Thầy tôi: Klaus Krickeberg – Người yêu mến đất Việt

by , under Uncategorized

 

Thầy tôi:

KLAUS KRICKEBERG

(1929-)

NGƯỜI YÊU MẾN ĐẤT VIỆT

 

Lời nói đầu. Bài viết sau đây được đăng trên báo Doanh Nhân Cuối Tuần, số 797, thứ Sáu ngày 5.4.2019, có thể được xem ở link https://doanhnhanplus.vn/thay-toi-klaus-krickeberg-nguoi-yeu-men-dat-viet-416720.html. Vì tính chất đầy đủ, tôi xin đăng lại dưới đây.

***

Trong sự công nhận những đóng góp vào sự nghiệp xây dựng của Việt Nam trong 50 năm qua, đặc biệt cho nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng các khoa học thống kê, và cho việc củng cố ngành Y tế công cộng Việt Nam, và sự phát triển các quan hệ hữu nghị giữa nhân dân các nước Đức – Pháp – Việt Nam.

Đại học Quốc gia Khoa học tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh

Văn bản công nhận học vị Tiến sỹ Danh dự cho Klaus Krickeberg 2014

Ngày 25/2/2019 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, trong một buổi lễ trọng thể diễn ra tại Bộ Y tế, đã thay mặt cho nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị cho GS TS Klaus Krickeberg vì những cống hiến to lớn và bền bỉ của ông cho Việt Nam, đặc biệt trong ngành y tế và y tế công cộng. Hơn thế nữa, Bà còn long trọng tuyên bố, trong đề án lớn “Sức khỏe Việt Nam” sắp tới, Bộ Y tế sẽ thực hiện tất cả những đề nghị của GS Krickeberg đã gửi cho bà trong một giác thư gần đây về nhu cầu cấp bách cải tổ toàn diện ngành Y tế công cộng. Đó là điều mong ước của ông. Bao năm ông đã gieo hạt giống, phải chăng mùa gặt giờ đang đến gần? Bộ trưởng cũng nhắc đến một chi tiết thú vị: rằng bà cũng từng là học trò của Krickeberg hơn 30 năm trước, lúc ông đến giảng dạy ở Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh.

Klaus Krickeberg là ai?

Klaus Krickeberg thuộc thế hệ tinh hoa của CHLB Đức thời hậu chiến. Ở tuổi 29, là một trong những người trẻ nhất, ông được phong hàm giáo sư thực thụ (full professor) tại Đại học Heidelberg (1958) là đại học rất cổ xưa và nổi tiếng châu Âu. Ông là nhà toán học làm về xác suất đầu tiên thời hậu chiến, giúp xây dựng ngành xác suất từ con số không sau khi Quốc xã phá tan nền khoa học đỉnh cao của nước Đức. Ông được mời đi diễn thuyết, hầu như khắp nơi: Mỹ, Đan Mạch, Pháp, Liên Xô… Ông được tặng nhiều vinh dự, như được bầu làm Chủ tịch của Hội toán học thống kê và xác suất Bernoulli quốc tế (Bernouilli Society for Mathematical Statistics and Probability) nhiệm kỳ 1977-1979, và năm 1983 được bầu làm viện sĩ của “Hàn lâm viện Khoa học Đức Leopoldina” nơi mà Albert Einstein và David Hilbert cũng từng là thành viên.

