soi sáng của thiên tài chốc chốc loé lên để làm hoan hỉ nhân loại; trên hết, ở đây nhiều thế hệ của thanh niên có thể học lấy sự chính trực. (Charles W. Eliot, 1876)

mà quý anh chị có thể tìm thấy lại trong bài Diễn văn mừng Daniel Gilman hôm nay.

Tôi đã viết về giáo dục đại học Hoa Kỳ trong Kỷ yếu 200 Năm Đại học Humboldt, rồi nhiều hơn trong sách ĐẠI HỌC, đã góp phần xuất bản nhiều quyển sách có giá trị về cùng đề tài, quyển gần đây nhất là Đại học Hoa Kỳ: Từ Hỗn độn hoàn hảo đến Ngọn hải đăng thế giới. Giáo dục đại học của Hoa Kỳ, và của Đức, là nguồn cảm hứng của tôi. Và hôm nay xin gửi tiếp quý anh chị độc giả bài viết mới mà tôi rất vui. Nó nói lên triết lý giáo dục của Charles W. Eliot, nhà cải cách giáo dục đại học vĩ đại của Hoa Kỳ trong nửa sau thế kỷ XIX, cũng như về sự lột xác của các colleges nhân văn chịu ảnh hưởng của giáo phái (denominational collges) thành những đại học nghiên cứu tự do dưới ảnh hưởng của văn hóa đại học Đức (Humboldt). Giáo dục đại học Mỹ là một kho báu kinh nghiệm vô giá.

Như đã nói, Đại học Johns Hopkins, đại học đầu tiên ở Mỹ dựa trên mô hình của Đức, đã mở cửa vào năm 1876, tức đúng 100 năm sau khi Hoa Kỳ giành Độc lập. Lễ nhậm chức của Gilman được cho là đánh dấu “điểm khởi đầu của giáo dục sau đại học ở Hoa Kỳ.” Mục tiêu của trường đại học này, như chủ tịch Daniel Coit Gilman đã nói khi nhậm chức hiệu trưởng, là “khuyến khích nghiên cứu; thúc đẩy những người trẻ tuổi; và nâng cao trình độ của các học giả cá nhân, những người bằng sự xuất sắc của mình sẽ thúc đẩy các ngành khoa học mà họ theo đuổi, và xã hội nơi họ sinh sống.” Để chứng minh lời nói của mình, Hopkins đã bổ nhiệm một đội ngũ giảng viên nhỏ nhưng xuất sắc, dành cho họ thời gian và sự tự do để nghiên cứu, và tập hợp một nhóm sinh viên sau đại học (graduate) nhỏ nhưng đáng chú ý, tạo động lực cho họ trong công việc học thuật; và tên của những người này — James J. Sylvester, Henry A. Rowland, Herbert B. Adams, Henry C. Adams, Josiah Royce, Thorstein Veblen, Woodrow Wilson, Richard T. Ely, John Dewey — là minh chứng tốt nhất cho sự thành công của ông. Trường đại học này từng được ví là Göttingen ở Baltimore bởi vì trong số 53 giáo sư và giảng viên có tên trong danh sách năm 1884, gần như tất cả đều từng học tại các trường đại học Đức, và 13 người đã được trao bằng tiến sĩ.  Đại học Johns Hopkins đã áp dụng phương pháp giảng bài, thảo luận (xêmina) và thực hành thí nghiệm, đồng thời gắn kết giáo viên và sinh viên trong mối quan hệ thân thiết và hòa hợp. Trường cao học (graduate) của trường tương đương với khoa triết học của Đức—rộng về chuyên ngành, phi thực dụng trong mục tiêu, và tận tâm với công tác nghiên cứu. (Walter P. Metzger)

Daniel Coit Gilman (6 tháng 7, 1831 – 13, tháng 10, 1908), một trong những nhà lãnh đạo giáo dục vĩ đại bên cạnh Charles Eliot.

Một đoạn văn trong Diễn văn nhậm chức của hiệu trưởng Daniel Gilman:

“Mục tiêu của đại học là phát triển tính cách – để làm ra con người. Nó sẽ đi chệch khỏi mục tiêu của nó nếu nó tạo ra những nhà thông thái rởm, những nghệ nhân đơn thuần, hoặc những kẻ ngụy biện xảo quyệt, hoặc những người hành nghề tự phụ. Mục đích không phải quá đặt nặng truyền đạt kiến thức cho sinh viên, mà là kích thích sự thèm khát, đưa ra các phương pháp, phát triển các năng lực, tăng cường khả năng phán đoán, và tiếp thêm sinh lực cho các lực lượng trí tuệ và đạo đức. Để phục vụ xã hội, nó phải chuẩn bị một lớp sinh viên gồm những người dìu dắt minh triết, suy nghĩ thấu đáo, cầu tiến trong bất kỳ lãnh vực công việc hoặc tư duy nào mà họ có thể tham gia.”

Câu chuyện về mối quan hệ giữa các trường đại học Mỹ và Đức được kể nhiều trong sách vở, nhưng có lẽ chưa bao giờ kể hết. Trong thế kỷ XIX hơn chín nghìn người Mỹ đã theo học tại các trường đại học Đức. Người Mỹ học bằng cách thực hành Wanderjahre, những năm đi học việc như trong học nghề, nhưng cũng qua sách vở và những chuyến đi du lịch ngắn ngày, hay qua những người Đức sống ở nước ngoài giảng dạy tại các trường college Mỹ, qua đó các phương pháp và lý tưởng của nền giáo dục đại học Đức phần nào đã được du nhập vào Mỹ. Hầu hết những người Mỹ đến Đức trong suốt thế kỷ đó đều là những thanh niên trẻ tuổi, đột nhiên được đưa vào một nền văn hóa lâu đời hơn và khoan dung hơn so với văn hóa của họ. G. Stanley Hall (1844–1924), một nhà tâm lý học và nhà giáo dục người Mỹ tiên phong, từng đến Đức để học triết học tại Berlin, Bonn và Heidelberg (1868–1871), sau đó học tâm lý học sinh lý, đặc biệt làm việc với Wilhelm Wundt ở Leipzig (1878–1880), đã viết trong hồi ký của mình: “Nước Đức gần như đã thay đổi hẳn tôi”;  “nó đã cho tôi một thái độ mới đối với cuộc sống… Tôi thực sự đắm chìm trong một sự tự do chưa từng biết đến trước đây.” Hall cảm giác được giải thoát khỏi “sự chính thống hẹp hòi, cứng nhắc, những phong tục tập quán vô hồn, sự tước đoạt niềm vui của người Thanh giáo”.

Theo một nghĩa nào đó, ảnh hưởng học thuật của Đức, dù rất mạnh mẽ, đã củng cố chứ không phải khởi xướng những khuynh hướng thay đổi bản địa của người Mỹ. Riêng trường đại học tôn giáo Harvard có thái độ dè dặt, trong đó có cả Eliot, không hề háo hức với các học giả được đào tạo tại Đức, cũng như không sẵn sàng cho học bổng để được đào tạo tại Đức. Đối với họ thần học Đức quá hoài nghi, ngữ văn Đức quá chuyên sâu, còn giáo dục khoa học Đức thì quá khắt khe. Mãi cho đến khi bằng cấp của Đức mang lại lợi thế cho cơ hội nghề nghiệp trong nước—nghĩa là, mãi cho đến khi các trường đại học Mỹ đã trở nên thế tục hơn, chuyên sâu hơn và tham vọng về mặt trí tuệ hơn—thì cuộc chơi mới thay đổi, và thay đổi triệt để.

