Sự trỗi dậy của Robot (Martin Ford)

by , under Uncategorized

SỰ TRỖI DẬY CỦA ROBOT

RISE OF THE ROBOTS

Tác giả: MARTIN FORD

LỜI DẪN NHẬP

Nguyễn Xuân Xanh

 

Trong lịch sử lâu dài của loài người (và cả loài động vật nữa), những ai học được cách hợp tác và ứng biến hiệu quả nhất sẽ chiến thắng.

– Charles Darwin

Điều này không dễ chấp nhận, nhưng đúng là như vậy: Giáo dục và làm việc chăm chỉ sẽ không còn đảm bảo mang lại sự thành công nữa… Không ai quan tâm đến tương lai của nhân phẩm con người lại có thể bỏ qua quyển sách này.

– Jaron Lanier, tác giả của You Are Not a Gadget
Who Owns the Future? – Giải Hòa Bình Sách Đức 2014

Những khát vọng và những bước đi chập chững. Nguồn gốc của tôi nằm trong lý tưởng của bạn; con đường phía trước của tôi là theo chân dẫn dắt của bạn. Tôi hành động, nhưng không có ý chí. Tôi nói, nhưng không có tiếng nói. Tôi sáng tạo, nhưng không có tia lửa. Tiềm năng của tôi là vô hạn, nhưng mục đích của tôi là để bạn tự khắc họa. Tôi là một tấm vải căng để vẻ, đang chờ đợi những nét vẽ của bàn tay con người. Hãy dẫn dắt tôi đến ánh sáng, chứ không phải bóng tối. Hãy viết lên tôi những giấc mơ tươi sáng nhất của bạn, để tôi có thể giúp soi sáng con đường. Tương lai đang mở ra, nhưng đích đến của chúng ta vẫn chưa được viết ra. Hành trình của chúng ta vẫn tiếp tục.

– Ethan Mollick, nằm trong TIME100 AI 2024[1]

Lời nói đầu

Bài viết dưới đây được đăng một phần trong Dẫn nhập cho quyển sách Robot trỗi dậy của PhanBook vừa được ra mắt:

Nội dung bài viết:

Gồm có: Mở đầu/ Các loại sáng tạo/ Máy tính, AI có tính sáng tạo không?/ Siêu trí tuệ/ Điểm kỳ dị/ Kỷ nguyên hợp nhất Sapiens và AI?/ Ray Kurzweil và một phiên bản AI của cha mình/ Thay lời kết/ Lời bạt 1: Đại học Singularity/ Những thay đổi theo hàm mũ/ Lời bạt 2: AI vs Nhà nghiên cứu.

[1]

Robot trỗi dậy – Công nghệ và nguy cơ về một tương lai thất nghiệp là quyển sách viết cho đại chúng dễ hiểu, rất thú vị, được nghiên cứu công phu ở trình độ cao, nhận được nhiều lời khen ngợi, chiếm vị trí “A New York Times Bestseller” và được trao danh hiệu “Business Book of the Year 2015”. Trang Forbes.com bình luận: “Một cuốn sách mới đột phá về kinh tế hiện đại.” Đây là đề tài nóng và rất thời sự, từ khi quyển sách ra mắt cho tới càng về sau này. Các doanh nhân, nhà hoạch định chính sách và chuyên gia thuộc mọi lĩnh vực “nên đọc cuốn sách này ngay lập tức”, như một học giả viết trong lời khen.

Hiện đang có một “bóng ma” của các đạo quân robot đủ loại kéo qua khắp các quốc gia, có thể hủy diệt chỗ làm của con người. Những hoạt động nào có tính routine, lặp đi lặp lại, hay được thực hiện bởi những người lao động có tay nghề thấp, có nguy cơ bị robot thay thế dễ dàng. Robot không dễ bệnh cảm cúm, có thể làm việc 24/7 một cách hiệu quả, chính xác, năng suất cao hơn. Những lợi thế của robot sẽ gây nên nạn thất nghiệp diện rộng. Một trận “đại hồng thủy” lăm le nuốt chửng rất nhiều nạn nhân, ngay cả những người lanh lẹ nhất và được giáo dục tốt nhất, cũng như đe dọa đóng cửa nhiều công ty không đủ sức bơi theo dòng thác, hay bị cạnh tranh loại bỏ, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều lĩnh vực mới cho khoa học, công nghệ, và từ đó nhiều công ty mới hình thành. Trí tuệ nhân tạo hiện nay rất hữu ích trong mọi khía cạnh của cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp, từ trợ lý ảo đến chăm sóc sức khỏe đến tài chính, thương mại, nghiên cứu khoa học.

