Về
TỰ DO HỌC THUẬT
của
CÁC ĐẠI HỌC ĐỨC
ÜBER DIE
AKADEMISCHE FREIHEIT
DER
DEUTSCHEN UNIVERSITÄTEN
Diễn văn nhậm chức Hiệu trưởng của Đại học Berlin (Humboldt)
Ngày 15 tháng 10, năm 1877
Hermann von Helmholtz
Mai Lý và Nguyễn Xuân Xanh chuyển ngữ

Đại học nghiên cứu là một dạng đặc biệt của loại trường bắt đầu ở Đức trong thế kỷ 19, và đầu tiên được du nhập vào Hoa Kỳ thời gian chưa lâu, đầu tiên tại Johns Hopkins, khoảng một thế kỷ trước. Các đại học chúng ta là chỗ tuyệt vời cho các thành viên khoa và sinh viên cao học làm nghiên cứu, và chính chúng vô cùng quan trọng cho đất nước chúng ta. Tôi tin rằng không có các đại học nghiên cứu lớn, chúng ta ở Hoa Kỳ sẽ phải tự nuôi sống bằng cách trồng đậu nành, và giới thiệu Grand Canyon cho du khách từ Đức và Nhật Bản. […] Sau hơn hai mươi năm tham gia các cuộc họp khoa, tôi có thể nói chưa bao giờ thấy một nhà vật lý được thuê vì anh ta hay cô ta là một người dạy giỏi, mà vì một nhà nghiên cứu giỏi.
— Steven Weinberg, Nhà vật lý hạt Mỹ giải Nobel 1979

Hermann von Helmholtz (1821-1894) Credit Sheila Terry/ Science Photo Library
Dẫn nhập
Sau khi đăng bài viết về hiệu trưởng Charles W. Eliot của Đại học Harvard trong tuần trước, tôi cảm thấy cần đăng tiếp bài Diễn từ dưới đây của Hermann von Helmholtz bàn về Tự do học thuật của Các Đại học Đức – như một sự bổ sung cần thiết. Đề tài này đã được bàn bạc nhiều trong sách ĐẠI HỌC mấy năm trước, nhưng tôi nghĩ vẫn nên được tiếp tục. Charles Eliot ví Tự do học thuật (Lehrfreiheit và Lernfreiheit) giống như Phúc âm, để các đại học nghiên cứu tạo ra phúc lợi. Tự do học thuật giống như một công cụ rất powerful, có thể ví như viễn vọng kính đầu tiên của Galilei, để nhìn thấy thế giới ở những nơi xa xôi mà mắt thường và óc tưởng tượng con người không thể hình dung tới. Và thật vậy, chiếc viễn vọng kính tự tạo của ông đã mở màn cho thời đại thiên văn học viễn vọng kính, và thời đại này tiến hóa rất mạnh mẽ cho tới ngày nay. Tương tự, Tự do học thuật cũng đã mở màn cho thời đại đại học nghiên cứu ở đó nó đóng vai trò cốt lõi cho sự phát triển.
Đại học, đặc biệt đại học nghiên cứu, có sức cải tạo xã hội, xây dựng lại con người mạnh mẽ, như thường thấy ở các quốc gia bị yếu thế, như đại học Berlin năm 1810, hay đại học Bắc Kinh năm 1919, hay đại học Tokyo năm 1877. Nếu không có tính chất phụng sự xã hội đắc lực, thì đại học không thể tồn tại từ thời Trung cổ cho đến ngày nay. Tại các quốc gia phát triển, không một quốc gia nào là ngoại lệ không có đại học nghiên cứu gắn liền với nghiên cứu và có tính chất tự do học thuật.
Aristotle có niềm tin mạnh mẽ con người luôn luôn đi tìm tri thức. Điều này đã được chứng minh sống động tại các đại học Trung cổ kéo dài cả nghìn năm. Sinh viên, các nhà thần học, các giáo phụ (church father) háo hức đi tìm tri thức – từ mọi nơi trên thế giới, cũng như người Nhật Minh Trị sau này. Họ tìm tri thức từ thế giới Hy Lạp và Hồi giáo tại và từ những vùng đất Hy lạp hóa. Họ nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thành một quyển sách cho một đức tin xuất hiện kịp thời để cứu rỗi thế giới sau khi đế chế La Mã tan rã, và họ muốn đức tin đó phải dựa trên nền tảng của lý tính và khoa học chặt chẽ. Họ không đơn thuần thỏa mãn với các tín điều của đức tin. Họ muốn biết tại sao họ tin.
Nếu người dân, đặc biệt các tầng lớp thị dân tại các thành phố mới nổi của phần đất chúng ta gọi là Châu Âu (Tây) thời Trung cổ, không có đam mê học hỏi và phát triển lý tính, học thuật, nếu họ chỉ biết an phận dựa vào các tín điều của đức tin, thì phần đất đó không thể phát triển mạnh mẽ như đã diễn tiến sau đó. Họ sẽ không thể có khoa học, công nghệ và những cuộc cách mạng công nghiệp để cải thiện một cách bứt phá không đảo ngược được đời sống và nền kinh tế nông nghiệp kéo dài đã mười nghìn năm.
Một quốc gia riêng lẻ cũng thế. Nếu không có một tầng lớp tinh hoa khao khát tri thức, học hỏi và khám phá, hoặc họ bị kềm hãm khỏi sự theo đuổi tự do những bẩm tính khao khát tự nhiên của con người, thì sẽ không có đại học nghiên cứu để đổi đời, quốc gia lột xác, lịch sử thay đổi mãi mãi dòng chảy.
Trong bài viết về Einstein gần đây, tôi có giới thiệu một phần tiểu sử của nhà bác học Hermann von Helmholtz của thế kỷ XIX. Nay xin viết tiếp một số điểm quan trọng về nhân vật mang tính lịch sử này.
Hermann von Helmholtz là một nhà sinh lý học và vật lý học người Đức, là một trong những nhà khoa học tự nhiên đa năng nhất thời ông và còn có biệt danh “Chancellor of Physics“. Từ 1842 đến năm 1894, Helmholtz là một trong những nhà sinh lý học và vật lý hàng đầu, và ông cũng có những đóng góp quan trọng cho tâm lý học, toán học, hóa học và khí tượng học. Ông là giáo sư sinh lý học tại Heidelberg từ năm 1858 đến năm 1871, giáo sư vật lý tại Berlin từ năm 1871 cho đến khi qua đời năm 1894. Hơn nữa, ông đã phát minh ra một loạt các dụng cụ vật lý quan trọng. Phát minh kính soi đáy mắt năm 1851 của ông là một thành tựu nổi bật trong y học, giúp chứng minh giá trị thực tiễn của sinh lý học và vật lý đối với y học lâm sàng; tác phẩm âm nhạc học mang tính đột phá của ông, “Về cảm giác âm thanh như là nền tảng sinh lý của âm nhạc”, đã chỉ ra cách khoa học có thể giúp làm phong phú thêm sự hiểu biết về âm nhạc.
Những bài giảng khoa học nổi tiếng và thành công vang dội của ông đã giúp giáo dục công chúng về bản chất của khoa học nói chung và về những kết quả quan trọng gần đây của nó; và cuối cùng, việc ông thành lập và lãnh đạo Viện Vật lý-Kỹ thuật Hoàng gia, Physikalische-Technische Reichsanstalt, một tổ chức chuyên về đo lường và, nói rộng hơn, về việc thúc đẩy sự phát triển song song của vật lý và công nghệ công nghiệp, đã khiến ông được nhiều người nhìn nhận không chỉ như một nhà khoa học hàn lâm mà còn là người đã giúp kết nối khoa học với công nghiệp. Cũng chính tại nơi này mà các phép đo đạt phát xạ nhiệt của các vật thể đen đã làm lộ mâu thuẫn với định luật bức xạ của Wien đối với bức xạ bước sóng dài, dẫn Max Planck tới “hành động tuyệt vọng” năm 1900 là chia bức xạ nhiệt thành các phần riêng biệt – gọi là lượng tử, nền tảng của vật lý lượng tử sau đó.
Để vinh danh ông, bên cạnh Hiệp hội Max Planck lâu đời hơn, từ năm 1995, Hiệp hội các Trung tâm Nghiên cứu Đức Helmholtz ra đời, một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu lớn ngoài trường đại học, gồm 18 trung tâm hiện nay, ngoài ra còn có thêm nhiều Viện nghiên cứu hoạt động hợp tác với các đại học. Ngân sách hàng năm lên tới hơn 6 tỷ Euro.
Helmholtz không những có ảnh hưởng lên sự phát triển khoa học, mà còn có ảnh hưởng rất lớn lên chính sách phát triển khoa học ở tầm quốc gia, sau Alexander von Humboldt. Ông sống trong thời đại huy hoàng của nước Đức sau khi các vương quốc Đức được thống nhất năm 1871. Kinh tế và Khoa học phát triển bùng nổ (Gründerjahre). Dân số Berlin tăng trưởng rất nhanh, từ 432. 000 năm 1849 lên 826.000 năm 1871, và đến năm 1890 vụt lên gấp đôi đạt 1, 6 triệu. Đặc biệt sau năm 1871, Berlin nhanh chóng trở thành một thành phố công nghiệp hiện đại, như đã bắt đầu từ những năm 1860: nền kinh tế chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp công nghiệp, thương mại, tài chính và truyền thông. Đặc biệt Berlin được biết đến với biệt danh “Thành phố điện” (“Electropolis”). Nếu Berlin những năm 1870 là một công trường xây dựng khổng lồ, thì đến đầu những năm 1880, nó đã trở thành một thành phố quốc tế, Weltstadt. (Xem thêm Nước Đức Thế Kỷ XIX)
Ông thúc đẩy phát triển Viện hàn lâm Khoa học Phổ, đề bạt nhiều tên tuổi vào những vị trí quan trọng, đặc biệt những tài năng như Hertz, Planck. Viện Hàn lâm này được thành lập năm 1700 bởi Frederick III của Brandenburg, sau này là vua Frederick I của Phổ. Vai trò chủ chốt trong việc thành lập viện là nhà triết, toán học Gottfried Wilhelm Leibniz, người giữ chức chủ tịch đầu tiên.