Các trường đại học Đức nói chung từ lâu là tài sản và niềm tự hào của các tiểu quốc thuộc lãnh thổ này. Sự thật có rất nhiều tiểu quốc đã dẫn đến việc thiết lập nhiều đại học độc lập nằm rải rác. Đó cũng là nơi để giới quý tộc phô trương và ganh đua. Sự phát triển của bộ máy hành chính dân sự và việc áp dụng luật La Mã tại các tiểu quốc Đức vào thế kỷ XVIII đã tạo ra nhu cầu được đào tạo đại học cho các quan chức. Ngay cả giới quý tộc cũng phải nghiên cứu luật học mới để duy trì vị thế thống trị của mình trong bộ máy hành chính Đức – và điều này đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao quyền lực và uy tín của giáo sư và trường đại học Đức.

Đặc thù của nước Đức là, trước khi thống nhất năm 1871, cả trăm tiểu quốc gây ra những hệ quả tốt cũng như xấu, như tình trạng “ngăn sông cấm chợ” về thuế quan, nhưng đồng thời kích thích sự xây dựng đại học một cách độc lập, nếu năng lực tiểu quốc cho phép. Mặt khác, sự phát triển của bộ máy hành chính dân sự và việc áp dụng luật La Mã tại các tiểu quốc Đức vào thế kỷ XVIII đã tạo ra nhu cầu về các quan chức được đào tạo đại học một cách chính quy. Ngay cả giới quý tộc cũng phải nghiên cứu luật học mới để duy trì vị thế thống trị của mình trong bộ máy hành chính Đức – và điều này đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao quyền lực và uy tín của giáo sư và trường đại học Đức.

Sự hưng thịnh của triết học Đức diễn ra vào thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Kant sống từ 1724 đến 1804 tại Königsberg, Đông Phổ. Và triết học Đức là phong trào độc độc đáo đậm chất học thuật. Trong khi chủ nghĩa bách khoa Pháp và phong trào Khai sáng Anh phát triển mạnh mẽ bên ngoài các trường đại học, thì đối trọng của chúng ở Đức đã được đặt nền móng vững chắc tại Göttingen ngay từ năm thành lập (1737), tại Halle sau khi Christian Wolff được Frederick Đại đế phục chức năm 1740, và tại Königsberg trong thời kỳ huy hoàng của Immanuel Kant (1755–1797). Rất lâu trước khi chủ nghĩa duy tâm lãng mạn thâm nhập vào các trường đại học Pháp và Anh, nó đã thịnh vượng dưới thời Fichte và Schelling ở Jena, và sau đó ở Berlin với Fichte, Hegel và Schelling, một giai đoạn dài ngự trị đại học Berlin thời Humboldt. Điều đáng chú ý là trong khi các triết gia vĩ đại của Anh, từ Bacon đến John Stuart Mill, là những người của hoạt động xã hội, thì các nhân vật vĩ đại trong thời kỳ hoàng kim của triết học Đức lại là những người của học thuật. Từ hoàn cảnh này, có thể thấy được cả vinh quang của triết học Anh lẫn sự vĩ đại của các trường đại học Đức. (Walter Metzger)

Nhưng với Schelling đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng của Đại học Berlin năm 1841 thay thế Hegel, thời kỳ vàng son của triết học Đức bắt đầu đi vào giai đoạn hoàng hôn để cuối cùng nhường chỗ cho phong trào khoa học tự nhiên và thực nghiệm đang dâng lên như thủy triều, được Alexander von Humboldt, nhà tự nhiên học nổi tiếng, cũng là em của Wilhelm, đỡ đầu. (Xem sách ĐẠI HỌC). Đó là cuộc thay ca thời đại, diễn ra bắt đầu từ những thập niên 1820-30, tức đúng 200 năm trước. “Dân tộc của nhà thơ và nhà tư tưởng” bắt đầu trở thành dân tộc của khoa học, công nghệ và giáo dục bậc cao.

Một thuộc tính quan trọng hàng đầu của đại học nghiên cứu Đức là tính tự do học thuật (academic freedom), gồm tự do học, Lernfreiheit và tự do dạy, Lehrfreiheit. James Morgan Hart, học giả, nhà ngữ văn, dịch giả nổi tiếng, nhà truyền bá lý tưởng về trường đại học nghiên cứu Đức cho công chúng, từng viết, “Theo tư duy người Đức, nếu thiếu tự do giảng dạy hoặc tự do học tập, thì cơ sở giáo dục đó, dù giàu có đến đâu, dù có nhiều sinh viên đến đâu, dù có kiến ​​trúc đồ sộ đến đâu, cũng không phải là… một trường đại học.” Charles W. Eliot trong bài Diễn văn nhậm chức năm 1869 đã khắc họa ý tưởng này bằng những lời lẽ đáng nhớ:

Một trường đại học phải mang tính bản địa; nó phải giàu có; và trên hết, nó phải tự do. Làn gió tự do trong lành phải thổi qua mọi ngóc ngách của nó. Phải cần một cơn bão mới có thể thổi bay lúa mì (để tách trấu ra khỏi hạt). Bầu không khí tự do trí tuệ là hơi thở bản địa của văn học và khoa học. Trường đại học này khao khát phục vụ quốc gia bằng cách đào tạo những người có tư duy trung thực và độc lập. Hội đồng trường yêu cầu tất cả các giảng viên phải có sự nghiêm túc, thái độ kính sợ và lý tưởng cao quý; nhưng nó cũng để cho họ, giống như các học trò của họ, được tự do. Một trường đại học được xây dựng không phải bởi một giáo phái, mà bởi cả một quốc gia.

Kể từ thời Jefferson, chưa từng có một nhà lãnh đạo học thuật nào ca ngợi tự do học thuật một cách hùng hồn và từ một vị thế cao như vậy. Nó là điềm báo cho sự xuất hiện của một thời đại mới chưa từng có kể từ lúc Jefferson ca ngợi “sự tự do vô hạn của trí tuệ con người” — thời đại mà trí tuệ sẽ được cởi trói. Tất cả những nhà đổi mới trong giới học thuật đã ủng hộ ý tưởng này. Gilman, trong lễ nhậm chức của mình, khẳng định rằng tự do cho giáo viên và sinh viên là điều thiết yếu đối với một trường đại học đích thực. William Rainey Harper, hiệu trưởng đầu tiên của Chicago, đã nói những lời đầy nhiệt huyết này:

Khi vì bất kỳ lý do gì, trong một trường đại học tư thục hoặc trường đại học được nhà nước hỗ trợ, việc quản lý hoặc giảng dạy trong bất kỳ khoa nào của trường bị thay đổi bởi ảnh hưởng từ bên ngoài, khi có nỗ lực nhằm loại bỏ một viên chức hoặc một giáo sư vì tình cảm chính trị hoặc tình cảm tôn giáo của đa số đã thay đổi, thì tại thời điểm đó, trường học đó không còn là trường đại học nữa, và nó không thể lấy lại vị trí của mình trong hàng ngũ các trường đại học chừng nào yếu tố cưỡng chế vẫn còn tồn tại ở mức độ đáng kể. . . . Cá nhân, nhà nước hoặc nhà thờ có thể thành lập các trường học để truyền bá một số loại hình giảng dạy đặc biệt, nhưng những trường học đó không phải là trường đại học và không được gọi là trường đại học. (University of Chicago, President’s Reports, 1892-1902, p. xxiii)

Vai trò nghiên cứu được Eliot diễn tả rất hình tượng, ảnh hưởng lên cả chức năng giảng dạy:

Trường đại học tìm kiếm chân lý mới. Trường đại học là một cộng đồng những người uyên bác, mỗi người là bậc thầy trong lĩnh vực của mình; mỗi người đều am hiểu những thành tựu đã đạt được trong suốt quá khứ về chuyên ngành của mình; mỗi người đều sẵn sàng thúc đẩy giới hạn hiện tại của tri thức tiến lên một chút; mỗi người đều kỳ vọng và hy vọng sẽ làm sáng tỏ một số vướng mắc hay bế tắc ở biên giới, hoặc dùng ánh sáng nghiên cứu nhỏ bé của mình, dù chỉ là một gang tay, để xuyên thủng màn sương mù bí ẩn bao quanh lĩnh vực chân lý đã được xác định. Do đó, các trường đại học là nơi nghiên cứu, nơi tìm tòi siêng năng những chân lý mới hoặc bị lãng quên.

