Muốn vươn lên, Việt Nam phải tái định nghĩa đại học (Phan Thanh Bình)

by , under Uncategorized

MUỐN VƯƠN LÊN, VIỆT NAM PHẢI TÁI ĐỊNH NGHĨA ĐẠI HỌC

PGS. TS. PHAN THANH BÌNH

Nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội

Điều kiện cần trước hết thuộc về Nhà nước, về thể chế và chính sách phát triển. Muốn có một nền đại học mạnh thì phải có một môi trường đủ rộng cho sáng tạo và đổi mới. Một nền đại học hiện đại khó phát triển trong cơ chế quản lý hành chính hóa và thiếu quyền tự chủ. Điểm then chốt vẫn là một khung pháp lý bảo đảm tự chủ đại học và mô hình quản trị hiện đại. Tự chủ không chỉ là tự chủ tài chính, mà còn là tự chủ học thuật, nhân sự, nghiên cứu và hợp tác quốc tế một cách thực chất. Đi cùng với tự chủ phải là trách nhiệm giải trình minh bạch. 

Một điểm nghẽn khác là cơ chế phát hiện, trọng dụng và thu hút nhân tài. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, chỉ một thủ tục tuyển dụng, một cơ chế tài chính hay quy trình thị thực không phù hợp cũng đủ làm mất người giỏi. Cần trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục đại học trong tuyển dụng, đãi ngộ, hợp tác quốc tế và tổ chức nghiên cứu.

— Phan Thanh Bình

PGS.TS. Phan Thanh Bình

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội có thể là một trong những thông điệp quan trọng nhất về giáo dục đại học VN trong nhiều năm qua.

Đây không còn là câu chuyện giáo dục, mà là bài toán tương lai quốc gia. Vì thế nếu chỉ hiểu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu nâng cấp một vài đại học hay cải thiện chất lượng đào tạo, có lẽ vẫn chưa chạm tới bản chất vấn đề. Điều thực sự được đặt ra là một yêu cầu chiến lược: VN phải tái định nghĩa vai trò của đại học trong mô hình phát triển quốc gia mới.

Điểm yếu lớn nhất là thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa

Từ mô hình Humboldt thế kỷ 19, đại học hiện đại không còn là nơi chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và dẫn dắt tư tưởng. Tuy nhiên, trong phần lớn quá trình phát triển của mình, giáo dục đại học VN chủ yếu được nhìn như nơi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.

Nhưng trong thế kỷ 21, dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và cạnh tranh địa chính trị – công nghệ, đại học đã trở thành hạ tầng chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Quốc gia nào sở hữu các trung tâm sản sinh tri thức, công nghệ lõi và tinh hoa dẫn dắt sẽ làm chủ chuỗi giá trị. Quốc gia nào tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, gia công và nhập khẩu công nghệ sẽ tiếp tục ở vị trí thấp trong trật tự phát triển mới. Đó không còn là cảnh báo. Đó là thực tế đang diễn ra.

Nhiều năm qua, đại học VN phát triển nhanh về quy mô: số trường tăng, sinh viên tăng, công bố quốc tế cải thiện. Nhưng nếu nhìn thẳng vào năng lực tạo công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hay đóng góp cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học, khoảng cách của đại học VN với các đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á vẫn còn xa.

Điểm yếu lớn nhất của đại học VN không phải thiếu trường, mà thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Nhiều trường hiện vẫn vận hành như cơ sở đào tạo mở rộng quy mô hơn là trung tâm tạo tri thức mới. Thành công nhiều khi vẫn được đo bằng số lượng tuyển sinh, số ngành mở mới hay số lượng bài báo được đong đếm cơ học, thay vì năng lực giải quyết những bài toán phát triển của đất nước và năng lực tạo ra công nghệ có giá trị thực.

Đại học VN đang mạnh về bài báo nhưng còn rất yếu về bằng sáng chế quốc tế; nếu so sánh về số lượng bằng sáng chế quốc tế với các đại học trong khu vực, thì sự hiện diện của các đại học VN trên bản đồ sở hữu trí tuệ công nghệ toàn cầu vẫn còn mờ nhạt.

Đó là khoảng cách đáng lo.

Đại học tham gia tạo tương lai quốc gia

Trong khi đó, mô hình đại học thế giới đã thay đổi rất nhanh. Đại học Stanford góp phần tạo ra Thung lũng Silicon, MIT trở thành trung tâm kết nối công nghệ – quốc phòng – công nghiệp của Mỹ. Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đang đóng vai trò trung tâm trong chiến lược công nghệ và AI của Trung Quốc. NUS là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Singapore.

Họ không chỉ đào tạo nhân lực, mà họ còn tham gia tạo tương lai quốc gia.