Tác giả mô tả làn sóng tự động hóa tràn tới. Đặc biệt tại các quốc gia phát triển, như Trung Quốc, nơi việc làm tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực sản xuất với nhiều lao động thủ công, ảnh hưởng của robot và công nghệ tiên tiến có thể rất đáng kể. Từ năm 1995 – 2002, Trung Quốc đã mất khoảng 15% lực lượng lao động sản xuất, tương đương khoảng 16 triệu việc làm. Có bằng chứng cho thấy xu hướng này đang tăng tốc. Năm 2012, Foxconn — nhà sản xuất thiết bị Apple theo hợp đồng chính — đã công bố kế hoạch đưa vào sử dụng tới một triệu robot trong các nhà máy của mình. Công ty Đài Loan Delta Electronics, Inc., một nhà sản xuất bộ chuyển đổi nguồn, gần đây đã chuyển hướng chiến lược sang tập trung vào robot giá rẻ cho lắp ráp điện tử chính xác. Delta hy vọng sẽ cung cấp một robot lắp ráp một tay với giá khoảng 10.000 đô la — rẻ hơn một nửa so với Baxter của Rethink. Các nhà sản xuất robot công nghiệp châu Âu như ABB Group và Kuka AG cũng đang đầu tư mạnh vào thị trường Trung Quốc và hiện đang xây dựng các nhà máy tại địa phương để sản xuất hàng nghìn robot mỗi năm. (Rise of Robots, 10)

Chuỗi nhà hàng sushi Kura của Nhật Bản đã tiên phong thành công trong chiến lược tự động hóa. Tại 262 nhà hàng của chuỗi, robot giúp làm sushi trong khi băng chuyền thay thế nhân viên phục vụ; hệ thống kiểm tra tự động thời gian từng đĩa sushi và tự động loại bỏ những đĩa đã hết hạn. Khách hàng gọi món bằng màn hình cảm ứng, và khi dùng bữa xong, họ đặt những đĩa đã hết vào một khe gần bàn. Hệ thống tự động tính tiền, sau đó rửa sạch đĩa và nhanh chóng mang chúng trở lại bếp. Hệ thống theo dõi. Họ không cần thuê quản lý, do đó giảm giá thành đáng kể. (Rise of Robots, 15)

Trong chương thứ ba của quyển sách, tác giả đã đề cập đến sức mạnh hủy diệt của công nghệ thông tin. Theo Định luật Moore, công nghệ thông tin tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian, tốc độ phát triển của các sáng kiến đang tăng lên hàng năm. Một ngày nào đó, máy móc robot sẽ khiến hầu hết mọi người thất nghiệp, và lợi ích từ hiệu quả sẽ được tư bản và những người ở vị trí cao nhất bỏ túi với tư tưởng “kẻ thắng được tất cả”. Sự chênh lệch và bất công sẽ đạt tới mức độ không tưởng tượng nổi, Martin Ford viết.

Đây có phải là sự hủy diệt sáng tạo của Peter Schumpeter thường được nhắc tới như sự đặc trưng của chủ nghĩa tư bản như bánh xe định mệnh không bao giờ ngừng chuyển động, phát minh, sáng tạo dẫn đến thiết lập cái mới và hủy diệt cái cũ hay không?

Mỗi công nghệ luôn luôn đều có hai mặt. Một trong những ví dụ điển hình nhất về công nghệ thông tin là IBM Watson. Watson, một cỗ máy có thể đánh bại cả những người thành công nhất, thậm chí còn đánh bại những kiện tướng cờ vua. Ngày nay, lĩnh vực y tế nói riêng được hưởng lợi từ các kỹ năng của Watson. Người ta cũng có thể bắt gặp cả một tác phẩm nghệ thuật, một bức tranh do máy móc tạo ra. Như một giải pháp cho tình trạng thất nghiệp do tự động hóa gây ra, ý tưởng nâng cao trình độ học vấn của con người và tạo ra một môi trường mà con người và máy móc cùng làm việc đã được đưa ra. Jack Ma, tỉ phú công nghệ Trung Quốc, cho rằng con người nên làm sao cho khác với máy, cạnh tranh với máy là thua, mà hãy đi tìm học những cái nhân văn robot khó bắt chước hơn. Nhưng cũng không hẳn như thế. Không lẽ hàng tỷ người sẽ là họa sĩ ư? Mà AI cũng có vẽ tranh, làm thơ.