Trong 24 năm, từ 1871 đến 1894, Helmholtz giữ chức vụ thành viên chính thức của Viện Hàn lâm Khoa học. Trong vai trò này, cùng với các hoạt động với tư cách là giáo sư vật lý, ông đã giúp biến Berlin, giống như London, Paris, Edinburgh và Rome, thành một trong những thủ đô khoa học của châu Âu. Viện Hàn lâm là tổ chức khoa học danh giá nhất của Phổ.
Từ năm 1873 đến năm 1892, ông đề cử bảy cá nhân trở thành thành viên chính thức, trong số đó có bốn người: Siemens, Kundt, Boltzmann và Planck. Boltzmann rất tiếc không đến Berlin. Năm 1894, trong một trong những hành động cuối cùng của mình tại học viện, Helmholtz đã đề cử Planck, người trên thực tế đã thay thế vị trí của Helmholtz tại học viện và cả trong nhiều khía cạnh khác. Nếu có bất kỳ cá nhân nào có thể hiện thân cho di sản của Helmholtz tại học viện, thì đó chính là Planck, và ông đã làm điều đó trong phần lớn nửa đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, cùng với du Bois–Reymond ông đã đưa người bạn Kirchhoff từ Heidelberg đến Berlin và trở thành thành viên của Học viện, giúp hiện đại hóa sự tham gia của Viện Hàn lâm trong lĩnh vực vật lý.
Năm 1889, Planck trở thành giám đốc của Viện Vật lý Lý thuyết mới tại trường đại học Berlin. Ông có cơ hội quen biết Helmholtz cả về mặt cá nhân và chuyên môn. Hơn nửa thế kỷ sau, ông viết về Helmholtz làm hé lộ nhân cách của Helmholtz như sau:
Xét trên toàn bộ nhân cách của ông, trong phán đoán liêm khiết, bản chất giản dị, ông thể hiện giá trị và tính chân thực của ngành khoa học mà ông theo đuổi. Hơn nữa, ông còn có một lòng tốt sâu sắc chạm đến trái tim tôi. Khi ông nhìn tôi trong cuộc trò chuyện với ánh mắt thấu suốt, dò xét nhưng vẫn đầy thiện ý, tôi tràn ngập một cảm giác chấp nhận vô bờ bến, như một đứa trẻ. Tôi sẵn sàng trao cho ông tất cả những gì trong trái tim mình, với niềm tin chắc chắn rằng tôi sẽ tìm thấy ở ông một vị thẩm phán công minh và khoan dung. Một lời công nhận, chứ đừng nói đến lời khen ngợi, từ ông cũng có thể khiến tôi hạnh phúc hơn bất kỳ thành công nào từ bên ngoài.
Helmholtz dạy rất nhiều. Trong những năm 1871–1888, khi Helmholtz là giáo sư vật lý tại Đại học Berlin, các nhà vật lý từ khắp nơi trên thế giới đã đổ về Berlin để học tập và nghiên cứu cùng ông. Trong số đó, ngoài Max Planck, có các nhà vật lý người Đức Heinrich Kayser, Eugen Goldstein, Wilhelm Wien và Heinrich Hertz, cùng nhiều học trò từ Hoa Kỳ, như Henry Rowland, A. A. Michelson, Michael Pupin. Trong số này có cả Alexander Graham Bell, người sau này thành lập Phòng thí nghiệm Bell Labs vĩ đại.
Đối với Mỹ, Helmholtz đã có công rất lớn trong việc định hình giới tinh hoa vật lý tương lai của quốc gia non trẻ này trong thời kỳ hoàng kim (Gilded Age, 1870 -1900) sau cuộc Nội chiến. Michelson là “nghiên cứu sinh sau tiến sĩ”. Chính tại viện Berlin, Michelson, với sự tư vấn của Helmholtz, đã lần đầu tiên thiết kế và phát triển giao thoa kế và các phương pháp liên quan để phát hiện chuyển động của trái đất trong môi trường ether. Công trình này hết sức quan trọng, và nhờ đó sau này, năm 1907, Michelson đã giành được giải Nobel Vật lý đầu tiên cho nước Mỹ. Những ý tưởng và học trò của Helmholtz đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của vật lý vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Vào cuối hè, đầu thu năm 1893, sau nhiều lần được mời, Helmholtz lên đường chính thức thăm nước Mỹ. Về mặt chính thức, ông đến với tư cách là người đứng đầu phái đoàn Đức tham dự Đại hội Điện quốc tế tại Chicago, được tổ chức cùng với Triển lãm Thế giới mừng Chrispoher Columbus đến Mỹ 400 năm; về mặt không chính thức, chuyến đi của ông nhằm thực hiện mong muốn cá nhân từ lâu là được đến thăm nước Mỹ. Báo chí Mỹ và một bộ phận cộng đồng học thuật Mỹ đã dành nhiều sự chú ý đặc biệt cho chuyến thăm của ông. Các thành phần trong giới công nghiệp, tài chính và thậm chí cả chính trị ưu tú của Mỹ cũng vậy, họ tìm cách làm quen và thể hiện tình bạn cũng như lòng hiếu khách của mình. Trên thực tế, chuyến thăm của ông là chuyến thăm được ca ngợi nhất của bất kỳ nhà khoa học nào đến Mỹ trong thế kỷ XIX, hơn xa các chuyên thăm của John Tyndall, William Thomson, T.H. Huxley và Alfred Russell Wallace. Có lẽ chỉ có các chuyến thăm của Marie Curie và Albert Einstein sau này (1921) là được ca ngợi nhiều hơn.
Helmholtz được tiếp đón đặc biệt, như một sự cộng hưởng của danh tiếng khoa học của ông và khát vọng của người Mỹ phát triển khoa học và ứng dụng mạnh mẽ trong giai đoạn hoàng kim sau cuộc Nội chiến. Những lý tưởng và giá trị khoa học mà Helmholtz đại diện đã tìm thấy sự đồng cảm trong bối cảnh khoa học Mỹ đang phát triển nhanh chóng. Đó đồng thời cũng là giai đoạn các colleges Mỹ chuyển mình để trở thành đại học nghiên cứu theo mô hình Đức, cung cấp chương trình sau đại học và bằng tiến sĩ. Các cơ sở mới như Cornell, Johns Hopkins, Clark và Chicago, và các cơ sở lâu đời hơn như Harvard, Yale và Columbia là những ví dụ điển hình, nổi tiếng về sự phát triển này, hay sự xuất hiện của các viện công nghệ mới, như MIT. Giới tinh hoa Mỹ đã nhận ra rằng việc áp dụng và điều chỉnh mô hình các cơ sở giáo dục đại học của Đức là một chìa khóa để truyền bá và làm sâu sắc thêm văn hóa ở Mỹ.
Helmholtz đã thể hiện được những lý tưởng và giá trị của cả khoa học thuần túy lẫn khoa học ứng dụng mà nhiều nhà lãnh đạo khoa học và văn hóa Mỹ hy vọng sẽ thấy phát triển mạnh mẽ ở nước Mỹ. Các nhà khoa học Mỹ và giới tinh hoa Mỹ coi ông như một thần tượng của khoa học và văn hóa, và dịp ông đến thăm nước Mỹ chính là cơ hội để họ thể hiện hết mực sự sùng bái đó. Ông là Kulturträger vĩ đại, người mang văn hóa vĩ đại, không chỉ đối với nhiều người Đức mà còn đối với nhiều người Mỹ. Việc họ tôn sùng và sùng bái ông ấy do đó là điều đương nhiên. (David Cahan)
Tại bàn chủ tọa của bữa tiệc tối cuối cùng của Đại hội, Helmholtz được đề nghị phát biểu, và phát biểu của ông có đoạn:
Châu Âu quá chật hẹp cho bước tiến vĩ đại của ngành điện và nước Mỹ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chúng tôi thấy ở các bạn kết quả của những điều kiện và triển vọng tốt hơn chúng tôi từng được hưởng, và chúng tôi vui mừng cùng các bạn trước sự tiến bộ vượt bậc này. Thưa quý vị, tôi xin nâng ly chúc mừng quốc gia vĩ đại của nước Mỹ.
Khán giả reo hò và cạn ly trước lời chúc tụng khéo léo và đầy thiện chí của ông, trong đó ông coi khoa học và công nghệ Mỹ như ngang hàng với châu Âu.
Helmholtz nổi tiếng không chỉ với các nhà khoa học và nhà công nghiệp Mỹ mà còn với giới tinh hoa văn hóa. Ông là Thành viên Danh dự Nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ, thành viên của Hội Triết học Hoa Kỳ và Cộng tác viên Nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia. Trước chuyến đi năm 1893, ông đã được mời đến Mỹ thuyết giảng hoặc tham dự các cuộc họp không dưới bốn lần. Ông đã từ chối cả bốn lời mời. Ví dụ, vào năm 1875, Henry Dewey Noyes, đại diện của Hiệp hội Nhãn khoa Hoa Kỳ, đã mời ông đến thành phố New York để tham dự Đại hội Nhãn khoa Quốc tế với chi phí do hiệp hội chi trả. Ông đã viết:
Chúng tôi không yêu cầu ngài đến để chứng kiến những thành tựu khoa học của chúng tôi: – chúng tôi không có thẩm quyền phát biểu về vấn đề này; nhưng chúng tôi trân trọng mời ngài đến để các nhà khoa học Mỹ có thể trực tiếp bày tỏ sự trân trọng sâu sắc đối với những nỗ lực của ngài, và thể hiện lòng biết ơn đối với những thành tựu của ngài. Ủy ban tin rằng ngài có lẽ không thể hình dung được sự nhiệt tình mà chúng tôi sẽ đón nhận khi ngài đến với chúng tôi. Trong giới khoa học, không có tiếng nói nào được lắng nghe với nhiều niềm vui hơn tiếng nói của ngài.
