Cuộc trò chuyện với Adam Smith Phần II

by , under Uncategorized

CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI ADAM SMITH PHẦN II

Nguyễn Xuân Xanh

Dưới đây là Phần II của Cuộc trò chuyện với Adam Smith đã được bắt đầu tại Edinburgh năm 2023 sau khi quyển Kỷ yếu Adam Smith ra mắt độc giả. Phần I xin xem ở đây:

Chuyến thăm và cuộc trò chuyện với Adam Smith tại Edinburgh

và giới thiệu Kỷ yếu Adam Smith:

Kỷ yếu Adam Smith 300 năm (1723-2023) ra mắt

cũng như cập nhật Phần III:

Từ Adam Smith đến Ludwig Erhard (Trò chuyện với A. Smith phần III)

 

TRÒ CHUYỆN:

– Nguyên: Chào ông Smith kính mến!

– Smith: Ô, chào ông Nguyên! Ông đi thăm tôi phải không? Ông vẫn khỏe chứ? Chắc ông có niềm vui mang đến cho chúng tôi?

– Nguyên: Thưa có ạ. Số Kỷ yếu kỷ niệm sinh nhật thứ 300 của ông sắp ra mắt công chúng Việt Nam nay mai! Mừng quá, tôi vội báo tin ông. Sau lần thăm và trò chuyện lần thứ nhất với ông khi Hội thảo Văn Lang đầu tháng 12, 2023, chúng tôi đã nỗ lực viết bài để cho ra số Kỷ yếu kỷ niệm ông. Công việc đã kéo dài khá lâu, và nay đã có kết quả! Ông xem nè có đẹp không?

– Smith: Ô, quá tuyệt vời! Tôi cảm thấy rất vinh dự được các bạn nghiên cứu và giới thiệu công phu ở một đất nước xa xôi đối với tôi. Một nỗ lực lớn lắm, tôi biết. Rất cảm ơn công lao của các bạn!

– Nguyên: Thưa ông, công việc kéo dài là bởi vì tư tưởng và ảnh hưởng của ông 250 năm qua quá lớn và bao trùm. Ông vừa là nhà kinh tế chính trị, vừa là nhà triết học, nhà lập pháp, một học giả có tri thức sâu rộng bao trùm nhiều ngành học thuật. Ông chính là tấm gương và động lực của chúng tôi. Ở Việt Nam, ảnh hưởng của ông đã bắt đầu cảm nhận được rõ nét và có tính transformational, chuyển biến, chuyển pha, từ những năm nhà nước ban hành chính sách Đổi mới thập niên 1980 thế kỷ trước, dưới cái tên khiêm tốn Kinh tế thị trường, mặc dù không ai nhắc đến tên ông cả. Nhưng câu nói rất hay của Maynard Keynes làm cho người ta ý thức về ảnh hưởng âm thầm của ông. May mắn thay, thời kỳ kinh tế kế hoạch đã qua. Sau Đổi mới, con người được cởi trói, và trở thành chủ thể tự do đi tìm hạnh phúc của mình, mọi sự đặt để con người vào vị trí mà họ không muốn đều là xa lạ.

Nhìn lại lịch sử, đổi mới của Việt Nam chẳng phải có những nét giống với sự “đổi mới” thời ông, đúng không ạ?, là nhằm thoát ra khỏi những định kiến xem tư lợi (self-interest), ngã ái (self-love) của con người là tội lỗi cần nên tránh xa và cấm đoán, kinh tế tư nhân từ đó bị cho là ích kỷ, tội lỗi như thời ông dưới tác động của tôn giáo và chủ nghĩa khắc kỷ. Và ông chính là người đã “ân xá” cho con người khỏi những “tội tổ tông” ấy để tham gia vào kinh tế thị trường như những chủ thể tự do, không mặc cảm, mà hãnh diện, hầu đóng góp vào phúc lợi xã hội qua bàn tay vô hình của ông. Một xã hội nghèo khổ mới đáng sợ hơn, bởi, như ông nói, đạo đức của nó sẽ suy đồi, và con người nhẫn tâm hơn.