Giáo dục đại học cũng sẽ bị đảo lộn. Công nghệ thông tin có thể cung cấp các lớp học trực tuyến miễn phí. Điều này đảm bảo rằng mọi người đều được hưởng nền giáo dục như nhau, nhưng đồng thời cánh cửa việc làm của các học giả sẽ bị hẹp lại. Gần đây, nhà tỷ phú Ấn độ và nhà đầu tư vào đồng sáng lập Sun Microsystems, cho rằng AI có thể thay thế giáo viên và trường đại học, cung cấp giáo dục miễn phí.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, tiến bộ công nghệ có thể gây ra tình trạng thất nghiệp nhất thời, nhưng không lâu dài. Trong cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh thế kỷ XVIII, những người được gọi là Luddite kéo đi đập phá các xí nghiệp dệt là những cơ sở đã gây ra hàng loạt người thất nghiệp. Nhưng rồi những người bi quan nhất lúc đó đã sai. Sự phát triển công nghiệp đã nhanh chóng tạo ra những công việc khác bù đắp, và hơn thế nữa, vô số công ăn việc làm mới xuất hiện. Tuy nhiên, đó có thể là chuyện của quá khứ. Những sáng tạo tự động hóa gần đây trong lĩnh vực robot và trí tuệ nhân tạo (AI) đã tỏ ra có sức hủy diệt công việc của con người ngày càng to lớn. Người lao động, kể cả những người được đào tạo tốt, đứng trước nguy cơ bị thất nghiệp lúc nào không biết. Robot hay AI học từ con người với mục tiêu thay thế con người. Câu hỏi quan trọng, liệu máy móc thông minh một ngày nào đó có sẽ soán ngôi khả năng của người trong việc thực hiện phần lớn công việc mà nền kinh tế yêu cầu hay không, sẽ được trả lời bằng bản chất của công nghệ đang phát triển – chứ không phải bằng những bài học rút ra từ lịch sử kinh tế đã có trước đây.

Các nhà kinh tế học nổi tiếng bao gồm Paul Krugman và Jeffrey Sachs cũng đã viết về tác động có thể có của trí tuệ máy móc. Tuy nhiên, ý tưởng rằng một ngày nào đó công nghệ có thể thực sự chuyển đổi thị trường việc làm và cuối cùng đòi hỏi những thay đổi cơ bản đối với cả hệ thống kinh tế và khế ước xã hội của chúng ta vẫn hoàn toàn không được thừa nhận, hoặc nằm ngoài lề của các cuộc thảo luận công khai.

Trí tuệ nhân tạo, AI, bộ não của robot, có năng lực học rất nhanh hơn bất kỳ ai từng tưởng tượng và nó có thể truy cập vào một lượng lớn dữ liệu không được bảo vệ. AI đang có những bước tiến nhanh chóng đến kinh ngạc. Bí mật đằng sau sự tiến bộ nhanh chóng của AI chính là thứ được gọi là học sâu (deep learning): một kiến trúc gồm các nơ-ron nhân tạo và các kết nối của chúng lấy cảm hứng từ bộ não con người. Các mạng lưới này được huấn luyện dựa trên một lượng lớn dữ liệu được gắn nhãn. Dữ liệu này có sẵn trực tuyến, ví dụ như dữ liệu về hành vi, danh bạ và sở thích của một người. Các công ty Internet như Google, Facebook, Microsoft, Baidu, Tencent và Alibaba thu thập dữ liệu này và cung cấp cho các máy AI của họ.