Trong chuyến thăm này, tờ Chicago Sunday Tribune đăng một bài báo với tiêu đề “Helmholtz sẽ đến vào ngày mai. Nhà vật lý và kỹ sư điện nổi tiếng người Đức sẽ phát biểu tại Đại hội” kèm theo hình ảnh của ông. Bài báo viết: “Không có cái tên nào nổi tiếng hơn trong giới khoa học, và không một người nào còn sống đã làm được nhiều việc hơn trong việc giải quyết các vấn đề khoa học hóc búa”. Tờ Chicago Daily News cũng thông báo về sự xuất hiện của ông và gọi ông là “một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới”.
Helmholtz có gặp Thomas Edison, vào tháng 8, tại một bữa tiệc do các nhà hoạt động trong lãnh vực Điện người Mỹ tổ chức tại Khách sạn Grand Pacific ở Chicago, trong khuôn khổ Triển lãm Thế giới Columbus. Hai người đã có mối liên hệ trước đó: một trong những trợ lý của Edison, Francis Upton, trước đây đã làm nghiên cứu sau đại học với Helmholtz ở Berlin.
Helmhottz đến thăm một loạt các thành phố – Chicago, Boston, Washington và New York, gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng của đời sống văn hóa cũng như khoa học, công nghệ Mỹ. Ông cũng dành hai tuần tại Triển lãm Thế kỷ Philadelphia, mỗi ngày dành không dưới bốn giờ để nghiên cứu các gian trưng bày khác nhau về công nghiệp và công nghệ. Ở đó, ông gặp lại Alexander Graham Bell và cũng gặp William Thomson (Lord Kelvin). Tại Baltimore, Helmholtz dĩ nhiên gặp Daniel Coit Gilman, hiệu trưởng Johns Hopkins, đại học nghiên cứu đầu tiên của Mỹ. Ông được dẫn đi tham quan khuôn viên trường. Ngày hôm sau Helmholtz đến thăm Đại học Columbia và có bài thuyết trình. Buổi thuyết trình cũng chật kín người – khoảng 600 đến 800 sinh viên và giảng viên, cũng như những người ngoài như nhà vật lý J. Willard Gibbs và nhà cổ sinh vật học Othniel Marsh, cả hai đều đến từ Yale, Peirce, Steinway, và Alexander Graham Bell, người đến từ Halifax.

Ảnh của Alexander Graham Bell, năm 1917 (Wikipedia)
Bell đã mời Helmholtz cùng ông đến thăm trạm điện thoại trung tâm của Công ty Điện thoại và Điện tín (AT&T) Hoa Kỳ ở trung tâm thành phố sau khi kết thúc bài thuyết trình, và trải nghiệm một cuộc gọi điện thoại đường dài. Bell từ lâu đã rất ngưỡng mộ Helmholtz; trong những năm 1860, ông đã nghiên cứu và được truyền cảm hứng từ công trình nghiên cứu về âm học sinh lý của Helmholtz, và được cho là đã “giải thích rằng, nếu không có những nghiên cứu của Helmholtz trong lĩnh vực âm thanh, ông ấy sẽ không bao giờ có thể phát minh ra điện thoại”.
Helmholtz đã đóng vai trò của Vị đại sứ khoa học và học thuật Đức xuất sắc. Hai mươi tám năm sau đó, 1921, Einstein lại đặt chân lên nước Mỹ, và làm cho nước Mỹ muốn vỡ tung. Nước Mỹ đang rất muốn học hỏi, muốn lắng nghe, và châu Âu đã làm một cuộc “chuyển nhượng tri thức” cho họ. Trước Einstein, Planck cũng từng đến Đại học Columbia ở thành phố New York, vào năm 1909, được mời thuyết trình một loạt tám bài giảng công chúng về những phát triển gần đây trong vật lý trong chương trình diễn thuyết Ernest Kempton Adams.
Nguyễn Xuân Xanh
TỰ DO HỌC THUẬT
Hermann von Helmholtz
Các đồng nghiệp và sinh viên kính mến,
Khi đảm nhận chức vụ đầy vinh dự mà các đồng nghiệp đã tin tưởng giao phó, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là một lần nữa công khai bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã đặt niềm tin vào tôi. Tôi có lý do để trân trọng nó hơn nữa, bởi vì nó đã được giao phó cho tôi, mặc dù tôi chỉ mới ở trong hàng ngũ của các bạn trong một thời gian chỉ vài năm thôi, và mặc dù tôi thuộc giới khoa học tự nhiên, một lĩnh vực mới du nhập vào giới giảng dạy đại học như một yếu tố có phần xa lạ, và đã thúc đẩy nhiều thay đổi trong một tổ chức lâu đời của các trường đại học, và có thể sẽ còn thúc đẩy thêm những thay đổi khác nữa. Thật vậy, chính trong vật lý, lĩnh vực mà tôi đại diện, vốn là nền tảng lý thuyết của tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác, mà những đặc điểm riêng biệt của phương pháp này được thể hiện rõ ràng nhất. Bản thân tôi đã nhiều lần đề xuất những thay đổi đối với các quy chuẩn hiện hành tại trường đại học, và luôn vui mừng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ các đồng nghiệp trong Khoa và Hội đồng quản trị (Senat).
Việc quý vị bầu tôi lãnh đạo trường đại học này trong năm tới cho thấy quý vị không coi tôi là một người đổi mới thiếu suy xét. Thật vậy, cho dù mục tiêu, phương pháp và mục đích trước mắt của các nghiên cứu khoa học bề ngoài có vẻ khác biệt với các ngành khoa học nhân văn, và cho dù kết quả của chúng có xa lạ đến đâu, cho dù sự quan tâm đến chúng có vẻ xa vời đối với những người chỉ quen với những biểu hiện và sản phẩm trước mắt của đời sống tinh thần, nhưng như tôi đã cố gắng chứng minh trong bài phát biểu nhậm chức hiệu trưởng của tôi ở Đại học Heidelberg (1862), mối liên hệ mật thiết nhất thực sự nằm ở bản chất cốt lõi của phương pháp khoa học, cũng như ở mục tiêu tối hậu của cả hai nhóm khoa học này. Mặc dù hầu hết các đối tượng nghiên cứu trong khoa học tự nhiên không liên quan trực tiếp đến mối quan tâm của khoa học tinh thần (nhân văn), nhưng mặt khác, người ta không được quên rằng sức mạnh của phương pháp khoa học đích thực thể hiện rõ nét hơn nhiều trong đó, rằng cái thực được phân biệt với cái không thực bằng sự phê phán khách quan các sự kiện một cách sắc bén hơn nhiều so với các vấn đề phức tạp hơn nhiều của khoa học nhân văn.
Nhưng không chỉ sự phát triển của khía cạnh hoạt động khoa học mới này, gần như chưa từng được biết đến ở thời cổ đại, mà cả ảnh hưởng của nhiều mối quan hệ chính trị, xã hội và thậm chí quốc tế cũng đang dần có tác động và đòi hỏi sự chú ý và xem xét. Thành phần và số lượng sinh viên của chúng ta đã phải mở rộng; bối cảnh chính trị của quốc gia thay đổi đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với những người tốt nghiệp; các ngành khoa học ngày càng phát triển đa dạng và phân nhánh; và ngoài thư viện, cần có nhiều phương tiện lớn hơn, đa dạng hơn cho việc học tập. Thật khó để dự đoán được những yêu cầu và quyết định mới nào chúng ta sẽ phải đối mặt trong tương lai sắp tới.
Mặt khác, các trường đại học Đức đã giành được vị thế danh giá không chỉ trong ranh giới tổ quốc mình; mọi ánh mắt của thế giới văn minh đều hướng về họ. Sinh viên của những ngôn ngữ khác nhau nhất, từ những miền xa xôi của thế giới, đang tấp nập đỗ về đây. Vị thế đó có thể dễ dàng bị đánh mất chỉ bởi một sai lầm, nhưng sau đó lại rất khó để lấy lại.
Trong những hoàn cảnh này, nhiệm vụ của chúng ta là tìm hiểu nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự thịnh vượng trong quá khứ của các trường đại học, cốt lõi nào của các định chế này mà chúng ta phải nỗ lực bảo tồn như một thánh địa bất khả xâm phạm, và những nhượng bộ nào có thể được thực hiện nếu cần thay đổi. Tôi hoàn toàn không tự cho mình quyền đưa ra một tuyên bố dứt khoát về vấn đề này. Quan điểm của mỗi người đều có giới hạn; đại diện của các lĩnh vực khác sẽ có thể nhận thấy những khía cạnh khác từ các quan điểm khác nhau. Nhưng tôi tin rằng chỉ có thể đạt được kết luận dứt khoát nếu mọi người cùng nhau làm rõ tình hình từ góc nhìn của riêng mình.
——
Các trường đại học thời trung cổ ở châu Âu có nguồn gốc đầu tiên là những hiệp hội tư nhân và tự do, của sinh viên, tập hợp dưới ảnh hưởng của các vị thầy nổi tiếng, và tự quản lý công việc của mình. Nhận thấy lợi ích công cộng của các hiệp hội này, họ sớm nhận được các đặc quyền bảo hộ và quyền danh dự từ nhà nước, bao gồm cả quyền tài phán riêng và quyền cấp bằng học thuật. Sinh viên thời đó chủ yếu là nam giới trưởng thành, ban đầu chỉ theo học đại học để trau dồi kiến thức riêng mà không có mục đích thực tiễn nào trước mắt; tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, sinh viên trẻ hơn cũng bắt đầu được gửi đến, thường được đặt dưới sự giám sát của các thành viên lớn tuổi hơn. Các trường đại học riêng lẻ tiếp tục được chia nhỏ thành các hiệp hội kinh tế nhỏ hơn được gọi là nationes, bursae và collegia, trong đó các thành viên cao cấp, gọi là seniores, quản lý các công việc chung của mỗi hiệp hội và cũng triệu tập để điều hành các công việc chung của trường đại học. Ngay cả ngày nay, huy hiệu và danh sách thành viên và seniores từ nhiều nationes cổ xưa vẫn được lưu giữ trong sân của Đại học Bologna. Các thành viên tốt nghiệp lớn tuổi được coi là thành viên thường trực suốt đời của các hiệp hội và vẫn giữ quyền bỏ phiếu, giống như trường hợp trước đây hoặc hiện nay vẫn vậy tại các ‘Hội đồng Tiến sĩ’ (‘College of Doctors’) của Đại học Vienna và các trường colleges của Oxford và Cambridge cho đến gần đây, hoặc hiện tại.
