GIÁO DỤC KHAI PHÓNG, KITÔ GIÁO VÀ DI SẢN VĂN HÓA HY LẠP
Nguyễn Xuân Xanh
Giáo dục khai phóng (liberal education) như chúng ta từng biết của các Đại học Trung cổ đã có từ thời Hy Lạp, được Aristotle và Plato sử dụng đầu tiên, sau đó được truyền lại cho La Mã. Saint Augustine (354-430) kế thừa nó, viết lại các môn khai phóng, chỉ thiếu thiên văn học. Học giả Cassiodorus (480-575) của La Mã đã tu chỉnh lại thành bảy môn và có lẽ là người đầu tiên sử dụng danh từ “bảy môn (nghệ thuật) khai phóng” (septem artes liberales). Vào thế kỷ thứ 4, các môn này đã phát triển đầy đủ ở Đế chế La Mã. Cassiodorus rất ủng hộ quan điểm của Augustine, rằng các môn học này cần thiết cho sự chuẩn bị học tập các văn bản thiêng liêng, cho Kinh thánh và thần học. Uy tín lấn át của Augustine, cũng như của Cassiodorus, bảo đảm giáo dục khai phóng vốn của những người ngoại giáo (pagan) được chấp nhận rộng rãi trong vương quốc Kitô giáo của mình. Những cha nhà thờ, cũng như những nhà tư tưởng, sau khi chiến thắng, không tỏ ra thù địch với giáo dục ngoại giáo đã có trước như một di sản. (Xem thêm chi tiết trong sách ĐẠI HỌC)
Từ liberal, như được áp dụng vào arts, đã được Plato và Aristote sử dụng. Nó ám chỉ những môn học thích hợp cho những người tự do và quý tộc khác hơn là nô lệ hay người hầu, để bảo đảm không bị tầm thường hóa hay sử dụng vào những mục tiêu kiếm lợi. Để là một người tự do, điều đó có nghĩa anh ta phải là con người biết thưởng thức nhàn tản (leisure), một con người không chịu áp lực hay thúc bách phải làm những việc “thấp kém”. Nhưng khi có giờ rỗi, đối với anh ta, đồng nghĩa với chăm lo việc nước, theo đuổi những mục tiêu chính trị, nghĩa là theo đuổi tri thức và minh triết. Từ nhàn tản của tiếng Hy lạp, scholē, chính là gốc của từ “school” La tinh, cũng như trong ngôn ngữ thường tiếng Anh, nghĩa là trường học. Nhàn tản do đó đồng nghĩa với sự giáo dục, schooling, cơ hội để học, chứ không phải ngồi không. Xin trích Aristote (Politics, VIII, 3): “Bản chất tự nó, như người ta thường nói, đòi hỏi chúng ta phải có năng lực không chỉ lao động tốt, mà còn sử dụng nhàn tản tốt; bởi vì, như tôi phải nhắc đi nhắc lại, rằng nguyên lý thứ nhất của tất cả hoạt động [nghĩa là, mục tiêu mà vì nó mỗi hành động được thực hiện] là nhàn rỗi … và vì thế câu hỏi cần phải hỏi một cách nghiêm túc, cái gì chúng ta nên làm với sự nhàn tản? Rõ ràng chúng ta không được tiêu khiển, bởi vì sự tiêu khiển sẽ là sự chấm hết của cuộc đời.” Aristote viết tiếp: “Do đó rõ ràng rằng có những ngành học và giáo dục chúng ta phải học với cái nhìn vui hưởng nhàn rỗi, và những thứ này này được đánh giá cao vì lợi ích của chính chúng.” Để đạt tới tâm thức như thế, con người phải có khao khát đạt tới tri thức, và khi theo đuổi mục đích này con người sẽ trở thành người tự do.
Nhưng ai là người đầu tiên đã thiết lập bốn môn quadrivium? Người đó được cho là Archytas, một nhà toán học, bạn của Plato, người mà sau này một miệng núi lửa trên mặt trăng được đặt tên ông. Về sau, Zeno, cha đẻ của chủ nghĩa khắc kỷ, cũng một nhà toán học, thiết lập thêm trivium, ba môn nữa gồm văn phạm, hùng biện và biện chứng hay logic, làm thành 7 môn học khai phóng.