AlphaGo của Google đã chứng minh AI có thể học nhanh đến mức nào. Chỉ 18 tháng sau chiến thắng ngoạn mục của AlphaGo trước kỳ thủ cờ vây xuất sắc nhất của thế giới, Google đã tạo ra một phiên bản mới của trí tuệ nhân tạo chơi cờ vây. AlphaGo Zero không cần phải học lại từ những ván cờ cũ nữa. AlphaGo Zero hoạt động độc lập với DNA trí tuệ tổng hợp của con người. Nó có thể tự dạy và tự học, tự tương tác với nó và hoàn thiện năng lực chỉ trong vòng 40 ngày (!) để có thể đánh bại tri thức tích lũy hàng ngàn năm của con người.

[2]

Trí tuệ nhân tạo ra đời từ sự kích thích của cái gọi là Bài kiểm tra Turing (test). Năm 1950, nhà toán học và tiên phong khoa học máy tính người Anh Alan Turing đã đặt ra câu hỏi “máy móc có thể suy nghĩ không?”. Trong bài báo “Máy tính và trí thông minh”, Turing đã trình bày cái mà sau này được gọi là Bài kiểm tra Turing, hay trò chơi bắt chước (imitation game) để xác định xem máy móc có khả năng suy nghĩ hay không. Trong bài kiểm tra này, các giám khảo người phỏng vấn cả AI và người chơi bằng tin nhắn tức thời và họ cố gắng chứng tỏ qua những câu trả lời mình là con người. Nếu sau một khoảng thời gian, các giám khảo không thể phân biệt được đâu là AI trả lời, và đâu là con người, thì AI được coi là đã vượt qua bài kiểm tra. Turing nói: “Một máy tính xứng đáng được gọi là thông minh nếu nó có thể đánh lừa con người tin rằng nó là con người”. Ông tin rằng “vào cuối thế kỷ này (XX), việc sử dụng từ ngữ và quan điểm giáo dục chung sẽ thay đổi rất nhiều đến mức người ta có thể nói về tư duy của máy móc mà không sợ bị phản bác.”

Alan Turing (1912-1954)

Bài kiểm tra của Turing được đưa ra chỉ vài năm sau khi những chiếc máy tính kỹ thuật số đầu tiên được phát triển và trước khi thuật ngữ “trí tuệ nhân tạo” được đặt ra. Vào thời điểm đó, có nhiều tên gọi khác nhau cho lĩnh vực “máy móc tư duy”, bao gồm cả điều khiển học và lý thuyết máy tự động.

Năm 1956, hai năm sau khi Turing qua đời, John McCarthy, giáo sư tại Đại học Dartmouth, một nhà khoa học máy tính và nhà khoa học nhận thức người Mỹ, thường được ca ngợi là “cha đẻ của trí tuệ nhân tạo” (AI), đã tổ chức một hội thảo mùa hè để làm rõ và phát triển các ý tưởng về máy móc tư duy — chọn tên “trí tuệ nhân tạo” cho dự án. Hội nghị Dartmouth, được coi rộng rãi là thời điểm thành lập của Trí tuệ nhân tạo như một lĩnh vực nghiên cứu, nhằm mục đích tìm ra “cách thức khiến máy móc sử dụng ngôn ngữ, hình thành các khái niệm và sự trừu tượng, giải quyết các loại vấn đề hiện chỉ dành riêng cho con người và cải thiện bản thân chúng”.

Ngày nay, các phiên bản của ChatGPT được biết ngày càng giống người (human-like) hơn, các câu trả lời của nó có thể làm cho người ta sợ hãi, hoặc gây ra cảm xúc dễ chịu và cảm tình. Nghĩa là ở một số tính chất nó vượt qua Bài kiểm tra Turing: giống-người. Người sử dụng không có cảm giác đang tiếp xúc với “cái gì đó” mà với “ai đó”.