Một sự liên kết tự do như thế giữa những con người độc lập, nơi các thầy và sinh viên được gắn kết bởi không gì khác ngoài tình yêu khoa học (tri thức) – thầy nỗ lực khám phá những kho tàng tri thức mà thời cổ đại để lại, còn sinh viên cố gắng thắp lên trong thế hệ mới ngọn lửa nhiệt huyết lý tưởng đã sưởi ấm cuộc đời họ – đó chính là sự khởi đầu của các trường đại học, được xây dựng, cả về ý tưởng lẫn cấu trúc tổ chức, trên nền tảng tự do hoàn hảo nhất. Nhưng ở đây ta không nên hiểu tự do giảng dạy theo nghĩa hiện đại. Thời đó, số đông có xu hướng rất không khoan dung đối với những quan điểm khác biệt. Không ít lần, những người thuộc phe thiểu số bị buộc phải rời khỏi trường đại học. Điều này không chỉ xảy ra khi Giáo hội can thiệp, hoặc khi có những luận đề chính trị hay siêu hình liên quan. Ngay cả các khoa y, mà dẫn đầu là khoa y của Paris là nổi tiếng nhất, cũng không dung thứ bất kỳ sự sai lệch nào so với những gì họ coi là giáo lý của Hippocrates. Những người sử dụng thuốc Ả Rập, hoặc tin vào sự tuần hoàn máu, đều bị đuổi học.
Sự chuyển đổi của các trường đại học thành hình thức hiện nay phần lớn nhờ sự hỗ trợ vật chất của nhà nước, đổi lại nhà nước cũng đòi quyền được tham gia vào việc điều hành các trường này. Quá trình phát triển này diễn ra khác nhau ở các nước châu Âu, một phần do sự khác biệt về hoàn cảnh chính trị và một phần do sự khác biệt về đặc điểm tính cách dân tộc.
Hai trường đại học lâu đời của Anh, Oxford và Cambridge, có thể nói là những trường có ít thay đổi nhất. Nguồn tài trợ lớn và bản năng chính trị của người Anh trong việc bảo tồn mọi luật lệ hiện hành đã ngăn cản hầu hết mọi sự thay đổi, ngay cả theo hướng mà sự thay đổi đó dường như cần thiết cấp bách. Về cơ bản, cả hai trường đại học đều giữ nguyên đặc điểm của mình là những trường đào tạo giáo sĩ, trước đây thuộc Giáo hội Công giáo La Mã, nay thuộc Giáo hội Anh giáo, và trong quá trình giảng dạy, người dân ngoài giáo hội cũng được tham gia, chừng nào điều đó còn phục vụ cho việc giáo dục tinh thần nói chung; họ chịu sự giám sát và chấp hành lối sống tương tự như trước đây được coi là phù hợp với các giáo sĩ trẻ. Họ sống cùng nhau trong các colleges dưới sự giám sát của một số thành viên lớn tuổi hơn đã tốt nghiệp (Fellows) của trường, theo phong cách và tập quán của tầng lớp giàu có ở Anh. Họ chỉ được phép ra ngoài khi mặc trang phục theo quy định, có phần giống với trang phục của giáo sĩ, trong đó không chỉ bằng cấp học thuật đạt được, mà cả các tầng lớp quý tộc khác nhau cũng được phân biệt bằng các huy hiệu đặc biệt.
Về nội dung và phương pháp giảng dạy, nó là một hình thức giáo dục bậc trung học nâng cao, chỉ khác ở chỗ nó tập trung vào những kiến thức sẽ cần thiết cho kỳ thi sau này, và vào việc nghiên cứu nội dung sách giáo khoa bắt buộc, nên nó giống với các khóa ôn tập cũng được tổ chức tại các trường đại học của chúng ta. Thành tích học tập của sinh viên được theo dõi thông qua các kỳ thi rất kỹ lưỡng để đạt được các bằng cấp học thuật, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu nhưng chỉ trong các lĩnh vực nới rộng có giới hạn. Thông qua các kỳ thi này, các cấp bậc học thuật truyền thống—Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ—được cấp phát. Đội ngũ giảng viên chủ yếu bao gồm các Nghiên cứu sinh đã đề cập ở trên, không phải do được bổ nhiệm chính thức như giáo viên trường trung học của chúng ta, mà là những gia sư riêng được một nhóm sinh viên thuê. Chỉ có một số ít giáo sư, và họ giảng dạy tương đối ít bài giảng, phần lớn có ít người nghe, thường là các chủ đề rất chuyên biệt trong lĩnh vực khoa học. Các bài giảng của họ không chiếm phần lớn trong chương trình học, mà chỉ tạo cơ hội cho những sinh viên có hứng thú muốn đi tới những tiến bộ lớn hơn. Ngoài ra, các trường colleges hoạt động hoàn toàn độc lập nhau, chỉ có việc tổ chức, thực hiện thi cử, trao bằng tốt nghiệp và bổ nhiệm giáo sư là những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của toàn trường.
Chỉ gần đây, sinh viên không thuộc Giáo hội Anh giáo mới được nhận vào học, và được cung cấp một số chương trình giảng dạy về y khoa và luật học. Trong số các giáo sư tại các đại học Anh có rất nhiều người xuất chúng, có tầm ảnh hưởng đáng kể đối với giới học thuật. Tuy nhiên, vì việc bầu chọn các giáo sư này trao quyền bỏ phiếu không chỉ cho tất cả các Fellows hiện tại không thuộc Hội đồng quản trị, mà còn cho tất cả các cựu Fellows hiện đang sống tách biệt khỏi trường, không còn lợi ích chung nào với trường, nhưng lại vướng sâu vào các hoạt động đảng phái chính trị và giáo hội, nên các yếu tố đảng phái, cùng với tình bạn cá nhân, thường có ảnh hưởng quyết định hơn nhiều so với năng lực học thuật. Về mặt này, các trường đại học Anh vẫn giữ nguyên sự thiếu khoan dung của thời Trung cổ. Hơn nữa, các giáo sư nói trên thậm chí không bắt buộc phải cư trú tại thị trấn đại học, mà có thể chọn nơi cư trú ở bất cứ nơi nào khác trong vương quốc và giữ bất kỳ chức vụ nào họ muốn, ví dụ, không hiếm khi là một mục sư nông thôn, miễn là họ đến trường đại học mỗi tuần một lần để giảng bài. Và thường thì, thậm chí điều đó cũng không xảy ra.
Trong khi các trường đại học Anh, bất chấp nguồn lực khổng lồ, lại phân bổ tương đối ít kinh phí cho việc đào tạo các giáo sư có năng lực học thuật đã được chứng minh, và ngay cả số tiền ít ỏi họ sử dụng cũng không nhất quán cho mục đích này, thì họ lại có một thể chế khác dường như hứa hẹn rất nhiều cho việc nghiên cứu học thuật nhưng cho đến nay vẫn chưa đạt được nhiều thành tựu: đó là chế độ Học bổng Nghiên cứu sinh (Fellowship). Những người đạt kết quả thi xuất sắc nhất sẽ có thể ở lại trường với tư cách là Fellow, được cung cấp chỗ ở và ăn uống, cùng với một khoản trợ cấp đầy đủ (200 shilling) để họ hoàn toàn tự do theo đuổi các hoạt động học thuật. Oxford có 557 vị trí như vậy, Cambridge có 531. Bên cạnh đó, các Fellow có thể, nhưng không bắt buộc, làm gia sư (Tutors) cho sinh viên của trường. Họ thậm chí không bắt buộc phải sống trong thị trấn đại học mà có thể chi tiêu khoản học bổng của mình ở bất cứ đâu họ muốn và có thể giữ nó vô thời hạn. Chỉ khi kết hôn hoặc nhận một chức vụ, họ mới mất tư cách thành viên, trừ một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Họ là những người kế thừa hợp pháp thực sự của các cộng đồng sinh viên xưa, – những người mà nhờ họ và vì họ mà Đại học được thành lập và tài trợ. Nhưng dù kế hoạch xây dựng cơ sở này có vẻ tốt đẹp đến đâu, dù số tiền chi ra có lớn đến mức đáng kinh ngạc nào, thì theo đánh giá của tất cả những người Anh không thành kiến, nó đóng góp rất ít cho khoa học. Điều này rõ ràng là bởi vì hầu hết những thanh niên này, mặc dù là những sinh viên ưu tú và có hoàn cảnh thuận lợi nhất có thể tưởng tượng được cho công việc khoa học, nhưng lại chưa được tiếp xúc đủ với tinh thần nghiên cứu sôi động trong suốt quá trình học tập, để sau đó có thể nghiên cứu tiếp từ sở thích và nhiệt huyết của chính mình.
Ở một số khía cạnh nhất định, các đại học Anh đạt được nhiều thành tựu rất đáng kể. Họ giáo dục sinh viên trở thành những người có văn hóa, tất nhiên những người không được phép, và thực tế là không vượt qua ranh giới của đảng phái chính trị và tôn giáo của mình. Oxford chủ yếu thuộc về đảng Tory, Cambridge thuộc về đảng Whig. Đặc biệt, ở hai lĩnh vực, chúng ta hoàn toàn có thể cố gắng noi theo họ. Thứ nhất, ngoài cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp và sức sống trẻ trung của thời cổ đại, họ còn trau dồi ở sinh viên một ý thức đáng khen ngợi về sự tinh tế và chính xác trong diễn đạt ngôn ngữ, và điều này đặc biệt rõ ràng trong cách họ sử dụng tiếng mẹ đẻ. Về khía cạnh này, tôi e rằng đó là một trong những điểm yếu nhất của nền giáo dục thanh thiếu niên Đức. Thứ hai, các đại học Anh, cũng giống như các trường phổ thông của họ, chăm sóc sức khỏe thể chất của sinh viên tốt hơn nhiều. Những người này sống và làm việc trong những tòa nhà thoáng đãng, rộng rãi được bao quanh bởi bãi cỏ và cây cối, và họ tìm thấy một phần niềm vui đáng kể trong các trò chơi khơi dậy sự cạnh tranh sôi nổi trong việc phát triển năng lượng và kỹ năng thể chất, chứng tỏ hiệu quả hơn nhiều về mặt này so với các bài tập thể dục và đấu kiếm của chúng ta. Không được quên rằng, càng bị tách khỏi không khí trong lành và cơ hội vận động mạnh mẽ, thanh niên càng có xu hướng tìm kiếm sự thư giãn giả tạo trong việc lạm dụng thuốc lá và đồ uống có cồn. Cũng cần thừa nhận rằng các trường đại học Anh quốc rèn luyện cho sinh viên thói quen làm việc năng động và chính xác, đồng thời duy trì cho họ trong các nề nếp của xã hội học thức. Còn về tác động đạo đức của việc giám sát nghiêm ngặt hơn, người ta cho rằng điều này khá là ảo tưởng.