Nó là không thể thiếu vì hai lý do: thứ nhất, bởi vì một trường đại học không phải là nơi nghiên cứu sẽ không thể duy trì được vị thế là một nơi giảng dạy tốt trong thời gian dài; và thứ hai, bởi vì sự tìm kiếm không ngừng, thầm lặng và chuyên tâm này đối với chân lý mới là điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ cả về vật chất lẫn trí tuệ của quốc gia và toàn nhân loại. (Eliot, Aims of Higher Education)

Ông xem tự do học thuật và nghiên cứu là “Phúc âm” (Gospel), và từ đó sinh ra Phúc lợi.

Có một số khác biệt nhất định trong việc áp dụng mô hình đại học nghiên cứu Đức tại Mỹ. Trong khi sinh mệnh của đại học Đức hoàn toàn lệ thuộc vào nhá nước, thì các nhà giáo dục Mỹ muốn giữ cho mình độc lập hơn. Các đại học tư hoàn toàn dựa vào sự tài trợ của dân chúng. Nhà nước là một chỗ dựa không đáng tin cậy. Truyền thống tài trợ địa phương trong giáo dục Mỹ khiến cho sự can thiệp của liên bang – giả sử rằng nó có thể cải thiện vị thế của trường đại học – trở nên bất khả thi. Các nhà lý luận Mỹ, không trông chờ mấy vào các nhà lập pháp hoặc tòa án. Họ đi tìm một thẩm quyền nào đó có thể được sử dụng để kiểm soát sự xâm phạm liên tục. Họ đã kêu gọi ý chí của toàn thể cộng đồng (general will), kiểu Rousseau. Họ khẳng định rằng “tất cả các trường đại học, tư thục hay nhà nước, đều thuộc về toàn thể nhân dân; rằng các ủy viên quản trị chỉ là công chức, các giáo sư là viên chức nhà nước, và các trường đại học là tài sản công.”

Wilhelm von Humboldt (22 tháng 6, 1767 – 8 tháng 4, 1835)

Thật ra, các đại học trên phạm vi liên bang đã từng thắng cuộc tại tòa án để bảo vệ quyền độc lập của mình. Đại học tư nhân, cũng như doanh nghiệp tư nhân, thật sự được công nhận chính thức ở Mỹ từ năm 1819 trở đi qua một vụ kiện lịch sử có tên Trustees of Dartmouth College v. Woodward, (Các ủy viên của Dartmouth college kiện Woodward). Xem dẫn nhập ở đây: Đại học Hoa Kỳ.

Ngay trong tự do hàn lâm, người Mỹ cũng thận trọng hơn người Đức ở một số vấn đề. Eliot, trong bài Diễn văn nhậm chức đã phát ngôn một cách hùng hồn sự khác biệt được giới học thuật Mỹ ủng hộ, rằng trường đại học phải được tự do, nhưng trong những vấn đề tranh cãi, sự trung lập cũng là một khía cạnh của tự do đó:

Các môn triết học không bao giờ nên được giảng dạy một cách độc đoán. Chúng không phải là những ngành khoa học đã được chứng minh; chúng đầy rẫy những vấn đề gây tranh cãi, những câu hỏi chưa có lời giải và những suy đoán vô tận. Chức năng của người giáo viên không phải là giải quyết các tranh luận triết học và chính trị cho học trò, hoặc thậm chí là khuyên học trò chấp nhận bất kỳ hệ tư tưởng nào là tốt hơn hệ tư tưởng khác. Trình bày, chứ không phải áp đặt, các quan điểm mới là nhiệm vụ của giáo sư. Sinh viên cần được làm quen với tất cả các khía cạnh của những tranh luận này, với những điểm nổi bật của mỗi hệ thống; họ cần được chỉ ra những gì vẫn còn giá trị trong các thể chế hoặc triết học đã lỗi thời, và những gì mới mẻ trong những triết lý đang thịnh hành hiện nay. Chính từ “giáo dục” đã là một sự phản đối mạnh mẽ đối với việc giảng dạy giáo điều. Quan niệm rằng giáo dục bao gồm việc truyền đạt một cách độc đoán những gì giáo viên cho là đúng có thể hợp lý và phù hợp trong một tu viện, nhưng nó không thể chấp nhận được ở các trường đại học và trường công lập, từ tiểu học đến trung học. (Diễn văn nhậm chức)

Trước thềm kỷ niệm 200 năm sự ra đời mô hình đại học nghiên cứu Humboldt (2010-1810), Hiệu trưởng Robert J. Zimmer của Đại học Chicago đã phát biểu tại lễ tốt nghiệp của Đại học Chicago vào tháng 10 năm 2009, tóm tắt di sản đại học Đức cũng như đặt Chicago vào truyền thống Đức như sau:

Năm 1810, tức 600 năm sau khi các trường đại học ở Bologna, Paris, Oxford và Cambridge được thành lập, … Đại học Berlin được thành lập dưới sự lãnh đạo của Wilhelm von Humboldt. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi một số luồng tư tưởng sinh động về các trường đại học ở Đức thời bấy giờ, đặc biệt là tư tưởng của triết gia và nhà thần học Friedrich Schleiermacher. Chính tại trường đại học của Humboldt, tinh thần của trường đại học hiện đại đã ra đời, theo mô hình được gọi là mô hình Đức. Điều này bao gồm ba ý tưởng chính: thứ nhất, mục tiêu của giáo dục là dạy sinh viên tư duy, chứ không chỉ đơn thuần là thành thạo một nghề; thứ hai, nghiên cứu sẽ đóng vai trò trung tâm và việc dạy sinh viên cách tư duy sẽ được thực hiện thông qua việc kết hợp nghiên cứu và giảng dạy; và thứ ba, trường đại học nên độc lập và không phục vụ trực tiếp cho nhà nước. Như chúng ta có thể hình dung, nỗ lực xây dựng và áp dụng một hệ thống mới đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các giảng viên đầu tư vào các phương pháp khác, đặc biệt là những phương pháp không chú trọng đến nghiên cứu và tư duy độc lập. Tuy nhiên, mô hình này đã mang lại kết quả mạnh mẽ và không chỉ trở thành mô hình thống trị ở Đức mà còn dần lan tỏa ảnh hưởng khắp châu Âu trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ XX. (The Rise of the University)

Sinh ra trong một gia đình danh giá ở Boston vào ngày 20 tháng 3 năm 1834, Eliot vào học Harvard năm 1849 ở tuổi 15. Sau khi tốt nghiệp năm 1853, Eliot nhận vị trí gia sư toán học tại trường cũ và năm 1858 được bổ nhiệm làm trợ lý giáo sư Toán học và Hóa học. Thất vọng vì không được bổ nhiệm vào vị trí giáo sư Hóa học mới, năm 1863, Eliot từ chức và đi du lịch châu Âu để nghiên cứu các cơ sở giáo dục ở đó. Ông trở lại năm 1865 và nhận chức giáo sư Hóa học Phân tích tại Viện Công nghệ Massachusetts mới thành lập. Năm 1869, ở tuổi 35, Eliot được bầu làm hiệu trưởng của Harvard.