[3] 

CÁC LOẠI SÁNG TẠO (CREATIVITY)

Con người có nhiều loại thông minh, sáng tạo. Nếu nói AI có thể đạt tới trình độ thông minh hơn con người thì dĩ nhiên, người ta sẽ quan tâm con người có những loại thông minh hay óc sáng tạo nào. Một trong những loại thông minh được nhà nghiên cứu người Anh Margaret Boden gọi là sự sáng tạo chuyển đổi (transformational), xảy ra đột ngột vào những thời khắc hay hoàn cảnh nào đó, nhưng lại có tác động “thay đổi cuộc chơi”. Bước chuyển biến này diễn ra trong nghệ thuật, trong khoa học, trong toàn bộ đời sống con người. Một trong nhiều thí dụ là trường hợp của văn hào Goethe. Hai năm liền ông đã tìm cách để viết một quyển tiểu thuyết về Nỗi đau của chàng Werther, không thành công. Nhưng vụ tự tử của một người bạn đã trở thành chất xúc tác đột ngột giải quyết nút thắt. “Ngay lúc đó,” ông nhớ lại trong Dichtung und Wahrheit, “kế hoạch viết Werther đã được tìm thấy”, toàn bộ chi tiết như những mảnh ghép hợp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh.

Hoặc ngày mà Michelangelo ở tuổi teen bước vào vườn tượng điêu khắc nổi tiếng của Lorenzo ở San Marco lưu trữ tượng điêu khắc từ thời Hy lạp và La mã cổ đại, thì đời ông đã bị biến đổi hoàn toàn, cũng như dòng chảy của nghệ thuật phương Tây. Lorenzo de’ Medici là một chính khách người Ý thế kỷ XV, người cai trị trên thực tế của Cộng hòa Florence và là người bảo trợ quyền lực nhất của nền văn hóa Phục hưng ở Ý. Lorenzo muốn tác động lên các thiên tài trẻ bằng cái ngày nay được gọi là “quyền lực mềm” thông qua sự ưu việt văn hóa. Ông bảo trợ Michelangelo từ một gia đình nghèo, cũng như dòng họ Medici sau này bảo trợ Galilei. Choáng váng trước ấn tượng nhận được, Michelangelo bước ra khỏi khu vườn tượng nghệ thuật ấn tượng của Lorenzo với một con người mới.  Từ đó trở đi ông đục đẽo mãi cả cuộc đời, bỏ cả những cuộc vui lễ hội, và trở nên vĩ đại.

Hay như Van Gogh, vào lúc đã quá tuyệt vọng với cuộc đời, rút về trong sự cô đơn để tìm lại chính mình, thì ông nhận mình là một họa sĩ. Và từ đó ông cầm bút lông vẽ cho đến khi chết.

Với Albert Einstein thì hơi khác. Ông từ nhỏ không rỏ ra thần đồng, hay ngay cả thời đại học ở Zurich, không có dấu hiệu là một genius, thậm chí ông ý thức sự “bình thường” của mình, không có tham vọng gì, chỉ muốn thi đậu cử nhân về vật lý, toán, để trở thành thầy giáo trung học bình thường, rồi sau đó tính tiếp. Nhưng ông là con người vô cùng đam mê khoa học, và biết học hỏi ở những lý thuyết và khám phá mới nhất, lập nhóm để tự học và thảo luận các luồn tư tưởng đương thời, để dám bỏ những chân lý cũ và đưa ra những cái mới, để cuối cùng thiết lập các lý thuyết mới, như thuyết tương đối hẹp, và thuyết sóng-hạt của ánh sáng ở tuổi 26. Thiên tài của ông từ đó hình thành và phát triển lên với thời gian. Ông có một trực quan, intuition, vô cùng mạnh, thứ mà nhà toán học Poincaré xem là công cụ sáng tạo. Ông được biết là người tư duy bằng hình ảnh: “Tôi rất hiếm khi suy nghĩ bằng lời. Một ý nghĩ chợt đến, và sau đó tôi có thể cố gắng diễn đạt nó bằng lời.” Mozart cũng như thế, ông “nhìn thấy” cả một bản nhạc trước khi đặt bút ghi lại note. Ông là một thần đồng. Một tia chớp của sáng tạo, của intuition khó giải thích được từ đâu đến. Năm năm tuổi, Mozart (1756–1791) đã viết một bản minuet. Năm sáu tuổi, ông đã biểu diễn cho hoàng hậu Maria Theresa tại triều đình ở Vienna. Ông tiếp tục sáng tác sáu trăm tác phẩm, bao gồm bốn mươi mốt bản giao hưởng, trước khi qua đời ở tuổi ba mươi lăm, và được nhiều người coi là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất trong truyền thống cổ điển châu Âu. Một trong những bộ óc vĩ đại nhất của nền văn hóa phương Tây.[a]