Các đại học ở Scotland và một số trường đại học nhỏ hơn ở Anh có nguồn gốc gần đây hơn, chẳng hạn như University College và King’s College ở London, Owen’s College ở Manchester, thì được tổ chức theo mô hình của Đức và Hà Lan nhiều hơn.
Hoàn toàn khác, gần như trái ngược là sự phát triển của các trường đại học Pháp. Do xu hướng của người Pháp là loại bỏ mọi thứ được phát triển trong lịch sử dựa trên các lý thuyết duy lý, các khoa của họ, một cách nhất quán, đã được chuyển đổi thành các cơ sở giáo dục thuần túy, các trường chuyên biệt với các quy định rất nghiêm ngặt về chương trình giảng dạy, và hoàn toàn khác biệt với các cơ sở nhằm thúc đẩy tiến bộ của khoa học, như Collège de France (tạm dịch: Trường Đại học Pháp), Jardin des Plantes (tạm dịch: Viện nghiên cứu thực vật) và École des études supérieures (tạm dịch: Trường nghiên cứu cao cấp).
Các khoa hoàn toàn tách biệt nhau, ngay cả khi chúng cùng nằm trong một thị trấn. Chương trình học được quy định chặt chẽ và được giám sát bằng các kỳ thi thường xuyên. Giáo dục Pháp chỉ giới hạn ở những kiến thức đã được thiết lập rõ ràng và truyền đạt chúng một cách có hệ thống, được biên soạn kỹ lưỡng, dễ hiểu, không đi sâu vào hoài nghi hay biện giải phức tạp. Giáo viên được tuyển dụng chỉ cần là những người có năng khiếu tiếp thu tốt. Chính vì lý do này, ở Pháp, việc một thanh niên trẻ đầy triển vọng nhận chức giáo sư tại một khoa ở tỉnh lẻ gần như được coi là một bước đi sai lầm. Phương pháp giảng dạy của Pháp rất phù hợp để cung cấp cho sinh viên, ngay cả những người có năng lực trung bình, đủ kiến thức cho công việc thường nhật của họ. Họ không có sự lựa chọn giữa các giảng viên khác nhau và do đó ‘thề tuân theo lời thầy’ (in verba magistri); điều này mang lại cho họ sự tự mãn dễ chịu và yên tâm không chút nghi ngờ. Nếu giảng viên được lựa chọn tốt, điều này là đủ cho những trường hợp thông thường mà sinh viên chỉ đơn giản bắt chước ví dụ của giáo viên. Chỉ trong những trường hợp bất thường, sự hiểu biết và phán đoán thực sự của sinh viên mới được kiểm chứng. Hơn nữa, người Pháp tài năng, hoạt bát và đầy tham vọng; điều này bù đắp cho nhiều thiếu sót trong hệ thống giáo dục của họ.
Một đặc điểm nổi bật trong tổ chức các trường đại học Pháp nằm ở chỗ, vị thế của giáo sư hoàn toàn độc lập với sự ưa thích của người nghe. Sinh viên thuộc khoa của giáo sư thường được yêu cầu tham dự các bài giảng, và khoản phí khá lớn mà họ đóng góp sẽ chảy vào ngân sách của Bộ Giáo dục; từ những khoản phí này, tiền lương thường xuyên của tất cả các giáo sư đại học được chi trả; nhà nước chỉ đóng góp một khoản không đáng kể cho việc duy trì các trường đại học. Do đó, trừ khi có niềm yêu thích thực sự với việc giảng dạy hoặc tham vọng có một lượng lớn sinh viên, giáo sư sẽ dễ dàng trở nên thờ ơ với sự thành công của việc giảng dạy và có xu hướng làm việc một cách dễ dãi.
Bên ngoài giảng đường, sinh viên Pháp sống tự do, không có bất kỳ quy tắc ứng xử hay tập quán xã hội nào (esprit de corps), hòa nhập với những thanh niên trẻ khác đến từ các ngành nghề khác.
Sự phát triển của các trường đại học Đức khác biệt một cách đặc biệt so với hai thái cực trên. Quá nghèo nàn về nguồn lực để khỏi phải chấp nhận hỗ trợ của nhà nước trước nhu cầu ngày càng tăng về phương tiện giảng dạy, và quá bất lực trong việc chống lại sự can thiệp vào trật tự pháp luật cổ xưa trong thời kỳ các quốc gia hiện đại đang tìm cách củng cố quyền lực, các trường đại học Đức buộc phải khép mình vào sự dẫn dắt của nhà nước. Kết quả là, về nguyên tắc, quyết định cuối cùng trong hầu hết các vấn đề quan trọng của trường đại học đều thuộc về nhà nước, và đôi khi, trong thời kỳ căng thẳng liên quan đến chính trị và giáo hội, quyền lực tối cao này được thực thi một cách thẳng tay. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, chính quyền nhà nước mới nổi đang trên đường khẳng định nền độc lập của mình đều có thiện cảm với các trường đại học; họ cần những quan chức có tri thức, và danh tiếng của đại học cũng mang lại một uy tín nhất định cho chính quyền. Hơn nữa, các quan chức hành chính thường là cựu sinh viên của đại học, và vẫn gắn bó với trường. Điều đáng chú ý là, giữa những cơn bão chiến tranh và biến động chính trị, trong các quốc gia đang vật lộn để củng cố chủ quyền non trẻ của mình đối với đế chế suy tàn, trong khi hầu hết các tầng lớp đặc quyền cũ xưa khác đều bị xóa bỏ, thì các đại học của Đức vẫn giữ được một nền tảng lớn hơn nhiều về quyền tự do nội tại, và cả những khía cạnh quý giá nhất của sự tự do này, so với nước Anh bảo thủ nghiêm ngặt, cũng như so với nước Pháp đang theo đuổi tự do trong giông bão.
Chúng ta vẫn giữ quan điểm xưa về sinh viên như những thanh niên tự chịu trách nhiệm với bản thân, được thúc đẩy bởi bản năng của chính mình đi tìm khoa học, và được tự do sắp xếp kế hoạch học tập của mình theo cách mà họ thấy phù hợp. Mặc dù việc tham dự một số bài giảng nhất định, được gọi là các khóa học bắt buộc, vẫn được quy định đối với một số ngành nghề, nhưng không phải chính trường đại học mà là các cơ quan nhà nước, những cơ quan sau này sẽ tuyển sinh cho một ngành nghề cụ thể, đã ban hành những quy định đó. Đồng thời, sinh viên hiện nay và luôn luôn, với những ngoại lệ tạm thời, có quyền tự do di chuyển hoàn toàn giữa tất cả các trường đại học nói tiếng Đức từ Dorpat đến Zurich, Vienna và Graz. Tại mỗi trường đại học, sinh viên có quyền tự do lựa chọn giảng viên dạy cùng một môn học, hoàn toàn không phụ thuộc vào chức danh của họ là giáo sư thực thụ, hay giáo sư không chính ngạch, hoặc Privatdozent (ứng viên giáo sư). Hơn nữa, sinh viên vẫn có quyền lựa chọn tìm kiếm phần lớn kiến thức từ sách vở. Thậm chí, điều hết sức đáng mong muốn là việc nghiên cứu các tác phẩm của những vĩ nhân trong quá khứ trở thành một phần thiết yếu trong chương trình học tập.
Bên ngoài khuôn viên đại học, mọi sự giám sát đối với các hoạt động của sinh viên đều chấm dứt, miễn là họ không xung đột với các quan chức thực thi trật tự công cộng. Ngoài những trường hợp này, sự giám sát duy nhất mà họ phải đối mặt là từ chính các bạn đồng môn của họ, điều nhằm ngăn cản họ thực hiện bất cứ điều gì vi phạm danh dự của cộng đồng mình. Các trường đại học thời Trung cổ hình thành nên những đoàn thể khép kín, và có quyền tài phán riêng, mở rộng đến cả quyền sinh tử của các thành viên. Vì phần lớn họ sống trên đất nước xa lạ, nên quyền tài phán nội bộ này là cần thiết, một phần để bảo vệ các thành viên khỏi những hành động tùy tiện của các lãnh chúa nước ngoài, và một phần để duy trì mức độ tôn trọng và trật tự trong nội bộ, điều cần thiết để đảm bảo tiếp tục được hưởng quyền hiếu khách ở miền đất lạ; và để giải quyết tranh chấp giữa các thành viên. Trong bối cảnh chính trị gần đây, tàn dư của quyền tài phán học thuật này đã dần dần được chuyển giao hoàn toàn cho các tòa án thông thường, hoặc sẽ được chuyển giao trong tương lai gần. Tuy vậy, vẫn cần phải duy trì một số hạn chế nhất định đối với cộng đồng của những thanh nhiên mạnh mẽ và giàu nhiệt huyết, nhằm đảm bảo sự yên ổn cho các đồng môn của họ cũng như cho dân chúng. Trong các trường hợp xung đột, đây chính là mục tiêu của quyền lực kỷ luật thuộc về ban quản lý Đại học. Tuy nhiên, mục tiêu này chủ yếu vẫn phải đạt được nhờ vào ý thức danh dự của chính sinh viên, và thật may mắn, tinh thần đoàn kết tập thể và yêu cầu về tính chính trực cá nhân đi kèm vẫn còn tồn tại trong giới sinh viên Đức. Tôi không có ý định bảo vệ tất cả các điều khoản riêng lẻ trong quy tắc danh dự sinh viên (Codex); có một số tàn dư trung cổ trong đó, tốt nhất cần được loại bỏ; nhưng điều đó chỉ có thể chính sinh viên mới có thể làm.