Trong chuyến đi châu Âu, Eliot không chỉ tập trung vào các cơ sở giáo dục một cách chi tiết các hoạt động của họ, mà còn tìm hiểu vai trò của giáo dục trong mọi khía cạnh của đời sống quốc gia. Nhưng mối quan tâm đặc biệt của ông là mối liên hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế, về những tri thức và kỹ năng mà đại học có thể cung cấp, quan hệ giữa giáo dục và doanh nghiệp, chẳng hạn như quan hệ những phát hiện được thực hiện trong các phòng thí nghiệm đại học đối với ngành công nghiệp hóa chất Đức. Trong gần hai năm ở châu Âu, Eliot tập trung vào việc học hỏi các phương pháp ứng dụng khoa học để hỗ trợ công nghiệp công nghiệp, thương mại cũng như lĩnh vực học thuật, cũng như những vấn đề tổ chức các cơ sở giáo dục.

Có lúc chính ông cũng phải lựa chọn giữa vị trí trong một doanh nghiệp và vĩ trí quản lý trong đại học. Nhà máy Merrimack ở Massachusetts, một trong những nhà máy dệt lớn nhất Hoa Kỳ, đã mời ông làm giám đốc với đồng lương khổng lồ 5000 đô la (cộng thêm một căn nhà tốt, miễn phí tiền thuê) là hết sức hấp dẫn, nhưng sau khi suy nghĩ ông đã từ chối, và chọn quản lý đại học, công việc ông cho rằng sẽ giúp nhiều tài năng phát triển để phụng sự quốc gia hơn. Việc làm giám đốc điều hành của một doanh nghiệp chỉ mang lại phạm vi ảnh hưởng hạn chế, nhưng đào tạo tri thức sẽ có tác dụng ảnh hưởng lên xã hội lớn hơn nhiều.

Nhìn chung, phong trào đại học nghiên cứu ở Hoa Kỳ chủ yếu được dẫn dắt bởi những người Mỹ từng học tập tại Đức và “khát vọng nghiên cứu và văn hóa”. Ảnh hưởng của những người Mỹ này đặc biệt mạnh mẽ tại các trường đại học mới thành lập như Johns Hopkins, Chicago và Clark, tất cả đều được xây dựng dựa trên cam kết nghiên cứu – tức là, hướng đến việc tạo ra tri thức mới chứ không chỉ đơn thuần là bảo vệ và truyền bá tri thức đã có hoặc hình thành đạo đức cho sinh viên đại học. Nhưng các trường đại học nghiên cứu của Mỹ phát triển trong bối cảnh văn hóa và quốc gia khác biệt so với các tiền thân của chúng ở Đức. Ví dụ, những người ủng hộ các trường đại học nghiên cứu của Mỹ luôn coi chúng là tài sản công cộng và viện dẫn những truyền thống dân chủ và tư tưởng chính trị đặc trưng của Mỹ. Nếu ở Đức, chính phủ tài trợ hoàn toàn cho đại học thì ở Hoa Kỳ, các nhà giáo dục đại học hướng tới các quỹ tư nhân, như Quỹ Carnegie và Quỹ Rockefeller để hỗ trở nghiên cứu cho chương trình sau đại học. Các công trình nghiên cứu đã xuất bản và các nghiên cứu ở châu Âu – trở thành thước đo học thuật quan trọng nhất tại Harvard.

Những nỗ lực cải cách này chủ yếu diễn ra tại các trường tư thục ở Bờ Đông như Harvard, nơi Charles Eliot, với tư cách là hiệu trưởng từ năm 1869 đến năm 1909, đã có những đóng góp thay đổi căn bản nền giáo dục đại học Mỹ. Một mặt Eliot coi nghiên cứu là trọng tâm của sứ mệnh đại học. Mặt khác, ông đã chuyên nghiệp hóa các trường y và luật bằng cách thiết lập các tiêu chuẩn tuyển sinh cao hơn (chủ yếu bằng cách yêu cầu bằng cử nhân để nhập học), ông cũng chuyên nghiệp hóa giáo dục sau đại học bằng cách nâng cao tiêu chuẩn đầu vào trong giới học thuật. Đồng thời, ông cũng chăm lo mặt văn hóa, bằng cách coi trọng giáo dục khai phóng.

Eliot sinh vào thời mà giáo dục đại học Mỹ rơi vào khủng hoảng. Vào những năm 1800, các trường đại học Mỹ, do các giáo sĩ kiểm soát, tiếp tục theo đuổi chương trình giảng dạy cổ điển vốn ít liên quan đến một quốc gia đang công nghiệp hóa. Rất ít trường cung cấp các khóa học về khoa học, kỹ thuật, ngoại ngữ hiện đại, lịch sử hoặc kinh tế chính trị — và chỉ một số ít có trường sau đại học hoặc trường chuyên nghiệp. Các doanh nhân ngày càng ngần ngại gửi con mình đến những trường có chương trình giảng dạy không mang lại lợi ích gì, hoặc quyên góp tiền để hỗ trợ chúng. Một số nhà lãnh đạo giáo dục bắt đầu tìm cách làm cho giáo dục đại học trở nên hấp dẫn hơn. Một số người ủng hộ việc thành lập các trường chuyên ngành khoa học và công nghệ, như Trường Khoa học Lawrence (1847) của Harvard, Trường Khoa học Sheffield (1847) của Yale và Viện Công nghệ Massachusetts (1861) mới được thành lập, sắp khai giảng các lớp học đầu tiên vào năm 1865. Những người khác đề xuất từ ​​bỏ chương trình giảng dạy cổ điển, để chuyển sang các chương trình đào tạo nghề nghiệp hơn. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ở Boston, nhiều người trong số họ là cựu sinh viên Harvard, đang thúc đẩy sự thay đổi — mặc dù không có ý tưởng rõ ràng về loại thay đổi mà họ muốn. Cuộc khủng hoảng giáo dục đại học này cũng giống như cuộc khủng hoảng giáo dục ở Đức vào cuối thế kỷ XVIII, trước khi Humboldt tiến hành cuộc cách mạng vào đầu thế kỷ XIX. (Xem sách ĐẠI HỌC)

Ảnh Harvard college năm 1874

Đầu năm 1869, Eliot, lúc đó đã về từ chuyến đi châu Âu kéo dài hai năm, đã trình bày những ý tưởng của mình về cải cách giáo dục đại học Mỹ trong một bài báo hai phần đầy sức thuyết phục như một tiếng chuông gióng lên với tiêu đề “Nền giáo dục mới” (The New Education) đăng trên The Atlantic Monthly, tạp chí hàng đầu về dư luận của quốc gia. “Chúng ta đang chiến đấu với một vùng hoang dã, cả về vật chất lẫn đạo đức,” Eliot tuyên bố khi trình bày tầm nhìn của mình về trường đại học Mỹ, “vì cuộc chiến này chúng ta phải được huấn luyện và trang bị.” Eliot ủng hộ sự chuyển đổi từ chương trình giảng dạy cổ điển cứng nhắc sang một hệ thống hiện đại kết hợp khoa học, ngoại ngữ hiện đại và các môn tự chọn (elective system). Ông lập luận ủng hộ nền giáo dục thực tiễn phù hợp với nhu cầu thời đại công nghiệp, thúc đẩy chuyên môn hóa trí tuệ, đào tạo nghề nghiệp và tự do cá nhân cho học sinh. Đạo luật Morrill land-grant-colleges năm 1862 nằm trong chương trình thúc đẩy sự phát triển các tri thức hữu dụng cần thiết cho cuộc công nghiệp hóa đang diễn ra. Cho đến lúc đó, Harvard bị kiểm soát bởi các giáo sĩ. Các bài báo đã gây được tiếng vang mạnh mẽ với các doanh nhân kiểm soát Hội đồng quản trị Harvard. Ngay sau khi chúng xuất hiện, tháng 3 năm 1869, ở tuổi 35, Eliot được bầu làm hiệu trưởng thứ 21 trẻ tuổi nhất trong lịch sử của trường đại học lâu đời nhất nước Mỹ, để cầm lái cho cuộc đổi mới. Tháng 10, ông đọc bài diễn văn nhậm chức rất nổi tiếng, được trích dẫn ở trên. Lúc đó Harvard vẫn còn là một college. Trong bốn thập niên cầm lái, Eliot đã biến trường đại học này thành một trong những trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở Mỹ. Xa hơn, ông đã hệ thống hóa các tiêu chuẩn học thuật của nước Mỹ.