Có lẽ vì thế mà Nghiêm Phục (Yan Fu), người đầu tiên dịch tác phẩm Wealth of Nations của ông đầu thế kỷ XX tại Trung Quốc đã tâm sự có những lúc đọc những câu nói của ông mà không cầm được nước mắt! Những ai thực sự từng trải qua giai đoạn bản chất tự nhiên của con người, “to truck, barter and exchange” như ông diễn tả, bị chối bỏ, rồi đọc sự bảo vệ kiên quyết của ông, khái niệm “hệ thống tự do tự nhiên” của kinh tế thị trường với tự do kinh doanh rộng rãi cho mọi người để tự mưu sinh cho mình, sự thừa nhận tư hữu là thiêng liêng, chắc chắn không khỏi không xúc động. “Mọi người, miễn là không vi phạm luật công lý, được hoàn toàn tự do theo đuổi lợi ích của mình theo cách riêng của mình, và đưa cả công nghiệp (tri thức kinh doanh) lẫn vốn của mình cạnh tranh với công nghiệp và vốn của bất kỳ người, hoặc nhóm người nào khác.” Và bằng sự theo đuổi lợi ích riêng, cá nhân thường làm giàu cho lợi ích của xã hội hiệu quả hơn khi cá nhân  có chủ đích làm việc đó.

Qua sự biện hộ sâu sắc của ông, những cái xấu (vices) cá nhân của con người có thể biến thành cái tốt (goods) cho xã hội – qua bàn tay vô hình thần kỳ của ông. Ông là người đã phục hồi nhân phẩm con người, nhìn sự tiến hóa của nhân loại một cách tích cực và nhân bản hơn. Mà chẳng phải Chúa Giêsu Christ là người đã từng đối xử với những người phạm tội rất nhân từ hay sao?

Nhìn lại, chúng tôi thấy, Kỷ yếu Adam Smith hôm nay có thể xem là “tiếng vang” của những năm Đổi mới ạ. Nếu không có Đổi mới, thì chắc không thể có Kỷ yếu Adam Smith như hôm nay, sau gần 40 năm. Cũng như thế ở Trung Quốc, nếu không có đổi mới những năm 1980 thì chắc giới tri thức Trung Quốc hôm nay cũng không thể làm ông sống lại một cách sôi động. Một vị thủ tướng cũng từng đọc Lý thuyết những tình cảm đạo đức của ông một cách hứng thú.

– Smith: Vâng, có lẽ đúng như ông Nguyên nói. Tôi đã cố gắng hiểu con người, một cách khách quan và tích cực như có thể, điều cũng là chủ đề nghiên cứu của các nhà khai sáng Scotland, làm sao cho phù hợp với bản chất con người, vượt qua các hàng rào định kiến từ tôn giáo hay ý thức hệ, cởi trói họ khỏi những trói buộc về kinh tế, thì mới đề ra được đúng các chính sách phát triển kinh tế, xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả. Điều đó tôi đã làm trong tác phẩm Lý thuyết các tình cảm đạo đức, nền tảng đạo đức để phát triển một nền kinh tế phồn vinh và vững bền.

Nhưng chắc ông Nguyên cũng biết, lịch sử phương Tây cũng có đêm “phá rào” như ở Việt Nam, đã diễn ra vào thế kỷ XVI và XVII khi những người Tin lành Thanh giáo (Puritan) ở Anh, bằng sự tái diễn giải khái niệm đạo đức tôn giáo của mình, đã xây dựng chủ nghĩa tư bản (kinh tế thị trường) phát triển mạnh mẽ đầu tiên của châu Âu. “Nghèo khó là dấu hiệu cho thấy Chúa vắng mặt, sự thịnh vượng là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Người.” Max Weber đã cắt nghĩa điều đó chi tiết rất thuyết phục trong tác phẩm nổi tiếng của ông Đạo đức Tin lành và Tinh thần của Chủ nghĩa tư bản.