Đối với hầu hết người nước ngoài, sự tự do không bị giám sát của sinh viên Đức là một điều đáng kinh ngạc, bởi ban đầu những gì đập vào mắt họ trước tiên thường là những biểu hiện thái quá của sự tự do ấy; họ không sao hiểu nổi làm thế nào những chàng trai trẻ có thể được để tự do như vậy mà không phải chịu những tổn hại lớn nhất. Đối với người Đức, những ngày tháng sinh viên vẫn là một kỷ niệm, giống như những năm tháng vàng son của cuộc đời; văn học và thơ ca của chúng ta thấm đẫm những biểu hiện của tình cảm này. Ngược lại, không có gì tương tự, thậm chí chỉ là ám chỉ, có thể được tìm thấy trong văn học của các quốc gia châu Âu khác. Chỉ có sinh viên Đức mới trải nghiệm trọn vẹn niềm vui ấy trong thời điểm mà, trong niềm hân hoan ban đầu của sự tự lập tuổi trẻ, đầu tiên được giải phóng khỏi việc làm việc vì lợi ích xa lạ, họ có thể sống chỉ để phấn đấu cho những giá trị tốt đẹp nhất, cao quý nhất, những điều mà nhân loại cho đến nay đã có thể đạt được, gắn bó chặt chẽ trong sự cạnh tranh thân thiện với một số lượng lớn bạn bè cùng khát vọng, và trong sự trao đổi trí tuệ hàng ngày với các thầy cô, từ đó học được cách tư duy của những bộ óc độc lập vận hành. Khi nghĩ về quãng đời sinh viên của chính mình, và về ấn tượng mà một người như nhà sinh lý học Johannes Müller đã để lại cho chúng tôi, tôi phải nhấn mạnh tầm quan trọng của điểm cuối cùng vừa đề cập. Ai từng có cơ hội tiếp xúc với một hoặc nhiều người thuộc hàng ngũ kiệt xuất, đều sẽ thay đổi thước đo trí tuệ của mình suốt đời. Hơn nữa, sự tiếp xúc như vậy chính là điều thú vị nhất mà cuộc đời có thể mang lại. (Nghiêng được thêm vào)
Các bạn trẻ thân mến của tôi, quyền tự do của sinh viên Đức mà các bạn đang thừa hưởng là một di sản quý báu và cao cả mà các thế hệ trước đã để lại. Hãy gìn giữ và truyền lại di sản đó cho các thế hệ tương lai, thanh lọc và trau chuốt hơn nữa nếu có thể. Nhưng các bạn phải gìn giữ nó, mỗi người theo cách riêng của mình, bằng cách đảm bảo rằng cộng đồng sinh viên Đức vẫn luôn xứng đáng với sự tín nhiệm, và niềm tin ấy cho đến nay đã đem lại cho họ mức độ tự do lớn như vậy. Tự do tất yếu đi kèm với trách nhiệm. Nó là một món quà có thể tai hại đối với những người có tính cách không vững vàng, cũng như là một món quà quý giá đối với những người tính cách mạnh mẽ. Đừng ngạc nhiên nếu ngay cả trong số chúng ta, các bậc cha mẹ và các chính khách đôi khi kêu gọi áp dụng một hệ thống giám sát và kiểm soát nghiêm ngặt hơn, tương tự như hệ thống của Anh. Chắc chắn, một hệ thống như vậy có thể cứu được một số người khỏi sự sa ngã do tự do mang lại. Nhưng nhà nước và quốc gia sẽ được phục vụ tốt hơn bởi những người có thể chịu đựng được tự do (nghiêng được thêm vào) và đã chứng tỏ rằng họ, từ sức mạnh và ý thức của chính mình, hiểu biết cách làm việc và phấn đấu trong khoa học xuất phát từ niềm hứng thú của bản thân.
Sau khi tôi đã nhấn mạnh về ảnh hưởng của việc tiếp xúc trí tuệ với những nhân vật lỗi lạc, điều này dẫn tôi đến việc thảo luận về một đặc điểm khác biệt nữa giữa các trường đại học Đức với các trường đại học Anh và Pháp. Đó là, chúng tôi luôn cố gắng, bất cứ khi nào có thể, chỉ sử dụng làm giảng viên những người đã chứng minh được khả năng thúc đẩy chính nền học thuật; chúng tôi coi đây là điều kiện tiên quyết tuyệt đối cho phẩm chất của một giảng viên. Đây cũng là một điểm mà người Anh và người Pháp thường bày tỏ sự ngạc nhiên. Họ coi trọng hơn chúng tôi cái gọi là “tài năng giảng dạy”, tức là khả năng trình bày nội dung môn học một cách có hệ thống, rõ ràng, và nếu có thể, hùng hồn, hấp dẫn và thú vị. Các bài giảng của những nhà hùng biện nổi tiếng tại Collège de France, Jardin des Plantes, cũng như tại Oxford và Cambridge, thường là những buổi tụ họp của giới tinh hoa thanh lịch và học thức. Ở Đức, người ta không chỉ thờ ơ mà còn nghi ngờ về sự tô điểm hoa mỹ trong diễn thuyết, và thường thì họ cũng rất cẩu thả trong hình thức bên ngoài của bài thuyết trình. Không thể phủ nhận rằng một bài thuyết trình tốt đòi hỏi ít nỗ lực hơn để theo dõi so với một bài thuyết trình tồi, nội dung của bài thuyết trình tốt được nắm bắt một cách đáng tin cậy và đầy đủ hơn, và một bài thuyết trình được sắp xếp tốt, làm nổi bật các điểm và phần chính và minh họa sinh động chủ đề, có thể truyền tải nhiều nội dung hơn trong cùng một khoảng thời gian so với một bài thuyết trình có đặc điểm ngược lại. Do đó, tôi hoàn toàn không muốn dung túng cho sự coi thường quá mức của chúng ta đối với hình thức trong lời nói và văn bản. Cũng không thể phủ nhận rằng những người có thành tựu khoa học đáng kể và sự độc đáo về trí tuệ thường đưa ra những bài thuyết trình khá vụng về, nặng nề và ngập ngừng. Tuy nhiên, không ít lần tôi thấy rằng những người thầy kiểu này có rất nhiều người nghe gắn bó, trong khi những người diễn thuyết thiếu ý tưởng gây được sự ngưỡng mộ trong bài giảng đầu tiên, làm cho mệt mỏi ở bài thứ hai và bị bỏ rơi sau bài thứ ba. Bất cứ ai muốn truyền cho người nghe niềm tin trọn vẹn về tính đúng đắn của các luận điểm của mình, người đó trên hết, phải biết từ kinh nghiệm của chính mình cách để chinh phục được xác tín (Überzeugung, conviction), và cách không thể. Họ phải biết cách tự mình giành lấy những xác tín đó khi chưa có người đi trước nào đặt chân đến, nói cách khác, họ phải từng làm việc ở biên giới của tri thức nhân loại và chinh phục những vùng đất mới cho anh ta. Một người thầy chỉ đơn thuần truyền đạt lại những xác tín vốn xa lạ với bản thân, thì điều đó có thể đủ cho những học trò chỉ dựa vào quyền uy như nguồn gốc của tri thức, nhưng sẽ không đủ cho những ai đòi hỏi sự chứng minh cho niềm tin của mình đến tận gốc rễ.
Các bạn sinh viên thân mến, một lần nữa bạn sẽ thấy rằng quốc gia giành cho các bạn một sự tín nhiệm đầy vinh dự. Không có các khóa học cố định và giảng viên cụ thể nào được quy định sẵn cho các bạn. Các bạn được coi là những người mà xác tín tự do (free conviction) cần được chinh phục, những người sẽ biết cách phân biệt bản chất với hình thức, những người không còn dễ dàng bị thuyết phục chỉ bằng sự viện dẫn đến quyền uy, và cũng không còn để mình bị thuyết phục theo cách đó nữa. Hơn nữa, những nỗ lực ngày càng lớn đã được thực hiện để đảm bảo rằng chính các bạn có thể tiếp cận các nguồn tri thức, trong chừng mực chúng nằm ở sách vở và di tích, hoặc trong các thí nghiệm và quan sát các đối tượng và quá trình tự nhiên. Ngay cả các trường đại học nhỏ hơn của Đức cũng có thư viện riêng, bộ sưu tập tượng thạch cao, v.v. Và trong việc thành lập các phòng thí nghiệm hóa học, kính hiển vi, sinh lý học và vật lý, Đức một lần nữa đã đi trước các nước châu Âu khác, những nước hiện chỉ mới bắt đầu làm theo. Tại trường đại học của chúng ta, chúng ta cũng có thể mong đợi sự khai trương của hai viện lớn mới dành riêng cho việc giảng dạy khoa học tự nhiên trong những tuần tới.