Đầu năm 1967 chân ướt chân ráo tôi đến Đại học Heidelberg để “tìm thầy học đạo” và tình cờ quen biết ông mà không biết rằng lúc đó ông đã là người “yêu nước” Việt Nam nhiều hơn tôi rồi, và có một ý thức dấn thân rất sớm. Năm 1965 ông đã gửi tiền cho Vietnam Hilfsaktion, một tổ chức nhân đạo ở Cộng Hòa Liên Bang Đức giúp đỡ Việt Nam. Nhưng hành động có ý nghĩa chính trị và có tiếng vang hơn là việc ông là nhà toán học Tây Đức duy nhất ký tên vào Tuyên cáo năm 1966, sáng kiến của nhà toán học uy tín Pháp Laurent Schwartz (giải Fields 1950) tại Hội nghị quốc tế các nhà toán học (IMC) lần thứ 15 tại Moscow kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Bản Tuyên cáo được rất nhiều nhà toán học Nhật Bản ủng hộ. Năm 1966 đánh dấu bằng việc Mỹ bắt đầu oanh tạc miền Bắc, đồng thời bằng sự hình thành của phong trào phản chiến Mỹ ở UC Berkeley, với sự tham gia của nhà toán học Mỹ Stephen Smale (giải Fields 1966 năm đó). Phải nói đó là hành động rất dũng cảm của Klaus Krickeberg bởi vì CHLB Đức lúc đó là đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh lạnh.

Nhưng cuộc gặp gỡ có tính lịch sử có lẽ là chuyến thăm Hà Nội của ông mùa hè năm 1974 theo lời mời của Viện toán Việt Nam. Ông đi bằng xe lửa bắt đầu tại thành phố Bielefeld nơi ông đang làm giáo sư từ năm 1971. Cuộc hành trình kéo dài 10 này, xuyên qua Nga, Tây Bá Lợi Á, Mông Cổ, Trung Quốc để cuối cùng đưa ông đến Hà Nội. Trên xe ông chuẩn bị các bài diễn thuyết bằng tiếng Việt mà ông đã tự học trước đó. Ông có lẽ là người thứ ba thăm Việt Nam sau Laurent Schwartz và Alexander Grothendieck. Năm đó, Hội nghị thế giới các nhà toán học lần thứ 17 họp tại Vancouver. Ông đã được mời đọc bài báo cáo toàn thể, một vinh dự lớn đối với một nhà toán học, nhưng đã từ chối để chuẩn bị cho chuyến đi Việt Nam. Đối với ông, Việt Nam bây giờ quan trọng hơn cả.

Ông làm việc ở Hà Nội say mê đến 6 tuần, gặp gỡ các nhà khoa học hàng đầu như Tạ Quang Bửu, Hoàng Tụy, Bác sĩ Tôn Thất Tùng. Họ đều sôi nổi quan tâm sâu sắc đến những vấn đề toán học ứng dụng, đặt ra cho ông nhiều bài toán cụ thể. Họ gặp Krickeberg như từ một sự “khao khát đợi chờ”, và kỳ vọng Krickeberg sẽ là người đặt những viên đá nền tảng đầu tiên cho toán học ứng dụng cho Việt Nam. Cho nên những năm sau đó cuộc gặp gỡ với GS Hoàng Thủy Nguyên của Viện Vệ sinh và Dịch tễ Trung ương, ông tổ của ngành vaccine Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn. Viện này đang chờ đợi một sự hợp tác rộng lớn và lâu dài ở ông. Và ông cũng tìm thấy ở Viện một “bàn đạp” hữu hiệu để đưa toán học vào ứng dụng rộng rãi và hữu ích cho Việt Nam.

Cuộc gặp gỡ năm 1974, cũng như nhiều cuộc gặp gỡ sau diễn ra những năm 1978, 79, 80 đã tạo thêm niềm tin ở ông rằng, dân tộc này có tiềm năng trí tuệ lớn, có ý chí, cần cù lao động, ham học hỏi khoa học kỹ thuật để xây dựng đất nước bất chấp trở ngại gian khổ. Và ông quyết tâm góp phần lớn nhất của mình vào việc xây dựng một nền toán học ứng dụng, và cởi trói sự cô lập khoa học của Việt Nam.