Điều đáng suy nghĩ hơn là AI đang làm thay đổi tận gốc mô hình đại học truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tri thức phổ thông không còn chủ yếu nằm trong giảng đường hay thư viện đại học; đại học đứng trước nguy cơ mất độc quyền tri thức, nền tảng quyền lực quan trọng của mình.

Khi tri thức phổ thông trở nên gần như miễn phí nhờ AI, giá trị của đại học sẽ không còn nằm ở việc truyền đạt cái đã biết, mà ở khả năng tạo ra cái chưa ai biết; không phải đào tạo những con người làm theo quy trình, mà đào tạo những người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo công nghệ và dẫn dắt xã hội trong môi trường đầy bất định.

Nếu không chuyển đổi kịp, nhiều đại học có thể tụt hậu ngay trong chính chức năng truyền thống của mình.

 

Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin – cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Nhưng thách thức lớn nhất của đại học VN hiện nay không đơn thuần là tiền bạc hay cơ sở vật chất. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở mô hình quản trị và tư duy phát triển. Bởi lẽ, một đại học nghiên cứu đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ chuyển giao công nghệ. Sứ mệnh tối cao của nó là trở thành chiếc nôi đào tạo và hình thành các tầng lớp tinh hoa, từ khoa học, công nghệ đến quản trị chính sách và doanh nghiệp, những bộ óc đủ tầm dẫn dắt tương lai quốc gia.

Tinh thần của đại học nghiên cứu là tự do học thuật, tranh luận và chấp nhận rủi ro sáng tạo.

Nhưng mô hình quản lý hiện nay lại thiên về kiểm soát, cào bằng và an toàn. Chúng ta muốn đại học đổi mới sáng tạo, nhưng lại vận hành bằng tư duy của một đơn vị sự nghiệp hành chính.

Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin – cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Không thể có nghiên cứu đột phá nếu môi trường học thuật thiếu phản biện thực chất và cạnh tranh học thuật đúng nghĩa.

Không thể thu hút nhân tài toàn cầu hay các nhà khoa học VN hàng đầu trở về nếu cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và hợp tác quốc tế vẫn chậm chạp, khép kín và thiếu chuẩn quốc tế.

Điều đáng mừng là lần đầu tiên, VN đặt khoa học – công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia. Chủ trương dành 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo và khoảng 2% GDP cho khoa học – công nghệ là một quyết định lớn, cho thấy tư duy phát triển quốc gia đã thay đổi.

Cần cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia

Nhưng nguồn lực dù lớn đến đâu cũng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là dám thay đổi mô hình phát triển đại học.

VN không cần thêm những đại học lớn về quy mô. VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia. Muốn vậy, phải chấp nhận cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia: tự trị học thuật thực chất, cạnh tranh nhân tài toàn cầu và mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế.

Cần nhìn nhận đúng định nghĩa: tự chủ đại học tuyệt đối không phải là sự đánh đồng với việc Nhà nước “khoán tài chính” để đại học tự lo trong bài toán tăng học phí, mà đó là một cam kết thể chế: Nhà nước tiếp tục đầu tư trọng điểm, chiến lược nhưng kiên quyết buông bỏ tư duy kiểm soát hành chính, trao lại quyền tự trị học thuật thực chất cho giảng đường.

Nếu không hình thành được ít nhất vài đại học nghiên cứu đủ mạnh trong 15-20 năm tới, VN có nguy cơ tiếp tục đứng ở vị trí gia công công nghệ và phụ thuộc tri thức trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay cả khi có thêm vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại.

Điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra với Đại học Quốc gia Hà Nội thực chất là một yêu cầu chiến lược đối với tương lai VN: phải hình thành những “đầu tàu trí tuệ” đủ sức dẫn dắt công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.

Trong thế kỷ 21, khoảng cách giữa các quốc gia sẽ ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức và công nghệ. Vì vậy, cải cách đại học không còn là câu chuyện riêng của ngành giáo dục.

Muốn trở thành quốc gia phát triển, VN trước hết phải trở thành quốc gia có đại học nghiên cứu mạnh.

Phan Thanh Bình

 

Lời bạt

Nguyễn Xuân Xanh

Bài viết trên được đăng trên báo Thanh Niên ngày 19. 5. 2026. Tôi rất cảm ơn anh Phan Thanh Bình đã có nhã ý cho tội đăng lại bài trên mà tôi rất tâm đắc, cũng như cảm ơn báo Thanh Niên đã cho phép. Tôi hy vọng những bài viết như của anh Phan Thanh Bình sẽ góp phần vào cuộc thảo luận, góp ý xây dựng mô hình đại học nghiên cứu theo đúng nghĩa, như flagship cho mỗi hệ thống đại học quốc gia không thể thiếu trong cuộc chấn hưng đất nước. Các đại học này đã sinh ra trong giai đoạn khó khăn của quốc gia, ở Đức, hay Mỹ, hay Nhật Bản, Bắc Kinh…., nhằm “lấy những giá trị tinh thần để thay thế cho những mất mát vật chất”, như kỳ vọng của Đại học Berlin khi nó ra đời năm 1810.