Xác tín tự do của sinh viên chỉ có thể đạt được khi sự tự do bày tỏ xác tín của thầy được đảm bảo -tức quyền tự do giảng dạy (Lehrfreiheit). Quyền tự do này không phải lúc nào cũng được bảo vệ, dù ở Đức hay ở các nước láng giềng. Trong thời kỳ xung đột giữa chính trị và giáo hội, các đảng cầm quyền thường cho phép mình can thiệp; điều này luôn được người dân Đức cảm nhận là sự xâm phạm vào một thánh địa. Sự tự do chính trị tiến bộ của Đế chế Đức mới cũng đã mang lại thuốc chữa trị cho điều đó. Ngay trong thời điểm hiện tại, những hệ quả cực đoan nhất của siêu hình học duy vật, những suy đoán táo bạo nhất dựa trên thuyết tiến hóa của Darwin, và sự tôn sùng cực đoan nhất về tính bất khả sai lầm của Giáo hoàng đều có thể được trình bày tại các trường đại học Đức mà không bị cản trở. Tuy nhiên, giống như tại diễn đàn của Nghị viện châu Âu, những nghi ngờ về động cơ và những lời lăng mạ về phẩm chất cá nhân của đối thủ – cả hai phương pháp rõ ràng không liên quan gì đến việc giải quyết các luận điểm khoa học – vẫn bị cấm; cũng như bất kỳ hành vi kích động nào nhằm thực hiện các hành vi bị pháp luật cấm. Nhưng không có trở ngại nào đối với việc thảo luận về bất kỳ vấn đề khoa học nào một cách khoa học. Tại các trường đại học Anh và Pháp, người ta không hề bàn đến tự do học thuật theo nghĩa này (Lehrfreiheit). Ngay cả tại Collège de France, các bài giảng của một người có tầm quan trọng và uy tín khoa học như Ernest Renan vẫn bị cấm, và các giảng viên tại các trường đại học Anh không được phép đi chệch dù chỉ một sợi tóc khỏi hệ thống giáo điều của Giáo hội Anh mà không có nguy cơ bị Tổng giám mục kiểm duyệt và đánh mất sinh viên.
Còn một khía cạnh khác của quyền tự do giảng dạy tôi muốn đề cập. Đó là mức độ mở rộng mà các trường đại học Đức duy trì trong việc tuyển chọn giảng viên. Theo nghĩa nguyên thủy của từ, “Tiến sĩ” có nghĩa là “người thầy” hay “người được công nhận có khả năng giảng dạy “. Tại các trường đại học thời trung cổ, bất kỳ Tiến sĩ nào tìm được học sinh đều có thể mở lớp giảng dạy. Theo thời gian, ý nghĩa thực tiễn của danh hiệu này đã thay đổi. Hầu hết những người tìm kiếm danh hiệu đó không nhất thiết có ý định trở thành giảng viên, mà chỉ cần nó như một sự công nhận công khai về trình độ học vấn của họ. Chỉ ở Đức một phần nào của quyền cổ xưa này mới còn được lưu giữ. Phù hợp với ý nghĩa đã thay đổi của danh hiệu Tiến sĩ và sự chuyên môn hóa ngày càng tăng của các môn học, những Tiến sĩ muốn thực hiện quyền giảng dạy vẫn phải cung cấp bằng chứng cụ thể về những thành tựu học thuật chuyên sâu hơn trong ngành học cụ thể mà họ muốn đủ điều kiện trở thành giáo sư (Phẩm chất này được gọi là Habilitation, ND). Hơn nữa, tại hầu hết các trường đại học Đức, quyền giảng dạy hợp pháp của Tiến sĩ đủ điều kiện này hoàn toàn giống với quyền của các giáo sư thực thụ (Ordinarien). Ở một ít nơi, có những quy định hạn chế riêng đối với họ, nhưng hầu như không có tác động thực tiễn đáng kể nào. Các giáo sư kỳ cựu của trường đại học, đặc biệt các giáo sư thực thụ, trong những ngành cần thiết bị chuyên dụng để giảng dạy, có thể được ưu ái hơn. Họ có quyền tiếp cận tự do hơn với các nguồn lực của các cơ sở giáo dục nhà nước trong các môn học yêu cầu thiết bị hỗ trợ giảng dạy bên ngoài, và mặt khác, họ chịu trách nhiệm pháp lý trong việc tổ chức các kỳ thi của khoa, và trên thực tế thường cả các “kỳ thi nhà nước” (Kỳ thi này không theo hệ thống cử nhân/thạc sĩ truyền thống, nhưng là điều kiện tiên quyết để hành nghề với tư cách là bác sĩ, dược sĩ, giáo viên hoặc luật sư. ND). Điều này đương nhiên tạo ra một áp lực nhất định đối với những sinh viên yếu tâm lý. Hơn nữa, ảnh hưởng của các kỳ thi thường bị phóng đại. Do sinh viên thường xuyên chuyển trường, nên rất nhiều kỳ thi được tiến hành bởi các giám khảo mà thí sinh của họ chưa từng tham dự bất kỳ bài giảng nào của họ.
Người nước ngoài hiếm khi bày tỏ sự ngạc nhiên một cách rõ rệt về bất kỳ khía cạnh nào của các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta như về việc tuyển dụng Privatdozent (“giảng viên tư”). Họ ngạc nhiên và ghen tị khi thấy chúng ta có nhiều người trẻ tuổi sẵn sàng cống hiến hết mình cho công việc học thuật vất vả không lương, với học phí hầu hết rất ít ỏi (từ sinh viên của mình, gọi là Honorar, ND) và triển vọng tương lai khá bấp bênh. Và xét từ góc độ lợi ích thực tế, họ cũng ngạc nhiên không kém khi thấy các khoa dễ dàng và sẵn lòng tiếp nhận một số lượng lớn người trẻ tuổi có thể chuyển từ trợ lý thành đối thủ cạnh tranh bất cứ lúc nào; cũng như họ ngạc nhiên khi chỉ trong những trường hợp ngoại lệ hiếm hoi mới nghe thấy việc sử dụng các thủ đoạn mờ ám trong tình huống khá tế nhị này.

Nhà triết học Hegel giảng bài tại Đại học Berlin năm 1828. Photo F. Kugler. Những buổi giảng bài của các Privatdozent cũng trông giống thế này. Với tư cách privatdozent tại Đại học Bern, Einstein cũng chỉ có 3 hay 4 sinh viên nghe. Hegel có thể có nhiều sinh viên hơn mà ảnh không thể hiện.
Giống như việc tuyển dụng Privatdozent, việc bổ nhiệm mới giáo sư vào các vị trí bị trống cũng phụ thuộc, dù không nhất thiết và không phải là quyết định cuối cùng, vào hội đồng giảng viên, tức là hội đồng các giáo sư thực thụ. Tại các trường đại học Đức, hội đồng này là tàn dư của các hội đồng tiến sĩ trước đây, nơi tiếp nhận các quyền hiệp hội cỗ xư được chuyển giao qua. Họ tạo thành, có thể nói, một ủy ban nhỏ hơn gồm các cựu sinh viên tốt nghiệp từ thời trước, được thành lập với sự tham gia của chính phủ. Thủ tục phổ biến nhất để bổ nhiệm giáo sư thực thụ mới là: Khoa đề xuất ba ứng viên để chính phủ lựa chọn, và bổ nhiệm, mặc dù chính phủ không nhất thiết phải bị ràng buộc bởi các ứng cử viên được đề xuất. Ngoại trừ trong những thời kỳ xung đột đảng phái gay gắt, rất hiếm khi các đề xuất của khoa bị bỏ qua. Nếu không có lý do rõ ràng để do dự, việc bổ nhiệm một giáo sư trái với khuyến nghị của hội đồng chuyên gia, người mà năng lực phải được chứng minh công khai trước công chúng rộng rãi, luôn luôn là một trách nhiệm cá nhân khó chịu đối với các quan chức thực thi.
Hơn ai hết, các đồng nghiệp khoa có động lực mạnh mẽ nhất để đảm bảo khoa của mình có lực lượng giảng viên xuất sắc nhất có thể. Điều kiện cốt lõi để chuẩn bị bài giảng với niềm hứng thú là ý thức rằng mình sẽ có đủ số lượng người nghe thông minh; hơn nữa, thu nhập của nhiều giảng viên phụ thuộc đáng kể vào số lượng sinh viên theo học. Do đó, mỗi cá nhân phải mong muốn toàn bộ khoa thu hút được càng nhiều sinh viên càng tốt và sinh viên đó càng thông minh càng tốt. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc lựa chọn nhiều giảng viên tài năng nhất có thể, bất kể họ là giáo sư thực thụ hay Privatdozent. Mặt khác, nỗ lực khuyến khích sinh viên học tập siêng năng và nghiên cứu độc lập chỉ có thể thành công nếu được sự hỗ trợ của các đồng nghiệp khoa khác. Thêm vào đó, sự hợp tác với các đồng nghiệp xuất sắc làm cho đời sống học thuật trong môi trường đại học trở nên thú vị, bổ ích và giàu tính khích lệ. Một khoa tất yếu phải rất xuống cấp, không chỉ đánh mất phẩm giá mà còn cả trí tuệ cơ bản nhất, nếu bên cạnh những động cơ trên có những động cơ khác lấn át, thì một khoa như vậy sẽ nhanh chóng tự hủy hoại hoàn toàn.
Còn về bóng ma cạnh tranh giữa các giáo sư đại học, điều mà đôi khi được đem ra để dọa dư luận, thì sự cạnh tranh đó sẽ không thể xảy ra nếu các giáo sư và sinh viên có phẩm chất tốt. Thứ nhất, chỉ ở các trường đại học lớn mới có hai giáo sư cùng giảng dạy một ngành, và ngay cả khi không có sự khác biệt về định nghĩa chính thức của môn học, thì vẫn sẽ có sự khác biệt trong hai hướng khoa học của hai giáo sư, và họ sẽ có thể phân chia công việc sao cho mỗi người đại diện cho một hướng mà mỗi người giỏi nhất. Hai giáo sư xuất sắc bổ sung cho nhau theo cách này sẽ tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với sinh viên của môn học đến nỗi không ai bị mất sinh viên, dù có thể phải chia nhau một số sinh viên ít nhiệt huyết hơn.
Những tác động khó chịu của cạnh tranh thường chỉ khiến những giảng viên chưa thực sự tự tin vào vị thế khoa học của mình lo ngại. Tuy nhiên, điều này không thể gây ảnh hưởng đáng kể tới các quyết định chính thức của khoa khi đó chỉ là vấn đề của một hoặc một số ít người bỏ phiếu.
Còn tai hại hơn cả những lợi ích mang tính cá nhân là sự thống trị của một trường phái học thuật cụ thể đối với một khoa. Người ta phải dự trù rằng một khi trường phái đó trở nên lỗi thời về mặt khoa học, sinh viên sẽ dần chuyển sang các trường các đại học khác. Quá trình này có thể mất một khoảng thời gian đáng kể, và khoa đó có thể bị tê liệt trong suốt thời gian đó.