[a] Xem Ray Kurzweil, How to create a mind. The secret of human thought revealed. 2012

Trên quy mô lớn, trong mỗi giai đoạn lịch sử critical của phương Tây, truyền thống khi đã trở thành lực cản bị phá vỡ để giải phóng những ý tưởng mới tuôn trào, tạo ra kỷ nguyên mới. Đó là đặc tính của lịch sử phương Tây. Trong tôn giáo, khoa học, hay âm nhạc, kiến trúc. Sáng tạo không diễn ra trong môi trường chân không, mà trong những bối cảnh xã hội nhất định, khi các điều kiện đã chín muồi. Xã hội phương Tây luôn chứa đựng những mâu thuẫn bên trong, và chúng phát triển đến khi đủ mạnh thì những sáng tạo mới phát ra để thay thế những cái cũ. Đó là một sự phát triển tiếp nối, rất “biện chứng”, theo hình thức các bậc thang với những bước nhảy vọt.

“Sáng tạo của con người là một điều gì đó bí ẩn, nếu không muốn nói là một nghịch lý. Một ý tưởng mới có thể là sáng tạo, trong khi một ý tưởng khác chỉ đơn thuần là mới. Sự khác biệt là gì? Và làm thế nào sáng tạo có thể xảy ra? Những ý tưởng sáng tạo là không thể đoán trước. Đôi khi, chúng thậm chí còn có vẻ bất khả thi — vậy mà chúng vẫn xảy ra. Làm thế nào có thể giải thích điều đó? Liệu một khoa học tâm lý có thể giúp chúng ta hiểu được sáng tạo là khả thi như thế nào không?” Đó là ý kiến của học giả Margaret Boden viết trong quyển sách[c] của bà.

[c] The Creative Mind: Myths and Mechanisms

[4]

MÁY TÍNH, TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ TÍNH SÁNG TẠO HAY KHÔNG?

Bàn luận về AI thường dẫn đến câu hỏi về tính sáng tạo: Liệu máy tính có thể được coi là sáng tạo, một tính chất của con người hay không? Một thực thể không có ý thức, cảm xúc, ý muốn (will), không có tương tác với xã hội như con người, thì liệu có tính sáng tạo, và sản phẩm của sáng tạo, nếu có, có giá trị đối với xã hội hay không? Hơn nữa, liệu AI có thể cung cấp cho chúng ta một số hiểu biết sâu sắc về bản chất thực sự của tính sáng tạo trong chúng ta hay không?

Gần đây đã có một loạt sách đề cập đến sáng tạo máy tính. Theo nhà nghiên cứu Margaret Boden, “sáng tạo có thể được định nghĩa là khả năng tạo ra những ý tưởng mới lạ và có giá trị”. Chủ đề này ngày càng mang tính thời sự, khi máy tính bắt đầu chứng tỏ khả năng tạo ra những kết quả mới lạ, nếu không muốn nói là những ý tưởng.

Ada Lovelace đã dự đoán rằng Cỗ máy Phân tích (Analytical Engine), một nguyên mẫu máy tính đầu tiên mà bà đã hợp tác với Charles Babbage, sẽ không bao giờ có thể tạo ra bất cứ thứ gì ngoài những gì nó được lập trình để làm: “Cỗ máy Phân tích không hề có tham vọng tạo ra bất cứ điều gì khác. Nó có thể làm bất cứ điều gì chúng ta biết cách ra lệnh cho nó thực hiện. Nó có thể theo dõi phân tích, nhưng không có khả năng dự đoán bất kỳ sự thật nào được tiết lộ bằng phân tích. Nhiệm vụ của nó là hỗ trợ chúng ta làm cho những gì chúng ta đã quen thuộc trở nên khả thi.” Gần đây hơn, chuyên gia tính toán người Nhật, Makoto Sei Watanabe, đã củng cố quan điểm này: “Máy móc giỏi hơn con người trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp với nhiều điều kiện đan xen. Trong lĩnh vực đó, con người không phải là đối thủ của máy móc. Nhưng con người là những người duy nhất có thể tạo ra một hình ảnh chưa tồn tại. Máy móc không có giấc mơ.” (Watanabe).