– Nguyên: Nhưng sự phát triển thời đó được khoác lên màu áo tôn giáo, đúng không ạ, trong khi ông là người đặt học thuyết kinh tế của mình trên nền tảng thuần bản chất con người (human nature), mang tính phổ quát, được nghiên cứu và lý giải cặn kẽ, không mang tính tôn giáo hay ý thức hệ nào cả. Nghiên cứu bản chất con người là nét chung chủ đạo hết sức đặc biệt của Khai sáng Scotland, khác với mối quan tâm của các phong trào khai sáng khác ở châu Âu. Có lẽ vì thế mà sau khoảng một trăm năm, nhà khai sáng vĩ đại Nhật Bản Minh Trị Fukuzawa Yukichi là người đầu tiên tìm khai sáng không phải ở Pháp hay Đức mà ở Scotland! Đạo đức của ông cũng phù hợp với “chủ nghĩa tư bản đạo đức” được doanh nhân Eiichi Shibusawa xây dựng ở Nhật Bản sau đó. Người Nhật rất tinh tế trong việc khám phá những giá trị phương Tây, từ Fukuzawa trước đây cho tới nhà văn đương đại giải Nobel Kenzaburo Oe. Thật đáng ngưỡng mộ.

– Smith: Samurai Nhật Bản và người Scots của chúng tôi thật sự có nhiều duyên nợ hơn trong thực tế. Không phải chỉ có câu chuyện ảnh hưởng của Khai sáng Scotland lên Fukuzawa rồi hết. Ông Nguyên chắc biết câu chuyện Trường Châu Ngũ Kiệt rất phổ biến trong lịch sử Nhật Bản, gồm năm samurai từ bang Choshu liều mình vượt biên để sang Anh học hỏi khoa học công nghệ. Người đã đứng ra tổ chức chuyến đi bí mật và rất nguy hiểm mùa hè 1863 cho năm sinh viên gồm thủ tướng tương lai Ito Hirobumi, Inoue Kaoru, Inoue Masaru, Endo Kinzuke và Yamao Yozo ra khỏi Nhật Bản lại là một thương nhân người Scot có tên Thomas Blake Glover. Nguy hiểm lắm ông Nguyên ạ. Lúc này vẫn còn lệnh bế môn tỏa cảng sakoku của Mạc Phủ, ai bị bắt sẽ bị chém đầu, như Yoshida Shoin, thầy của họ, đã từng bị, Các vị Inoue Kaoru và Ito Hirobumi cũng đã từng đến thăm thành phố Aberdeen, thành phố lớn thứ ba và nổi tiếng về đóng tàu của Scotland. Sự hỗ trợ của Glover thời cải cách Minh Trị là một phần quan trọng trong nỗ lực lớn hơn của ông nhằm hiện đại hóa Nhật Bản bằng cách cung cấp tàu thuyền, súng ống và giới thiệu công nghệ phương Tây, mang lại cho ông biệt danh “Samurai người Scot”.

Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Khi Nhật Bản mở cửa, thì tất cả skill kỹ thuật đều được mang từ nước ngoài vào mà phần quan trọng trong đóng góp của Anh trong những ngày đầu là của Scotland. Người có công nhiều nhất có lẽ là kỹ sư đường sắt Richard Henry Brunton, người chuyển sang sống ở Nhật năm 1868 và làm việc ở đó tám năm liền. Ông giúp xây dựng bên cạnh hệ thống đường xá rất thô sơ của Nhật Bản hệ thống hải đăng Nhật Bản để mở đường cho tàu bè thông thương an toàn, giúp xây dựng chiếc cầu sắt đầu tiên ở Nhật Bản nối liền Yokohama và Tokyo, được xem là một thần kỳ, trong bối cảnh Nhật Bản thiếu thốn mọi thứ cho công nghiệp, kể cả sắt thép. Cầu sắt đầu tiên đó có thể xem là biểu tượng của công nghiệp hóa Nhật Bản! Sau đó Brunton và Glover cùng hợp tác để xây dựng đoạn đường sắt nối Yokohama và Tokyo, cũng là một kỳ công. Sự đóng góp của Scotland vào cuộc công nghiệp hóa Nhật Bản là rất lớn.