Dưới hệ thống này, chúng ta thấy rõ sức hút của đại học đối với những bộ óc khoa học hàng đầu của Đức được thể hiện rõ nhất qua việc khảo sát xem có bao nhiêu nhà tiên phong vẫn nằm ngoài các trường đại học. Kết quả của cuộc khảo sát này thể hiện rõ qua việc đôi khi người ta hay chế giễu hay mỉa mai, rằng tất cả khoa học ở Đức đều là ‘tri tuệ của giới giáo sư’. Nhìn sang Anh, người ta ngay lập tức bắt gặp những người như Humphrey Davy, Faraday, Darwin và Grote, những người không hề có liên hệ gì với các trường đại học Anh. Mặt khác, nếu loại bỏ khỏi số các nhà nghiên cứu Đức những người bị chính phủ buộc phải rời đi vì lý do tôn giáo hoặc chính trị, chẳng hạn như David Strauss, và những người, với tư cách là thành viên của các viện hàn lâm Đức, có quyền giảng dạy tại các trường đại học, chẳng hạn như Alexander và Wilhelm von Humboldt, Leopold von Buch, và những người khác… thì tất cả những người đó cộng lại chỉ bằng một phần nhỏ so với tổng số những người có tầm cỡ khoa học tương đương đã từng làm việc tại các trường đại học, trong khi một thống kê tương tự ở Anh sẽ cho kết quả ngược lại. Tôi luôn ấn tượng rằng Học viện Hoàng gia London, một hội tư nhân cung cấp các khóa học ngắn hạn về những tiến bộ trong khoa học tự nhiên cho các thành viên của nó và người lớn khác, đã liên tục thu hút được những nhà khoa học quan trọng như Humphrey Davy và Faraday làm diễn giả lâu dài. Không hề có chuyện trả phí cao; rõ ràng những người này bị thu hút bởi đối tượng khán giả gồm những người đàn ông và phụ nữ có văn hóa tư duy độc lập về trí tuệ. Ở Đức, các trường đại học không thể phủ nhận vẫn là những cơ sở giáo dục có sức hút mạnh mẽ nhất ngay cả đối với những người giảng dạy của họ. Nhưng rõ ràng sức hút này dựa trên hy vọng của người giảng viên rằng tại đại học có thể hy vọng tìm thấy không chỉ những sinh viên được chuẩn bị tốt, yêu thích lao động và nhiệt tình lắng nghe, mà còn cả những người dấn thân xây dựng xác tín độc lập của riêng mình. Chỉ có những niềm tin như vậy mới có thể làm cho tri thức của người thầy trở nên bổ ích cho người học.
Toàn bộ cơ cấu tổ chức của các Đại học của chúng ta đều thấm đẫm sự tôn trọng đối với xác tín tự do và độc lập vốn in dấu sâu đậm ở người Đức hơn so với những người họ hàng Aryan gốc Rôman (La Mã) và Celtic. Đối với những người sau, động cơ thực tiễn về chính trị có trọng lượng lớn hơn. Họ dường như hoàn toàn chân thành kiềm chế tư duy tìm tòi khỏi việc xem xét những nguyên tắc mà họ cho là nền tảng cần thiết không thể chối cãi của tổ chức chính trị, xã hội và tôn giáo của họ; họ thấy hoàn toàn chính đáng khi không cho phép những người trẻ tuổi của mình nhìn xa hơn những ranh giới mà chính họ không muốn vượt qua.
Nhưng nếu muốn tuyên bố bất kỳ lĩnh vực các câu hỏi nào nằm ngoài phạm vi thảo luận, dù cho nó có hạn chế và được định nghĩa hẹp đến đâu, dù có thiện chí đến mức nào, thì người ta phải giữ sinh viên trong một khuôn mẫu nhất định, và phải tuyển dụng những giáo viên là những người không chống đối lại quyền uy. Trong trường hợp đó, người ta chỉ có thể nói về niềm tin tự do theo một nghĩa hạn chế.
Các bạn thấy đấy, tổ tiên chúng ta đã hành động khác đi như thế nào. Dù đôi khi họ can thiệp thô bạo vào kết quả nghiên cứu khoa học riêng lẻ, họ cũng không muốn triệt tiêu gốc rễ của khoa học. Một quan điểm không dựa trên xác tín độc lập, đối với họ, cơ bản là vô giá trị. Trong thâm tâm sâu thẳm, họ không bao giờ vứt bỏ niềm tin, rằng chỉ có tự do mới có thể sửa chữa những lẫm lỗi của tự do, và tri thức chín chắn có thể sửa chữa những sai lạc của tri thức chưa chín chắn. Chính tinh thần đó đã lật đổ ách thống trị của Giáo hội Công giáo La Mã, và cũng đã kiến tạo các trường đại học Đức.
Nhưng mọi định chế được xây dựng trên nền tảng tự do cũng phải dựa vào năng lực phán đoán và lý tính của những người được trao quyền tự do. Bên cạnh những điểm đã đề cập, nơi mà sinh viên tự quyết định lộ trình học tập và lựa chọn giảng viên của mình, những suy nghĩ được trình bày ở đây cho thấy sinh viên cũng có tác động ngược lại lên giảng viên của họ như thế nào. Soạn một khóa giảng tốt là một công việc lớn được đổi mới với mỗi học kỳ. Các yếu tố mới liên tục được bổ sung, và dưới ảnh hưởng của chúng, những cái cũ cũng phải được xem xét từ những góc độ mới và phải được sắp xếp lại mới. Giảng viên sẽ sớm bị nản lòng trong công việc này nếu không có sự nhiệt tình và mối quan tâm của sinh viên. Mức độ thành công của giảng viên phụ thuộc vào mức độ hiểu bài của một số lượng đủ lớn, ít nhất là những người nghe thông minh hơn. Thật vậy, tỷ lệ tham dự cao các bài giảng của giảng viên có trọng lượng đáng kể đối với việc bổ nhiệm hoặc thăng chức, và do đó đối với thành phần của đội ngũ giảng viên. Ở tất cả các khía cạnh này, người ta phải tính, rằng dòng chảy chung của dư luận trong sinh viên không thể bị sai lệch mãi mãi. Đa số họ, những người có thể nói đại diện cho sự đánh giá chung, hẳn phải đến với chúng ta với một tư duy logic được rèn luyện đầy đủ, một thói quen nỗ lực tinh thần đầy đủ, và bằng một sự tinh tế được tôi luyện theo những hình mẫu tốt nhất để có thể phân biệt được đâu là sự thật và đâu chỉ là cái vẻ ngoài thuần túy của sự thật. Trong hàng ngũ sinh viên ấy có thể hiện diện những bộ óc thông minh, những người sẽ trở thành những người dẫn dắt trí tuệ của thế hệ tiếp theo, và có thể, chỉ trong vài năm nữa, thu hút ánh nhìn của thế giới về mình. Chính những người này là những người chủ yếu xác định dư luận của các bạn sinh viên khác về các vấn đề khoa học, và những người khác sẽ tự nhiên sẽ đi theo họ. Những sai lầm nhất thời ở những người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm và dễ bị kích động là điều tự nhiên; nhưng nhìn chung, người ta có thể khá chắc chắn rằng họ sẽ sớm tìm lại được con đường đúng đắn.
Đến nay các trường Gymnasium (loại trường nhân văn ưu tú. ND) đã gửi sinh viên đến với chúng ta. Sẽ là điều rất nguy hiểm cho các đại học nếu một lượng lớn sinh viên kém phát triển hơn ở những khía cạnh đã đề cập trên đổ xô đến đó. Ý thức tự hào về học thuật trong sinh viên nói chung không được phép suy giảm. Nếu điều đó xảy ra, những hiểm họa đối với tự do học thuật sẽ lan tràn và làm chết phúc lành của nó. Do đó, không nên lên án việc các trường đại học ngần ngại tiếp nhận sinh viên đến từ các nền tảng giáo dục khác như sự khắt khe hay kiêu ngạo. Lại càng nguy hiểm hơn nữa nếu, vì bất kỳ lý do bên ngoài nào, các giảng viên không có đầy đủ phẩm chất của một nhà giáo hàn lâm độc lập được đưa vào các khoa.
Do đó, thưa các đồng nghiệp và sinh viên thân mến, xin đừng quên rằng các bạn đang đứng ở một vị trí đầy trách nhiệm. Di sản cao quý mà tôi đã đề cập ở trên là điều các bạn phải gìn giữ, không chỉ cho dân tộc mình mà còn là tấm gương cho toàn nhân loại. Các bạn phải chứng minh rằng ngay cả những người trẻ tuổi cũng tràn đầy nhiệt huyết, và sẵn sàng dấn thân lao động cho sự độc lập của xác tín. Tôi nói dấn thân lao động, bởi vì sự độc lập trong xác tín không phải là sự chấp nhận dễ dãi những giả thuyết chưa được kiểm chứng, mà chỉ có thể đạt được như kết quả của sự xem xét tận tâm và lao động bền bỉ. Các bạn phải chứng minh rằng xác tín thu hoạch được bằng lao động là một hạt giống đầy hứa hẹn cho những nhận thức mới và là kim chỉ nam tốt hơn cho hành động so với sự hướng dẫn thiện chí nhất từ phía quyền uy. Nước Đức, quốc gia đầu tiên trong thế kỷ XVI đã đứng lên đấu tranh cho quyền có được xác tín như vậy, và đã trả bằng máu, vẫn đang đứng ở tuyến đầu của cuộc đấu tranh này. Một nhiệm vụ cao cả trong lịch sử thế giới đã được giao phó cho nước Đức, và giờ đây các bạn được kêu gọi chung tay góp sức cho nhiệm vụ đó. (Nghiêng được thêm vào)
Hermann von Helmholtz
Xerm thêm:
- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Charles W. Eliot (Harvard) 18 Tháng Tư, 2026
- Luận văn tiến sĩ (Hay con đường tuổi trẻ) của Albert Einstein (1906) 16 Tháng Ba, 2026