Mặc dù cải cách giáo dục đại học chiếm phần lớn tâm sức của ông, Eliot vẫn sử dụng uy tín của mình để gây ảnh hưởng đến cả các trường tiểu học và trung học. Nhiều bài báo và bài phát biểu được xuất bản của ông bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, ủng hộ việc đào tạo tốt hơn và đảm bảo an ninh hơn cho giáo viên cũng như cải thiện điều kiện vệ sinh trong trường học. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của việc giáo viên và trường học phải rèn luyện các giác quan, thể chất và trí tưởng tượng của học sinh. Đồng thời, ông đã nâng cao và đa dạng hóa các yêu cầu tuyển sinh tại Harvard để gây áp lực lên các trường học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.

Đóng góp của Eliot vào sự thay đổi trong giáo dục đại học đã tạo nên sự khác biệt trong lịch sử nước Mỹ vào một thời điểm quan trọng, khi những cá nhân thuộc tầng lớp trung lưu đang nỗ lực định hình các mô hình nghề nghiệp mới, thành lập các tổ chức mới, theo đuổi các nghề nghiệp mới và tạo dựng một bản sắc cá nhân mới. Eliot hiểu những lo âu tụt hậu cũng như khát vọng của người Mỹ trong giai đoạn đất nước cần tiến hành cuộc công nghiệp hóa sau cuộc Nội chiến.Trường đại học là định chế giáo dục cao đóng vai trò cơ bản trong cuộc đấu tranh này; nó trở thành một thể chế trung tâm trong một xã hội cạnh tranh và coi trọng địa vị xã hội của cá nhân. Eliot đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này bằng cách thổi sức sống vào các trường đại học Mỹ vào thời điểm mà sự xa rời xã hội của chúng có nguy cơ đe dọa toàn bộ cấu trúc giáo dục đại học ở Hoa Kỳ và kềm hãm đà phát triển của xã hội. Có thể nói, các đại học nghiên cứu mang tính entrepreneurial, một cách gián tiếp.

Nhìn chung, trong một khoảng thời gian khoảng 3 thập niên trong nửa sau của thế kỷ XIX, những college tên tuổi đã được xác lập như đại học nghiên cứu. Thực tế, một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học Mỹ đã diễn ra ồ ạt trong những năm từ 1865 đến 1890. Những ý tưởng từng được tranh luận trên các tạp chí trước Nội chiến – hệ thống môn học tự chọn, chương trình sau đại học (graduate), các khóa học khoa học – đã trở thành hiện thực trong giáo dục. Những “dinh thự học thuật mới, hoành tráng hơn bất kỳ dinh thự nào mà quốc gia từng chứng kiến”, đã được xây dựng tại Cornell, Johns Hopkins, Clark, Stanford và Chicago; những “tòa tháp mới được thêm vào Harvard, Columbia, Yale và Princeton, cũng như Wisconsin, Michigan và Illinois”. (Metzger & Hofstadter) Những con số sau đây cho thấy lý tưởng nghiên cứu học thuật đã thâm nhập vào đại học Mỹ và được thuần hóa. Trước năm 1861, không một bằng tiến sĩ nào được trao bởi một cơ sở giáo dục của Mỹ; đến năm 1890, có 164 bằng tiến sĩ được trao; năm 1900, con số này đã tăng hơn gấp đôi. Năm 1871, tổng số sinh viên sau đại học tại các cơ sở giáo dục của Mỹ là 198; đến năm 1890, con số này đã tăng lên 2.872.

Nếu 1876 đại học nghiên cứu đầu tiên ra đời trên đất Mỹ, thì năm sau 1877 Đại học Tokyo chính thức được thành lập thời Minh Trị, là một trường đại học công lập, trước mắt có mục tiêu tiếp thu khoa học phương Tây và đào tạo công chức cho bộ máy nhà nước mới. Họ đã lên đường, rất sớm, trong một giai đoạn mới chưa từng có trong lịch sử. Đại học nghiên cứu sẽ xuất hiện đầu thế kỷ XX, tại Tokyo và Kyoto. Kyoto là đại học sẽ có hai nhà vật lý giải Nobel đầu tiên, Yukawa và Tomonoga. Đại học này là nơi được Einstein đến thăm đầu tiên năm 1922 trong chuyến đi thăm Nhật Bản của ông. (Xem chi tiết trong chương Trung Hoa và Nhật Bản: Sự du nhập đại học Đức trong sách ĐẠI HỌC). Trước đó, giai đoạn 1865-1875, nghĩa là trước Minh Trị (1868), vào những ngày cuối cùng của thời kỳ phong kiến Mạc phủ, khoảng một trăm thanh niên samurai bất chấp hiểm nguy tìm đường đến thị trấn nhỏ New Brunswick, New Jersey, bằng những cách khác nhau. Họ học ở Rutgers College. Một ngày nọ, TS. David Murray tình cờ gặp gỡ những thanh niên samurai trong lớp học toán của mình. Ông vô cùng ấn tượng trước “sự nhanh nhạy, khả năng học hỏi và tính chính trực trong mục đích” của họ đến nỗi gia đình Murray đã mở cửa nhà mình làm trung tâm sinh hoạt cho các học sinh Nhật Bản xa nhà. Ông mô tả họ là “những tấm gương về sự lịch sự, nhanh nhẹn và siêng năng”. Sau này Murray được chính phủ Nhật Bản thuê làm “Superintendent”, Giám đốc và cố vấn cho Bộ Giáo dục mới thành lập về việc thiết lập một hệ thống trường công lập hiện đại trong khoảng thời gian từ 1873 đến 1879 nhằm hiện đại hóa nhanh chóng Nhật Bản thông qua kinh nghiệm phương Tây.

TS. Guido Verbeck (23 tháng 1 năm 1830 – 10 tháng 3 năm 1898) với sinh viên năm 1868.

TS. David Murray (15 tháng 10, 1830 – 6 tháng 3, 1905)

Trước Murray, có một nhân vật rất ảnh hưởng khác đối với giáo dục Nhật Bản, TS. Guido Verbeck. Ông là người Mỹ gốc Hà Lan, dạy ngoại ngữ, chính trị và khoa học tại trường Yōgakusho (Trường Nghiên cứu Phương Tây) ở Nagasaki, từ tháng 8 năm 1864. Chẳng bao lâu, trường đã thu hút hơn một trăm học sinh, trong đó có những tên tuổi lớn như Ōkuma Shigenobu, Itō Hirobumi, Ōkubo Toshimichi, Sagara Tomoyasu và Soejima Taneomi. Các văn bản mà ông thường sử dụng là Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ. Ông là một trong những cố vấn nước ngoài quan trọng nhất phục vụ chính phủ Minh Trị và đóng góp vào nhiều quyết định quan trọng của chính phủ trong những năm đầu của triều đại Hoàng đế Minh Trị. Tháng 9 năm 1871, Bộ Giáo dục được thành lập và Verbeck trở thành cố vấn, đóng góp ý tưởng cho Sắc lệnh Giáo dục năm 1872 và Sắc lệnh Tuyển quân năm 1873. Verbeck cũng chính là người đề xuất với chính phủ Minh Trị chuyến đi Iwakura để tìm khai sáng phương Tây.