– Nguyên: Vâng, hay quá ông! Phái đoàn Iwakura có ghé thăm Scotland và trên đường về cũng đã thuê kỹ sư Henri Dyer của Đại học Glasgow để mở Đại học Kỹ thuật đầu tiên hết ở Tokyo, lúc đó chỉ sau M.I.T. khoảng mười năm thôi. Dyer đã xây dựng đại học này trong gần mười năm rất thành công. Tại lễ khai mạc Phòng thí nghiệm kỹ thuật mang tên James Watt tại Đại học Glasgow, Lord Kelvin đã mô tả trường kỹ thuật của Dyer là “trường tiến bộ nhất loại này trên thế giới”, một vinh dự cho Đại học Kỹ thuật Nhật Bản, cho bản thân Dyer, và cũng cho Đại học Glasgow, nơi ông đã tốt nghiệp (Benjamin Duke). Thật lạ thật ông nhỉ! Đất nước nhỏ bé này, với dân số ít ỏi, có nền kinh tế lạc hậu, nhưng có nền khai sáng độc đáo rất ảnh hưởng, và sau khi liên minh với Anh năm 1707, kinh tế đã nhanh chóng bắt kịp các nền kinh tế tiên tiến không chỉ về công nghiệp mà còn về các kỹ năng công nghiệp chất lượng cao.

– Smith: Vâng, hệ thống giáo dục dân chủ, khai sáng và tiến bộ là đáng chú ý, cho phép đất nước khai thác một nguồn nhân lực dồi dào trên một số dân nhỏ, mở ra con đường dẫn đến tài năng rộng lớn hơn nhiều so với nước Anh. Người Scotland đóng một vai trò lớn không cân xứng trong lịch sử phát minh và đổi mới kỹ thuật: James Watt trong động cơ hơi nước là trường hợp nổi bật đã kích hoạt cuộc công nghiệp hóa ở Anh, và nhiều doanh nhân kỹ thuật tên tuổi khác. (Eric Hobsbawm)

– Nguyên: Tuyệt vời quá! Dân tộc nhỏ bé Scotland rất đáng ngưỡng mộ ạ! Ông Smith ơi, cho phép tôi trở lại tác phẩm Lý thuyết những tình cảm đạo đức của ông một chút nhé. Một trong những đoạn văn tôi cho hay nhất là đoạn văn khi ông bàn về đạo đức, bổn phận (On Duty) sau đây:

Đó là lý trí (reason), nguyên tắc, lương tâm, cư dân của lồng ngực, con người bên trong, vị thẩm phán và trọng tài vĩ đại của hành vi của chúng ta. Chính Ngài, bất cứ khi nào chúng ta sắp hành động để ảnh hưởng đến hạnh phúc của người khác, kêu gọi chúng ta, bằng một giọng nói có thể làm kinh ngạc những đam mê tự phụ nhất của chúng ta, rằng chúng ta chỉ là một trong số đông, không có khía cạnh nào tốt hơn bất kỳ ai khác trong đó; và rằng khi chúng ta tự coi mình là kẻ phục tùng người khác một cách đáng xấu hổ và mù quáng như vậy, chúng ta sẽ trở thành đối tượng thích hợp của sự oán giận, ghê tởm và nguyền rủa. Chỉ từ Ngài mà chúng ta học được sự nhỏ bé thực sự của chính mình, và bất cứ điều gì liên quan đến chính mình, và những sự trình bày sai lệch tự nhiên của tình yêu bản thân chỉ có thể được sửa chữa bằng con mắt của người quan sát vô tư này (nghiêng được thêm vào). Chính Ngài là người cho chúng ta thấy sự đúng đắn của lòng hào phóng cũng như sự biến dạng của sự bất công; Sự đúng đắn của việc từ bỏ những lợi ích lớn nhất của bản thân vì những lợi ích còn lớn hơn của người khác, và sự bệnh hoạn của việc gây ra tổn thương nhỏ nhất cho người khác để đạt được lợi ích lớn nhất cho chính mình. Không phải tình yêu thương dành cho người lân cận, không phải tình yêu thương dành cho nhân loại, trong nhiều trường hợp thúc đẩy chúng ta thực hành những đức tính thiêng liêng đó. Chính một tình yêu mạnh mẽ hơn, một tình cảm mãnh liệt hơn, thường diễn ra trong những dịp như vậy; tình yêu dành cho những gì đáng kính trọng và cao quý, cho sự vĩ đại, phẩm giá, và sự vượt trội của chính những phẩm chất của chúng ta. (TMS, Part III, Chap. II)