Từ 1974 trở đi, sự dấn thân của ông cho Việt Nam thực tế đã đưa ông sang một quỹ đạo khác của cuộc đời toán học của ông. Ông nói, những gì dần dần diễn ra đã đem lại cuộc đời tôi một định hướng hoàn toàn khác. Ông đi Việt Nam thường xuyên hơn để xây dựng nền tảng toán học vững chắc cho ngành y tế và giúp giải quyết những bài toán căn bản trong đời sống thực tế. Các phương pháp thống kê, như lấy mẫu ngẫu nhiên, được ông đưa vào đầu tiên. Ông tham gia nhiều chương trình như Chương trình 10 năm của Bộ ngoại giao Pháp tập huấn cán bộ hệ thống y tế; Chương trình UNICEF về kiểm soát bệnh tiêu chảy, mở rộng chủng ngừa, và sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kiểm soát bệnh sốt rét, lao, dịch tễ học tại các hệ thống làng xã; chương trình của GTZ (Tổ chức hợp tác kỹ thuật của Đức) về kế hoạch hóa gia đình; “Chương trình phát triển các hệ thống y tế” của Cộng đồng châu Âu.(1)

Năm 1998 ông nghỉ hưu ở Pháp, “Chương trình các hệ thống y tế” cũng kết thúc năm 2004 với báo cáo 45 trang của ông, nhưng ông chưa nghỉ hưu đối với Việt Nam. Ông khởi động một đề án mười năm tới, 2006-2016, được Quỹ Đức “Else Kröner-Stiftung” tài trợ nhằm phát triển Y tế công cộng mà điểm khởi đầu là Đại học Thái Bình do GS Hoàng Thủy Nguyên giới thiệu. Đề án này sau đó được mở rộng trên quy mô lớn đến các tỉnh khác. Sau 10 năm lao động cật lực ở ba miền mà ông đã đúc kết những nhận xét cần phải cải tổ ngành Y tế công cộng Việt Nam để nâng cao vị thế của ngành và chất lượng lên hàng quốc tế. Đã có hơn 600 nhà khoa học tham gia các workshop ông tổ chức. Ông có rất nhiều học trò và đồng nghiệp trên nhiều miền đất nước.

“Tham vọng” của GS Krickeberg là đưa ngành Y tế công cộng Việt Nam, về nhân sự, cấu trúc, trình độ khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy, tính chuyên nghiệp, năng lực ứng dụng toán học, óc tổ chức, sự vận hành bộ máy, lên mặt bằng thế giới, hay tương đương, và nâng vị thế của y tế công cộng trong ý thức của cộng đồng khoa học và dân chúng, cũng như cải thiện vị thế và điều kiện làm việc của các giảng viên.

Một trong những công việc ông vẫn tiếp tục là cùng với một số cộng tác viên Việt Nam biên soạn bộ sách giáo khoa song ngữ căn bản để nâng cao chất lượng giảng dạy cho các giảng viên, tập trung xây dựng giáo trình giảng dạy cho ngành Y tế công cộng tại các trường Đại học Y dược trên khắp cả nước (trừ Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay, bộ giáo trình hiện đại và rất có giá trị này đã xuất bản được sáu quyển và dự kiến sẽ có hai quyển mới được xuất bản trong năm nay.

Từ 1974 đến nay, 45 năm trôi qua, ông liên tục thăm và làm việc với Việt Nam. Chuyến đi tháng 2, 2019 vừa qua là chuyến thứ 33, tức trung bình mỗi 1.36 năm ông thăm đất nước này một lần. Ông đã làm việc với vô số các viện, đại học, phân khoa từ Bắc, Trung, Nam và Cao nguyên. Ông không phải chỉ đứng trên bục giảng mà còn đi “thực địa” đến thăm các Trạm y tế xã để xem họ hoạt động thế nào. Ông đã thăm tất cả trên 50 trạm như thế.

Ông đã nhận được nhiều phần thưởng cá nhân cho những hoạt động của ông ở Việt Nam: Huân chương của Bộ Y tế năm 2009 về những đóng góp cho Sự nghiệp vì sức khỏe nhân dân, Tiến sỹ Danh dự năm 2014 của Đại học các Khoa học Tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh cho những đóng góp vào sự nghiệp xây dựng của Việt Nam trong 50 năm qua; và danh hiệu “Giáo Sư Danh Dự” năm 2015 của Trường Đại học Thái Bình.