Nhật Bản thời Minh Trị đã thay đổi xã hội tận gốc rễ mà vẫn giữ được bản chất và truyền thống của họ. Người Nhật đã khôn ngoan tránh được cuộc đụng độ trực tiếp vô ích và có thể rất tai hại với các cường quốc phương Tây, bằng cách mở cửa và hợp tác nên đã giữ được chủ quyền và tự do. Và họ sống xứng đáng với tự do mà họ đã giữ được, để canh tân đất nước bứt phá, ráo riết thực hiện công nghiệp hóa, trở thành một cường quốc phương Tây ở phương Đông, vĩnh viễn thoát khỏi thân phận lạc hậu. Họ đã thay đổi văn hóa tư duy và cách làm ăn cũ, phát triển nội lực quốc gia theo theo cách phương Tây. Họ nhận thức sâu sắc được vấn đề, cội nguồn của sức mạnh phương Tây và nguồn gốc sự lạc hậu của các xã hội phương Đông. Cái gì đã thúc đẩy người Nhật đã canh tân đất nước như một cơn sốt? Vì họ có lòng tự trọng không muốn thua người khác, có óc tò mò, có ý chí học hỏi mạnh mẽ, tuân thủ logic phát triển của phương Tây. Có lẽ đó chính là những điều cụ Phan Châu Trinh muốn nói với người Việt khi trở về từ chuyến thăm Nhật Bản năm 1906. Khai dân trí là theo hướng đó, chi bằng học cũng theo hướng đó.

Nietzsche và tương lai của các định chế giáo dục

Trở lại câu chuyện giáo dục đại học. Tôi e sẽ chưa đầy đủ, nếu chưa nói đến yế tố văn hóa. Đại học Berlin, theo tinh thần của Humboldt, còn là sự thể chế hóa của Bildung, khái niệm kiến tạo con người và tinh thần trước sự sụp đổ, để làm cho văn hóa quốc gia mạnh mẽ lên sau chấn thương do sự thất trận đau đớn trước Napoleon, hàn gắn lại sự tan rã xã hội-chính trị, tái tạo một văn hóa quốc gia mới. Đại học là “đỉnh cao, mà ở đó tất cả những gì đã diễn ra trực tiếp cho nền văn hóa quốc gia được hội tụ lại”, như ông viết trong Tinh thần và Cơ cấu tổ chức của các Thể chế khoa học cao ở Berlin. (Xem sách ĐẠI HỌC) Và sự kiến tạo tinh thần ấy phải dựa trên Khoa học (Wissenschaft) theo nghĩa rộng của các khoa học tinh thần, xã hội, triết học, và khoa học tự nhiên. Khoa học tự nhiên, như đã nói, ban đầu chưa phải là hấp lực trong những thập kỷ đầu, mà dần dần thâm nhập ngang hông vào đại học rồi xã hội. Con người không chỉ được mở mang, phát triển về khoa học mà còn cần về văn hóa.

Nietzsche là người rất quan tâm về giáo dục (Bildung) muốn giữ được chất văn hóa cho nó, trong thời đại mà cuộc công nghiệp hóa xung quanh đang tiến nhanh như vũ bão. Ông có tầm nhìn xa hơn thời đại. Con người như không còn thời gian để chiêm nghiệm (contemplate) nội dung học, triết lý, như những thời xa xưa, mà chỉ nhắm tới những kết quả thực dụng trước mắt nhiều hơn. Năm 1872, một năm sau khi Phổ thắng Pháp và nước Đức thống nhất, Nietzsche trình bày một chuỗi năm bài giảng tại Đại học Basel, có tên “Über die Zukunft unserer Bildungsanstalten” – Về tương lai của các cơ sở giáo dục của chúng ta. Trước đó, Nietzsche đã từng “tiên đoán”, với chiến thắng, văn hóa Đức sẽ đi xuống, điều lịch sử đã chứng minh sau đó. Một trích đoạn từ bài giảng nói trên của Nietzsche liên quan đến văn hóa trong giáo dục và học thuật:

Những người ‘độc lập’ trong giới học thuật của chúng ta tiếp tục cuộc sống mà không cần triết học, không cần nghệ thuật: vậy thì tại sao họ lại có mối quan tâm dính líu đến người Hy Lạp và La Mã, những người mà chẳng ai còn có lý do gì để giả vờ tôn vinh nữa, và hơn nữa, họ đang ngự trị một cách uy nghi và xa lạ trên những ngai vàng xa xôi, gần như không thể tiếp cận được? Do đó, các trường đại học ngày nay, một cách hoàn toàn logic, không hề dành một sự chú ý nào đến những xung lực văn hóa (nghiêng ược thêm vào) đã hoàn toàn biến mất này, và họ thiết lập các chức danh giáo sư ngữ văn chỉ để đào tạo các thế hệ tương lai có tư duy ngữ văn thuần túy, những người sau đó lại chịu trách nhiệm chuẩn bị ngữ văn cho học sinh trường trung học – một vòng đời không mang lại lợi ích cho cả các nhà ngữ văn học lẫn các trường trung học, nhưng lại một lần nữa điều đó bác bỏ tuyên bố của trường đại học rằng họ tự hào tuyên bố mình là: một định chế văn hóa. Bởi vì nếu loại bỏ người Hy Lạp (chưa kể người La Mã) cùng với triết học và nghệ thuật của họ, thì quý vị có thể dùng thang nào để leo lên văn hóa? Nếu quý vị cố gắng leo lên mà không có những trợ thủ này, thì tôi phải thông báo với quý vị rằng tất cả kiến ​​thức uyên bác của quý vị sẽ đè nặng lên vai quý vị như một gánh nặng chứ không phải là đôi cánh đưa quý vị bay cao.

Wilhelm von Humboldt là con người văn hóa như thế. Chủ nghĩa tân-nhân văn của nước Đức thế kỷ XVIII từng lấy Hy Lạp làm hình mẫu để phát triển. Người Đức không tự ví mình như những người La mã (chiến chinh), mà thấy gần gủi với dân tộc Hy lạp hơn, một dân tộc đã thiết lập sự hiện hữu vĩnh cửu của mình trong thế giới ý tưởng của triết học, khoa học, văn học và nghệ thuật hơn là trong quân sự hay chính trị. Thế giới Hy lạp là sự biểu lộ cao nhất của con người. Hãy học, hãy đào tạo con người theo Hy lạp! Phát triển con người thành toàn diện, bản chất (của con người) đến hoàn hảo, đó là khẩu hiệu và là chương trình hành động quốc gia. Con người không phải là con rối được tạo dựng theo sơ đồ của ước lệ xã hội, mà là những nhân cách được xây dựng từ bên trong, những con người tự do, xây dựng tác phẩm nghệ thuật của cuộc đời bằng sức sáng tạo của mình, cũng là tác phẩm nghệ thuật của một xã hội công dân tự do. (Xem Nước Đức Thế Kỷ XIX). Đối với Nietzsche, văn hóa không phải là sự tích lũy tri thức, mà là sự nâng cao sức sống, thậm chí đó là môi trường nuôi dưỡng “thiên tài”, vượt lên khỏi những cái ước lệ.

Giáo dục đại học Hoa Kỳ được thiết kế có phần giáo dục khai phóng của Anh, thêm phần nghiên cứu của Đức, có lẽ nhằm giảm bớt nguy cơ sinh viên trở thành xa lạ và nông cạn với những gì giáo dục đại học đem lại cho họ. Thực tế, các học giả phương Tây cho thấy, phần lớn họ vẫn giữ được và thể hiện phần văn hóa tinh túy từ dòng sữa mẹ Hy Lạp, thể hiện qua các quyển sách hay luận văn của họ có chiều sâu học thuật. Việt Nam ngược lại đang đứng trước những nhiệm vụ lớn hơn: tạo được trình độ học thuật như của thế giới, và có chiều sâu văn hóa học thuật.