Chẳng phải đó là một áng văn chương tuyệt đẹp về đạo đức hay sao? Tôi có thể lộng kính đoạn văn trên để treo trên tường, để luôn luôn nhớ rằng con người quả thật vốn sinh ra cao quý, O nobly born, như Jack Kornfield từng trích dẫn Buddha’s teachings. Ông dẫn dắt quốc gia và thế giới trong cuộc mưu tìm hạnh phúc, nhưng không phải chỉ biết có lợi nhuận lạnh lùng của chủ nghĩa tư bản, mà trên hết đặt con người như một thực thể đạo đức cao cả làm trung tâm.

Tôi tin rằng Lý thuyết tình cảm đạo đức là quyển sách được viết hay và quy mô nhất trong truyền thống đạo đức sâu đậm của nền văn minh Hy-La, từ Plato, Aristotle, Seneca, Cicero, những người khắc kỷ etc. tại Xứ sở buổi chiều xuyên qua các thời đại Trung cổ, Phục Hưng cho đến hiện đại. Immanuel Kant cũng khen tác phẩm của ông lắm. Thật độc đáo và đáng ngưỡng mộ. Nói như nhà toán học vĩ đại Pháp Henri Poincaré, rằng không nên chỉ vì cuộc sống mà chúng ta đánh mất lý do tồn tại cao quý của mình (et propter vitam vivendi perdere causas)

– Smith: Cảm ơn nhận xét của ông. Vâng, truyền thống đạo đức ở châu Âu có chiều dài lịch sử đáng kính sợ thật như ông nói. Không thời đại nào lại thiếu vắng những người thầy, nhà giáo dục, học giả, những người viết sách về đạo đức để rèn luyện con người, làm tốt xã hội. Không có lực lượng đông đảo các nhà nhân văn đạo đức đó, chúng ta khó hình dung xã hội châu Âu sẽ tiến hóa về đâu nào? Những tình cảm tốt đẹp đó đóng vai trò lực hút của Newton, giúp giữ cho vũ trụ con người được hài hòa và bền vững. Lý thuyết những tình cảm đạo đức cũng nằm trong truyền thống đó. Theo những người Khắc kỷ xưa,

Con người nên coi trọng chính mình. . . như là một công dân của thế giới, một thành viên của cộng đồng tự nhiên rộng lớn. . . . Chúng ta nên nhìn chính mình. . . dưới ánh sáng mà bất kỳ công dân nào khác trên thế giới sẽ nhìn chúng ta. Những gì xảy ra với bản thân chúng ta, chúng ta nên coi đó là những gì xảy ra với người hàng xóm của chúng ta, hoặc, điều đồng nghĩa, như người hàng xóm của chúng ta coi những gì xảy ra với chúng ta. (TMS, 159)

Trở lại số Kỷ yếu của các bạn, tôi hết sức vui mừng và muốn khen ngợi những nỗ lực to lớn của các bạn để có số kỷ yếu hôm nay. Nó cũng rất đáng bỏ công. Học thuật là dày công. Tôi nghe ‘tin hành lang’ rằng có vài quyển sách nữa liên quan cũng sẽ ra mắt sau số Kỷ yếu của các bạn. Nỗ lực của Kỷ yếu, và các hoạt động kỷ niệm của các bạn trong năm 2023, có lẽ đã tạo ra bầu không khí lên men, thúc đẩy sự quan tâm đến chủ đề kinh tế chính trị học. Tình hình Việt Nam lúc này có lẽ cũng thuận lợi cho sự tiếp thu, phải không ông?