Các đại học châu Âu dưới mái nhà Kitô giáo hoàn toàn tiếp thu di sản khoa học của Hy Lạp cổ đại ngoại đạo. Điều đó không khó hiểu, khi mà Kitô giáo sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa Hy lạp-hóa. Quá trình Kitô giáo-hóa thế giới nói-tiếng-Hy-Lạp gắn liền với quá trình Hy Lạp-hóa Kitô giáo. Có nhiều chứng cứ của ảnh hưởng Hy lạp-hóa trong văn hóa Kitô giáo. Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp, không phải bằng tiếng Hebrew, hay Aramaic là tiếng chúa Jesu nói lúc bấy giờ. Cựu Ước cũng được dịch sang tiếng Hy Lạp từ lâu. Điều đó là tất yếu nếu Kitô giáo muốn phát triển trên vương quốc rộng lớn Hy lạp-hóa. Người Do Thái cũng chịu cùng ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp-hóa. Cộng đồng Jerusalem của các tông đồ được gọi là những Hellenist. Họ không còn nói tiếng Aramaic, mà nói tiếng Hy Lạp. Những người cha nhà thờ chịu ảnh hưởng thâm sâu nhất của văn hóa và ngôn ngữ Hy Lạp, và muốn dựa vào đó để xây dựng một nền văn hóa mới Kitô giáo riêng để thay thế cho văn minh Hy Lạp hóa: Paideia Hy lạp sẽ phải trở thành Paideia Kitô giáo. Đó là hiện tượng thẩm thấu, hay tiếp thu văn hóa, cultural osmosis. Kitô giáo đặt điều kiện, để trở thành một tín đồ phải trước tiên là một con người có một căn bản văn hóa, mà trong môi trường đó chỉ có văn hóa Hy Lạp mới cung cấp được.
Các nhà lãnh đạo Kitô giáo không thể chối từ văn minh Hy Lạp nếu không muốn mình trở thành lạc hậu. Lạc hậu với chính mình, với người Hy Lạp cổ đại, người La Mã, và cả với thế giới Hồi giáo đang phát triển cao về học thuật và nắm giữ một phần quan trọng di sản học thuật của Hy Lạp. Họ phải cạnh tranh bằng cách tiếp thu nó và làm tốt hơn. Văn hóa là động lực phát triển. La Mã cũng đã không chối từ văn minh Hy Lạp, vẫn phải tiếp thu và học hỏi. Xóa bỏ văn minh phát triển cao hơn mình là có nguy cơ thành “barbarian” như một vị hoàng đế La Mã đã nói. Ngược lại chấp nhận văn minh Hy Lạp là một sự khôn ngoan.
Cho nên sự tiếp thu các tác phẩm khoa học Hy Lạp thời Trung cổ có thể được hiểu là sự tiếp nối đương nhiên của ảnh hưởng sâu đậm lâu đời đã có trước đây. Nhưng chúng ta vẫn còn đủ ngạc nhiên về một điều, đó là ánh sáng khoa học, sau nghìn năm thời đen tối vẫn không tắt lịm, mà lại bừng sáng lên. Điều này cho thấy, khoa học được tạo ra bởi người Hy Lạp có một sức thu hút và chinh phục tinh thần con người một cách kỳ lạ. Nó như một từ trường mà người sống trong đó phải tự hướng mình theo. Phải chăng, như John Locke nói, con người vốn sinh ra là những sinh vật có lý tính? Không có lý tính, con người sẽ không khác muôn loài.
Nguyễn Xuân Xanh
Sắp tới: Quadrivium, bốn môn khoa học của giáo dục khai phóng Trung cổ, không chỉ có tính khai sáng, mang lại tự do, mà xa hơn nữa còn là đường dẫn xuyên thế kỷ để cuối cùng đi đến sự thiết lập ngành Vật lý hiện đại của thế kỷ XVII – một cách đầy kịch tính.