Văn hóa của Hy Lạp là ngọn hải đăng xa của lịch sử, nhưng có sức tỏa sáng mạnh mẽ xuyên thời đại mà ai cũng có thể thấy. Nó không phải là ánh sáng thường của năng lượng yếu, mà là ánh sáng cực tím mang nhiều năng lượng. Nó kích thích óc sáng tạo và mở rộng tầm nhìn, mở rộng không gian sáng tạo cho những ai biết nhìn thấy nó. Lịch sử thế giới cho thấy văn hóa Hy Lạp luôn luôn là sự kích thích của phát triển.
Magnus Egerstedt, hiệu trưởng Đại học Bắc Carolina, Chapel Hill và chuyên gia về robot, gần đây phát biểu với Forbes, rằng ông “đang dự đoán một sự hồi sinh của giáo dục khai phóng. Thành công [trong thời đại AI] liên quan nhiều hơn đến giáo dục khai phóng. Chúng tôi tập trung vào sự sáng tạo, tính tò mò và khả năng giải quyết vấn đề.” Thời Trung cổ, giáo dục khai phóng đã đi đến tận cùng văn hóa Hy Lạp. Và văn hóa này đã lập trình cho sự phát triển phương Tây, một cách biện chứng.
Hôm nay, kỷ niệm Charles Eliot, chúng ta mong chờ một sự tiếp sức tinh thần và kinh nghiệm của ông và của Daniel Gilman, hai nhà giáo dục đại học vĩ đại của Hoa Kỳ, cho đại học Việt Nam chuyển mình. Để những hạt giống đó nảy nở và phát triển tốt, mảnh đất Việt Nam nên màu mỡ hơn và sẵn sáng học hỏi hơn những cái mới, như tinh thần học hỏi mấy ngàn năm trong lịch sử nhân loại, tiền đề của mọi sự phát triển và tiến hóa.

Hy vọng bài viết cũng thuộc về cái tôi tạm gọi

Khai sáng Phan Châu Trinh.

Và trong tinh thần của David Hilbert,

Chúng ta phải hiểu. Chúng ta sẽ hiểu.

 

Nguyễn Xuân Xanhtháng Tư, 2026

 

Diễn văn chào mừng của Charles W. Eliot

Trường đại học lâu đời nhất đất nước trân trọng chào đón trường đại học trẻ nhất, và hoan nghênh một đồng minh xứng đáng — một đồng minh mạnh về nguồn lực vật chất và mục tiêu cao cả.

Tôi xin chúc mừng các vị, các thành viên Hội đồng Quản trị Đại học Johns Hopkins, về công việc cao cả mà các vị đang đảm nhiệm. Một tài sản lớn, một phần quan trọng của thành quả sau một cuộc đời dài cống hiến với nghị lực và sự khôn ngoan để tích lũy của cải, đã được trao vào tay các vị, với những điều kiện hào phóng và khôn ngoan, để sử dụng vì lợi ích công cộng, nhằm cung cấp cho các thế hệ tương lai những phương tiện quý giá của nền văn hóa khai phóng. Hội đồng của các vị có quyền lực rất lớn. Hội đồng phải nắm giữ và quản lý tài sản của trường đại học, bổ nhiệm tất cả các vị trí, ấn định tất cả các mức lương, và trong khi để lại các chi tiết lập pháp và hành chính cho các khoa khác nhau mà hội đồng sẽ thành lập, hội đồng cũng phải quy định các luật chung của trường đại học. Trách nhiệm và công việc của các vị sẽ ngày càng nặng nề theo thời gian; nhưng theo một thông lệ đáng ngưỡng mộ, may mắn được thiết lập ở đất nước này, các vị sẽ phục vụ mà không có bất kỳ khoản thù lao nào khác ngoài sự tôn trọng của công chúng dành cho chức vụ của các vị, và cảm giác hạnh phúc khi được làm người hữu ích. Tinh thần chủ đạo của Hội đồng quản trị quý vị sẽ là tinh thần trung thành tuyệt đối với mọi trọng trách được giao phó, và lòng nhiệt thành không mệt mỏi trong việc thúc đẩy phúc lợi của trường Đại học và sự tiến bộ của tri thức. Xét về tính khách quan, lòng nhân ái và tính bền vững, chức năng của quý vị trong sạch và cao cả hơn bất kỳ chức năng nào mà thế giới biết đến, hoặc trong suốt lịch sử. Mong rằng công việc mà quý vị thực hiện trong việc hoàn thành trọng trách thiêng liêng này sẽ được thế hệ hiện tại đón nhận với sự cảm thông và lòng kỳ vọng, và được thế hệ mai sau ngưỡng mộ và biết ơn.

Trường đại học được xây dựng nhờ sự hào phóng của Johns Hopkins phải là một trường không thuộc bất kỳ giáo phái nào. Không có trường nào khác phù hợp hơn để thành lập tại thành phố mang tên người sáng lập Công giáo của một thuộc địa mà tất cả các giáo phái Kitô giáo đều được chào đón, hoặc tại tiểu bang mà sự khoan dung tôn giáo được tuyên bố rõ ràng nhân danh chính phủ lần đầu tiên trong lịch sử thế giới Kitô giáo. Có một quan điểm quá phổ biến cho rằng một trường cao đẳng hoặc đại học không thuộc một giáo phái nào thì nhất thiết phải vô thần; nhưng việc không có sự kiểm soát của giáo phái không nên bị nhầm lẫn với sự thiếu tính mộ đạo. Một trường đại học mà các quan chức và sinh viên được chia thành nhiều giáo phái khác nhau không nhất thiết phải thiếu tôn kính và vô thần hơn cộng đồng mà nó giống về sự đa dạng tín ngưỡng. Sẽ là một điềm báo đáng sợ nếu việc nghiên cứu kỹ lưỡng về tự nhiên và con người trong tất cả các thuộc tính và công việc của họ, như điều phù hợp với một trường đại học, dẫn các học giả đến sự bất kính Chúa. Nhưng điều đó không xảy ra; ngược lại, việc nghiên cứu như vậy làm cho con người thấm nhuần với sự khiêm nhường và kính sợ, bằng cách đưa họ đến trước những bí ẩn không thể hiểu nổi và sức mạnh vô hạn. Toàn bộ hoạt động của một trường đại học mang tính chất nâng cao, hoàn thiện và giáo dục tâm linh; nó hàm chứa:

Bất cứ điều gì chạm đến sự sống

Với động lực hướng lên; dù Ngài ở đâu đi nữa,

Chúa hiện diện trong tất cả những gì giải phóng và nâng đỡ,

Trong tất cả những gì làm cho ta khiêm nhường, tươi vui và an ủi.

Một trường đại học không thể được xây dựng trên nền tảng của một giáo phái, trừ khi đó là một giáo phái bao gồm toàn bộ tầng lớp trí thức của quốc gia. Trường Đại học này sẽ không yêu cầu các giảng viên và sinh viên của mình tuân theo tín ngưỡng, hay ép buộc họ chấp nhận giáo lý của bất kỳ tổ chức tôn giáo cụ thể nào; nhưng dù vậy — tôi muốn nói thêm nữa — trường vẫn có thể tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ về mặt đạo đức và tôn giáo thông qua những nhà giáo dục có tinh thần cao thượng. Trường có thể gieo vào tâm hồn non trẻ của sinh viên những tình cảm cao cả và hoài bão đáng trân trọng; trường có thể thấm nhuần vào trái tim họ ý thức về danh dự, bổn phận và trách nhiệm.