Nhưng có một danh dự đặc biệt mà ông nhận được và rất tự hào, vì nó đến tự phát từ trái tim của một người Việt Nam bình thường mà lại rất sâu sắc. Đầu những năm 1980, ông nhớ lại, “Nhóm Toán của chúng tôi làm việc trong một căn hộ nhỏ bé tại tầng trệt của Viện Vệ sinh Dịch tễ nhà nước. Mỗi sáng tới cơ quan bằng xe đạp. Hồi đó trên đường phố Hà Nội hầu như chưa có xe máy. Có một buổi sáng, người tạp vụ của Viện và tôi cùng tới Viện bằng xe đạp. Gặp nhau ở cổng viện, anh ta nói với tôi rằng: Kơ-Rí-Cơ-Béc là một người Việt Nam. Đó có lẽ là kỷ niệm chẳng thể quên về quá trình gắn bó với Việt Nam” như ông đã nhắc lại trong bài đáp từ tại Lễ nhận Huân chương.

Khi chuyển qua làm việc tại ĐH Paris V sau 1974, ông học tiếp về ngôn ngữ và văn minh Việt Nam cho đến khi lấy được bằng cử nhân năm 1988. Krickeberg là người có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ. Ông thạo tiếng Pháp, Anh, Nga, Đan Mạch, Tây Ban Nha và cả tiếng Hy Lạp hiện đại với những mức độ khác nhau. Một lần tôi chứng kiến sự kiện sau đây tại Đại học Bielefeld trong một cuộc hội thảo ủng hộ Chile. Sau khi người thông dịch gặp nhiều khó khăn, ban tổ chức đã quyết định mời Klaus Krickeberg từ khán giả lên thay. Ông dịch lưu loát cả hai chiều một cách đáng ngạc nhiên, và từ đó buổi họp đã diễn ra trôi chảy. Thật rất đáng khâm phục.

Krickeberg là một tấm gương mẫu mực. Những gì ông thực hiện, ngoài việc truyền đạt những kiến thức chuyên môn, còn có thêm ý nghĩa một sự xây dựng và vun bồi văn hóa khoa học, cách suy nghĩ toán học, óc tò mò, tinh thần học thuật, lòng đam mê, tận tụy và ý thức trách nhiệm cho người Việt Nam. Không có những đức tính đó, không thể có khoa học đích thực. Ông muốn chăm bón khu vườn văn hóa cần thiết để khoa học phát triển, cho dù ngày mai không có ông.

Trong các nhà khoa học nước ngoài đã từng ủng hộ cuộc đấu tranh chống chiến tranh, có lẽ Krickeberg là một trong rất ít người, hay là người duy nhất, vẫn miệt mài công việc hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc xây dựng hòa bình đất nước, mặc cho những thăng trầm của xứ sở. Cuộc chiến tranh quá khốc liệt chạm đến trái tim nhân bản của bao nhiêu người trí thức khiến họ đứng lên hoạt động. Nhưng đối với Krickeberg, hoạt động ủng hộ Việt Nam không chấm dứt với sự chấm dứt chiến tranh, mà ông là người đã đi đến cùng của lôgic: Xây dựng một mảng toán ứng dụng cho ngành y tế cho Việt Nam. Đó mới là điều chính yếu của cuộc dấn thân nhân bản.

Sau những ngày ở Hà Nội và rồi làm việc ở Hải Phòng, ông được gia đình doanh nhân hảo tâm Bạch Mai và Tiêu Như Phương mời về khu nghỉ dưỡng EDENSEE Đà Lạt sang trọng và thơ mộng bên Hồ Tuyền Lâm, và được tổ chức lễ sinh nhật thứ 90 tại đây, trong vòng một số bạn bè thân hữu. Ông được sống những ngày thật sự thư giãn giữa thiên nhiên, điều ông luôn luôn yêu thích. Triết lý sống của ông là gần gũi với triết lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, tránh xa những chỗ náo nhiệt để giữ tâm hồn được thanh tịnh. Ông thích khám phá, leo núi, tắm biển ở những nơi còn hoang sơ. Có lẽ vì thế mà ông vẫn giữ được phong độ. Đúng 10 năm trước bạn bè cũng đã tổ chức sinh nhật thứ 80 của ông tại đây. Một trong những kỷ niệm còn lưu lại là chiếc áo vest lụa Việt Nam sang trọng ông đặt may tại một tiệm may Đà Lạt mà ông mặc trong chuyến đi này. Ngày đó, khi ông bước vào một tiệm may đo, ông chủ người Việt trố mắt lên: Ô, đây chính là người mà ông vừa đọc trên báo Tuổi Trẻ và đem lòng ngưỡng mộ đây mà! Ngọn gió nào đã mang ông đến đây?