– Nguyên: Vâng tôi cũng tin như thế. Sự đóng góp của chúng tôi là rất khiêm tốn, nhưng hy vọng nó đánh dấu một cột mốc cho sự phát triển Adam Smith về mặt nghiên cứu, học thuật, trong những năm tới ở Việt Nam. Được như thế chúng tôi sẽ rất hạnh phúc. Kỷ yếu cũng có thể coi là công trình nghiên cứu kỷ niệm 250 năm tác phẩm vĩ đại Sự phồn vinh của các quốc gia trong năm tới, 2026. Năm mươi năm trước, khi thế giới kỷ niệm 200 năm tác phẩm này đã có một đợt bàn luận sôi nổi của các nhà kinh tế thế giới về tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó. Nhà kinh tế học Mỹ giải Nobel Joseph Stiglitz đã có nhận định sau: Hai trăm năm kể từ khi Adam Smith viết kiệt tác của mình đã chứng kiến ​​sự gia tăng chưa từng có về mức sống trong các nền kinh tế tư bản. Hơn nữa, thành quả của sự tăng trưởng này đã được phân phối rộng rãi. Tôi tin rằng Smith sẽ ngạc nhiên về hiệu quả của bàn tay vô hình, về cách nó đã phục vụ tốt như thế nào để gia tăng sự giàu có của các quốc gia.” Tôi tin rằng đánh giá đó của Joseph Stiglitz ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

– Smith: Cảm ơn ông Nguyên. Hiện tại đất nước các bạn đang có những chuyển biến thuận lợi về mặt nhận thức và tư tưởng. Điều Việt Nam cần tránh là trở thành “quốc gia của những shopkeeper”, chỉ làm thuê cho nước ngoài! Làm thuê cho nước ngoài theo giai đoạn thì được, để học hỏi kinh nghiệm rồi vươn lên, nhưng làm thuê mãi mãi mà không có perspective để tự chủ thì không nên. Việt Nam đang bước vào giai đoạn xã hội thương mại (commercial society) như tôi thường nói trong Sự Phồn vinh của các Quốc gia. Để thành công trong xã hội đó, các bạn cần phải sản xuất hàng hóa dồi dào, phong phú, ngày càng tinh tế, trước để đáp ứng nhu cầu nội địa ngày càng gia tăng, sau để xuất khẩu lấy ngoại tệ trang bị cho máy móc, công nghệ. Phân công lao động, chuyên môn hóa, ngôn ngữ hiện đại: công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với công nghệ ngày càng cao, là những công cụ hữu hiệu nhất kích thích sáng tạo, đổi mới thường xuyên, để chế tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao giúp đất nước tiến lên phồn vinh. Các xã hội đi trước như ở nước Anh thế kỷ thứ XVIII hay ở Đức, Pháp kỳ thứ XIX hay ở Nhật Bản và các nước Đông Á sau đó đều như thế cả. Xung quanh các bạn đã và đang diễn ra quá trình đó sôi động ở quy mô chưa từng thấy, và họ rất thành công, với nhiều thần kỳ xuất hiện! Phát triển kinh tế với tăng trưởng theo hàm mũ là đặc trưng của thời đại. Các bạn nên học hỏi để làm chủ đất nước của mình.

— Nguyên: Vâng, cảm ơn ông. Chủ đề được ông bàn trong chương đầu tiên hết của tác phẩm Sự phồn vinh của các quốc gia không phải là vàng bạc, đất đai, ngân hàng hay thương mại quốc tế, mà đơn giản là cây kim ghim (pin), đúng không ạ, và việc sản xuất nó theo phương pháp phân công lao động được ông giảng giải là phương pháp hữu hiệu để làm ra thật nhiều sản phẩm hơn tổng số năng suất các cá nhân riêng lẻ mỗi người làm tất cả các công đoạn từ A-Z, từ đó phát sinh ra nhu cầu chuyên môn hóa, sáng tạo, cải thiện kỹ thuật v.v. Với tiến bộ kỹ thuật công nghệ, cơ khí hóa, số lượng sản phẩm mỗi công nhân làm ra lại tăng lên đáng kể, khoảng 8.000 ghim mỗi ngày (1832), lên đến 800.000 ghim mỗi ngày (150 năm sau) chứ không còn 20 ghim như ban đầu. (Ha-Joon Chang, Economics)