Tôi xin chúc mừng thành phố Baltimore, thưa ngài Thị trưởng, rằng chỉ trong vài thế hệ nữa, thành phố sẽ trở thành dinh phủ của một trường đại học giàu có và quyền lực. Đối với người dân thành phố, khuôn viên và các tòa nhà của trường với thới gian sẽ trở thành những đối tượng đáng quan tâm và của lòng tự hào. Thư viện và các bộ sưu tập khác của một trường đại học là kho tàng tri thức mà nhân loại đã tích lũy được, từ đó những phát minh và cải tiến sẽ tiếp theo nảy sinh. Chúng là những tài sản quý giá cho bất kỳ cộng đồng trí thức nào. Văn hóa xã hội sẽ chịu ảnh hưởng rõ rệt của sự hiện diện của một số lượng đáng kể những người có trình độ học vấn cao, những người có cuộc sống yên tĩnh và giản dị dành cho triết học và giảng dạy, thay vì theo đuổi những mục tiêu thông thường của con người. Trường đại học sẽ đề cao các tiêu chuẩn về nghĩa vụ và tinh thần cộng đồng, và sẽ mở rộng tầng lớp trí thức đặc trưng không phải bởi sự giàu có đơn thuần, mà còn bởi sự tinh luyện và tính chất tinh thần.

Tôi chúc mừng tiểu bang Maryland, mà sự có mặt của người đứng đầu chính quyền đã ban vinh dự cho hội nghị này, để thành lập trong phạm vi lãnh thổ của mình một cơ sở giáo dục đại học độc lập. Trường tiểu học không cần thiết hơn trường đại học đối với sự tồn tại của một quốc gia tự do. Hệ thống trường công lập phụ thuộc vào các cơ sở giáo dục đại học, và không thể duy trì hiệu quả thực sự nếu thiếu chúng. Chức năng của các trường cao đẳng, đại học và trường dạy nghề phần lớn là chức năng công cộng; công việc của chúng chủ yếu hướng đến cá nhân, nhưng cuối cùng là vì lợi ích công cộng. Chúng góp phần rất đáng kể trong việc hình thành và uốn nắn đúng đắn nhân cách công cộng; và nhân cách công cộng đó là nền tảng của mọi thứ quý giá trong tiểu bang, bao gồm cả sự thịnh vượng vật chất. Bằng việc đào tạo con người một cách bài bản cho các ngành nghề luật và y khoa, trường đại học này sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Maryland và các tiểu bang lân cận. Trong bốn mươi năm qua, các quy định về việc tuyển sinh vào những ngành nghề cao quý và được tin cẩn này đã bị nới lỏng một cách bất cẩn ở hầu hết các tiểu bang trong Liên bang, và giờ đây chúng ta đang phải chịu những tổn thất và thiệt hại lớn, cả về vật chất và tinh thần, do hậu quả của việc từ bỏ một cách thiếu suy nghĩ những phương pháp an toàn hơn của cha ông ta. Các trường đại học hàng đầu của đất nước có trách nhiệm cung cấp đầy đủ phương tiện để đào tạo thanh niên một cách bài bản cho các ngành nghề đòi hỏi trình độ học vấn cao, và thiết lập tiêu chuẩn cao cho bằng cấp chuyên môn.

Thưa Chủ tịch Gilman, hội nghị đáng kính này đã tụ họp để chúc ngài hưởng lộc hồng ân của Chúa. Tôi chào mừng ngài đến với những nhiệm vụ gian khổ và trách nhiệm nặng nề. Trong dòng đời tự nhiên, ngài sẽ không được chứng kiến phần lớn thành quả thực sự của công sức mình; bởi vì xây dựng một trường đại học không chỉ cần nhiều năm, mà còn cần nhiều thế hệ; nhưng mặc dù “những việc dang dở sẽ đè nặng lên người thực hiện”, và những lo lắng đôi khi sẽ là mối khổ tâm cho ngài, chức vụ của ngài vẫn gắn liền với những đặc ân to lớn. Đó là một đặc ân quý giá khi trong công việc thường nhật, ngài chỉ phải làm việc với những người có văn hóa nâng cao và phẩm giá; thật là một cảnh tượng vui mừng và phấn chấn khi thấy những thế hệ thanh niên nối tiếp nhau bước vào cuộc chiến sinh tồn, tràn đầy hy vọng và lòng dũng cảm, và mỗi năm được trang bị tốt hơn cho cuộc chiến đấu; đó là một đặc ân khi được phục vụ xã hội và đất nước bằng cách nâng cao phương tiện văn hóa; nhưng trên hết, ngài sẽ có được niềm hạnh phúc lớn lao khi cống hiến cả đời mình cho một công việc công cộng cao cả mà không chút dè dặt, không tiếc nuối, không nghĩ đến bản thân, không tìm kiếm sự thăng tiến, “không mong chờ một điều gì nữa”. Với kinh nghiệm thực tế, tôi hiểu rõ bản chất của trọng trách mà hôm nay các bạn chính thức đảm nhận, quen thuộc với những lo toan và khó khăn, những hy vọng và sợ hãi, những thử thách và thành công của nó. Tôi chúc các bạn vui mừng với công việc được giao và chào đón các bạn đến với một sứ mệnh đòi hỏi mọi năng lực của mình.

Sự vĩ đại thực sự của một quốc gia không nằm ở lãnh thổ, doanh thu, dân số, thương mại, mùa màng, hay hàng hóa sản xuất, mà nằm ở những giá trị tinh thần hay phi vật chất; ở sự tinh khiết, cũng cảm và chính trực của dân tộc đó, ở thi ca, văn chương, khoa học và nghệ thuật mà dân tộc đó đã sản sinh ra, ở giá trị đạo đức của lịch sử và cuộc sống của họ. Đối với các quốc gia, cũng như cá nhân, chỉ có ưu việt về đạo đức mới là bất biến và mãi mãi mang lại lợi ích. Các đại học, nếu được dìu dắt khôn ngoan, sẽ tích lũy vốn trí tuệ của nhân loại và trở thành nguồn sức mạnh tinh thần và đạo đức. Vì vậy, cả nước chúng ta có thể cùng vui mừng với các bạn vì các bạn đang thành lập ở đây một trung tâm học thuật và lòng mộ đạo (piety) xứng đáng. Ở đây, những bước chân trẻ trung, tránh xa những lối mòn xấu xa của dục vọng thấp hèn và tham vọng trần tục, có thể khiêm tốn bước theo dấu chân của những người quá cố lừng lẫy – các nhà thơ, nghệ sĩ, triết gia và chính khách của quá khứ; ở đây, những mái đàu tươi rói có thể thám hiểm những vùng đất mới và gia tăng kho tàng kiến thức lên; ở đây chốc chốc những vĩ nhân có thể được đào tạo để trở thành những nhà lãnh đạo của dân tộc; ở đây ánh sáng rực rỡ của thiên tài chốc chốc loé lên để làm hoan hỉ nhân loại; trên hết, ở đây nhiều thế hệ của thanh niên có thể học lấy sự chính trực.

Charles William Eliot, 1876

Mời đọc những bài viết gần đây:

Xem thêm về Đại học Đức và thế giới từ thời Trung cổ đến hiện đại bao gồm đại học Hoa Kỳ ở đỉnh cao thời hậu chiến trong cuốn sách ĐẠI HỌC được giới thiệu ở đây:

Giới thiệu sách ĐẠI HỌC

18 Tháng Một, 2019

 

Tham khảo

[1] Metzger, Walter G., & Hofstadter, Richard, Academic Freedom in the Age of University. Columbia University Press, 1969.

[2] Menand, Louis & Reitter, Paul & Wellmon, Chad (ed.), The Rise of the Researd University. A Sourcebook. University of Chicago Press, 2017.

[3] Benjamin Duke, Dr. David Murray, Superintendent of Education in the Empire of Japan, 873-1879. Rutgers University Press, 2019.

[4] Nguyễn Xuân Xanh, Nước Đức Thể Kỷ XIX. ZENBOOK, 2019.

[5] Nguyễn Xuân Xanh, ĐẠI HỌC. Định chế giáo dục cao thay đổi thế giới từ Trung cổ đến Hiện đại. NXB Tổng hợp, 2019.