Vâng, ngọn gió nào đã mang Klaus Krickeberg đến đất nước Việt Nam làm một cuộc hẹn hò lịch sử nửa thế kỷ? Ông đã đi khắp thế gian, nhưng tại sao lại chọn một đất nước khó khăn làm chỗ dấn thân? Tình yêu luôn luôn là điều bí ẩn. Nhưng cám ơn Klaus đã miệt mài đem tình yêu và khoa học vô điều kiện đến đất nước đang cần để xanh tươi. Trong buổi chiêu đãi tối ngày 25/2, được bà Bộ trưởng Y tế Kim Tiến hỏi ông còn tiếp tục đi với chúng tôi trong giai đoạn đổi mới sắp tới nữa không, ông đã không ngần ngại trả lời: Có chứ, tôi sẽ tiếp tục ủng hộ các bạn − trong tiếng vỗ tay vui mừng của các vị khách quý. Câu trả lời khẳng định của một người tuổi đã 90 không dễ cho người thường! Sức mạnh từ đâu ông có? Từ cuộc sống thanh đạm, lành mạnh, phong phú về tinh thần và văn hóa, nhưng trước hết từ tình yêu đối với Việt Nam. Như Einstein nói, không có tình yêu sẽ không có gì cả, không khoa học lẫn nghệ thuật. Tình yêu mới chính là nguồn năng lượng sáng tạo vô biên. Và khi về tới Đức, ông tiếp tục lao ngay vào công việc cho giai đoạn mới ở phía trước cho Việt Nam.

Một trăm năm mươi năm trước, các chuyên gia nước ngoài đến Nhật Bản thời Minh Trị làm việc đều được thuê và trả lương, có khi cao hơn cả lương của thủ tướng họ. Sau khi công việc xong, những người có những cống hiến đặc biệt sẽ được Hoàng đế Minh Trị trao tặng Huân chương Mặt trời mọc cao quý. Còn Klaus Krickeberg, ông là người ngay từ đầu đơn giản đến với Việt Nam chỉ bằng tình yêu, trái tim nhân ái và tự nguyện, và ông đã tiếp tục suốt nửa thế kỷ như thế.

NXX

Tháng 3, 2019

(1) Để hiểu rõ thêm quy mô và ý nghĩa của công việc Klaus Krickeberg đã thực hiện tại Việt Nam xin xem thêm bài của tác giả https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/klaus-krickeberg-mot-doi-gan-bo/

Chùm ảnh của Nguyễn Xuân Xanh:

C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\Minister confering medai.jpg

Bà Bộ trưởng Y tế Kim Tiến gắn Huân chương Hữu nghị cho GS Klaus Krickeberg

C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\Tiec chieu dai cua Bo truong y te.jpg

Tiệc chiêu đãi, với lẵng hoa sinh nhật cho Klaus Krickeberg

C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\At dinner with minister.jpg

Quà sinh nhật của Bà Bộ trưởng cho Klaus Krickeberg.

Bên phải là người bạn đời Helga Zeile của ông.

C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\Dalat Edensee_Happy birthday.jpg

Tiệc sinh nhật tại khu nghỉ dưỡng Edensee Đà Lạt.

Người hàng đầu bên phải là doanh nhân Tiêu Như Phương.

C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\Di thuyen tren ho Tuyen lam.jpg

Đi thuyền trên hồ Tuyền Lâm