Ngày nay, tư duy tuyến tính của những thế kỷ trước, tuy từng mang tính chất cách mạng, đưa các quốc gia nông nghiệp lên công nghiệp hóa, là không còn đủ, đúng như ông nói. Các nhà chính trị, và doanh nhân, cần phải học cách tư duy mới, nếu không muốn bị lạc hậu. Thung lũng Silicon là nơi đầu tiên đã ấp trứng đại bàng. Những công ty nhỏ, có cái thành lập từ các ga-ra xe, đã nhanh chóng có sức tăng trưởng hàm mũ. Mà muốn có tăng trưởng hàm mũ cần có công nghệ bứt phá (disruptive), phần lớn xuất phát từ các đại học nghiên cứu hoặc từ những doanh nhân trẻ giàu óc sáng tạo.

Nhưng điều quan trọng trên hết là phải có niềm khao khát gì trong trái tim, phải không ạ? Lấy thí dụ Triều Tiên (Choson) chẳng hạn. Trước sự đình trệ của xã hội phong kiến nho giáo, họ đã từng có phong trào Silhak (실학) vào thế kỷ XVII, cái học thực tiễn (practical learning), để thoát ra khỏi sự độc diễn của cái học nho giáo của giai cấp thống trị yangban (양반) vô sinh để trở nên hữu ích cho xã hội. Silhak bao gồm nhiều cải cách xã hội, chính trị, kinh tế, thương mại và nông nghiệp. Phong trào này là khát vọng đổi mới của người Triều Tiên muốn đổi mới đất nước của họ, tuy vẫn phải tiếp tục sống dưới trướng của sự thống trị của giai cấp yangban độc quyền của các ‘học giả-quan lại’ quá mạnh trong xã hội nên không thể phát triển sức mạnh của mình. Rồi quyền lực của giới yangban dần dần cũng suy tàn theo sự suy tàn của xã hội triều đại Choson phong kiến dài nhất trong lịch sử Triều Tiên vì đơn giản đã mất hết sức sống. Nhưng phải đợi đến khi Park Chung Hee lên nắm quyền năm 1961, khát vọng Silhak bị dồn nén hàng thế kỷ mới có dịp bung ra phát triển tự do và cuồng nhiệt, nhanh chóng kiến tạo một nửa đất nước gọi là Hàn Quốc (Hanguk 한국) từ đống tro tàn thành một quốc gia mới phồn vinh, công nghiệp hóa được thế giới hết sức ngưỡng mộ — tiến trình đó diễn ra chỉ trong một thế hệ thôi. Tinh thần Silhak có nét giống với tư tưởng cái học hữu ích (useful learning) của Francis Bacon ở Anh thế kỷ XVI, mà tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn lên cuộc cách mạng công nghiệp Anh sau đó, và giống thực học của Fukuzawa Yukichi trong thời Minh Trị.

— Smith: Thôi, cảm ơn ông Nguyên đã đến thăm và có cuộc trò chuyện rất thú vị với tôi. Một lần nữa, tôi xin chúc mừng các bạn về sự thành công nhé, và cảm ơn những tình cảm hết sức cao quý mà các bạn đã dành cho tôi. Chúc đất nước Việt Nam thành công trong cuộc đổi mới tăng cường. Không có gì là không thể!

– Nguyên: Cảm ơn ông! Cảm ơn sự truyền cảm hứng và động lực từ ông. Chúng tôi sẽ cố gắng, và xin tạm biệt!

Nguyễn Xuân Xanh

Greek Temple: Over 16,026 Royalty-Free Licensable Stock Illustrations & Drawings | Shutterstock