Trong sách ĐẠI HỌC, trang 113-114, tôi có đoạn trích dẫn sau đây, trong rất nhiều trích dẫn về vai trò của đại học nghiên cứu, xin lập lại:

Các quốc gia phương Đông đang trỗi dậy đều nhận ra tầm quan trọng của lực lượng lao động được đào tạo tốt như một phương tiện tạo ra tăng trưởng kinh tế và họ hiểu rõ tác động của nghiên cứu trong việc thúc đẩy đổi mới và cạnh tranh.

Một lực lượng lao động có học, được đào tạo tốt là nhân tố cơ bản trong việc biến đổi Nhật Bản và Hàn Quốc trong nửa thế kỷ qua, trước tiên từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, và tiếp đến từ công nghiệp kỹ thuật thấp đến công nghiệp kỹ thuật cao.

Tại sao Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore và Hàn Quốc bày tỏ công khai sự khao khát nâng một số trường đại học của họ lên vị trí cao ấy (đẳng cấp thế giới)? Tôi nghĩ có hai lý do. Các nước đang phát triển nhanh chóng này nhận ra tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học dựa trên các trường đại học trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt kể từ sau Thế chiến thứ hai. Hai là, các đại học đẳng cấp quốc tế cung cấp một cái khung lý tưởng về đào tạo con người cho nghề nghiệp khoa học, công nghiệp, nhà nước, và cho xã hội dân sự, những người có bề rộng trí tuệ và kỹ năng tư duy phản biện để giải quyết vấn đề, để đổi mới, và lãnh đạo.

Không giống những chuẩn mực ở các trường Âu Mỹ, phương pháp sư phạm ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc dựa trên cách học thuộc lòng. Theo truyền thống, sinh viên là những người nghe thụ động, hiếm khi thử thách lẫn nhau hay thử thách các giáo sư trong lớp học. Phương pháp sư phạm tập trung vào việc làm chủ nội dung, chứ không phải phát triển năng lực tư duy độc lập và tinh thần phản biện. Các tiếp cận của châu Á truyền thống đối với chương trình học và phương pháp giảng dạy có thể hoạt động tốt cho việc đào tạo hàng lớp kỹ sư và viên chức chính phủ hạng trung, nhưng có lẽ không mấy thích hợp để đào tạo giới tinh hoa cho việc đổi mới và lãnh đạo.

Nếu các quốc gia mới nổi lên ở châu Á tập trung nguồn lực đang tăng trưởng của họ cho một số ít trường, giành được một lực lượng nhân tài ở trình độ thế giới, và đi theo chủ trương tự do diễn đạt và tự do truy vấn, họ có mọi triển vọng để thành công trong việc xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Đó không phải là chuyện xảy ra qua đêm, mà sẽ mất hàng thập kỷ. Nhưng điều đó có thể xảy ra nhanh hơn bao giờ hết.

Richard C. Levin, nguyên Chủ tịch Đại học Yale

Trong thời Hoàng kim (Gilded Age) sau cuộc nội chiến, các nhà giáo dục đại học Mỹ đã tích cực xây dựng mới hay chuyển biến các colleges thành các đại học nghiên cứu, và họ đã thực hiện điều đó trung bình trong vòng ba thập niên. Ở Việt Nam, khái niệm Đại học nghiên cứu Humboldt đã có những bước đi như sau:

Năm 2000 trong sách Nước Đức Thế Kỷ XIX:

Nước Đức thế kỷ XIX tái bản lần IV có gì mới?

Năm 2010 trong Kỷ yếu 200 Năm Đại học Humboldt:

Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 Năm

Năm 2018 trong sách Đại học. Định chế giáo dục cao thay đổi thế giới:

Giới thiệu sách ĐẠI HỌC của Nguyễn Xuân Xanh

Xin xem các bài viết mới nhất về đại học nghiên cứu, và tự do học thuật gần đây:

Tự do học thuật của các đại học Đức (Hermann von Helmholtz) 

Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Charles W. Eliot (Harvard) 

và quyển sách rất đáng đọc:

Đại học Hoa Kỳ: Từ Hỗn độn hoàn hảo đến Ngọn hải đăng thế giới