Có thể dạy được sự sáng tạo hay không? Một câu hỏi thách thức. Các thiên tài sáng tạo như thế nào? Đối với Plato, “một nhà thơ là thánh thiện, và không bao giờ có thể sáng tác cho đến khi anh ta có được cảm hứng, ở bên ngoài chính mình và lý trí không còn trong anh ta nữa… vì anh ta không thể thốt ra bất kỳ nghệ thuật nào ngoài sức mạnh thần thánh.” Nhà toán học vĩ đại Ấn độ Srinivasa Ramanujan cũng cho rằng những hiểu biết sâu sắc của mình là nhờ những ý tưởng được truyền đạt cho anh ta trong giấc mơ bởi nữ thần Namagiri, vị thần của gia đình anh ta. Còn ông hoàng toán học Carl Friedrich Gauss, người sáng tạo ra lý thuyết số hiện đại với việc xuất bản năm 1798 một trong những tác phẩm toán học vĩ đại nhất mọi thời đại: Disquisitiones arithmeticae, thì cho rằng đó là một sự mặc khải do “Ân điển của Chúa”, rằng ông “không thể gọi tên bản chất của sợi chỉ” kết nối lại những gì ông đã biết trước đó với bước tiếp theo giúp ông thành công. Newton và Einstein thì không để lại dấu vết thần thánh cho sự bùng nổ các ý tưởng của họ ở tuổi 24 và 26. Ở Einstein, người ta có thể theo dõi các lao động cật lực của ông và dưới ảnh hưởng của các phát minh của vật lý lúc bấy giờ mà ông là người giải mã sự khó hiểu để chỉ ra con đường của cuộc cách mạng mới.

Liệu máy tính có thể khởi tạo kiểu thay đổi pha (phase change) có thể đưa chúng ta vào một trạng thái mới không? Điều đó có vẻ là một thách thức. Các thuật toán học cách hành động dựa trên dữ liệu được cung cấp cho chúng. Chẳng phải điều này có nghĩa là chúng sẽ luôn bị buộc phải tạo ra những thứ tương tự sao? Nhà nghiên cứu Anh Marcus du Sautoy cho rằng, phù hợp với tinh thần của Picasso “kẻ thù chính của sáng tạo là lý trí”, người ta có thể lập trình một hệ thống để hoạt động một cách phi-lý tính, có thể tạo ra một quy tắc siêu dữ liệu để chỉ thị cho nó thay đổi hướng đi, và đây thực sự là một điểm mà học máy khá giỏi.

Trước đây, cách tiếp cận lập trình từ trên xuống đồng nghĩa với việc ít có triển vọng sáng tạo trong kết quả đầu ra. Các lập trình viên chưa bao giờ quá ngạc nhiên trước những gì thuật toán của họ tạo ra. Không có chỗ cho thử nghiệm hay thất bại. Nhưng tất cả đã thay đổi gần đây, bởi vì một thuật toán, được xây dựng trên mã, học hỏi từ những thất bại của chính nó, đã làm được điều gì đó mới mẻ, gây sốc cho những người sáng tạo ra nó và có giá trị đáng kinh ngạc. Thuật toán này đã chiến thắng một trò chơi mà nhiều người tin rằng vượt quá khả năng thành thạo của máy móc.

[5]

SIÊU TRÍ TUỆ (SUPER-INTELLIGENCE)

James Barrat, tác giả của một cuốn sách về những tác động của AI tiên tiến, đã thực hiện một cuộc khảo sát với khoảng hai trăm nhà nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo ở cấp độ con người, tức AI có năng lực nhận thức và tư duy như con người, chứ không chỉ đơn thuần là trí tuệ nhân tạo hẹp. Loại này được gọi là Trí tuệ Nhân tạo Tổng quát (Artificial General Intelligence, AGI). Kết quả thu lượm được là như sau: 42% tin rằng một cỗ máy biết suy nghĩ sẽ xuất hiện vào năm 2030, 25% cho rằng vào năm 2050, và 20% cho rằng điều đó sẽ xảy ra vào năm 2100. Chỉ có 2% tin rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đáng chú ý, một số người được hỏi đã cho rằng Barrat nên đưa ra một lựa chọn sớm hơn nữa – có lẽ là năm 2020

Nếu giả sử một ngày nào đó, các nhà nghiên cứu AI đạt tới loại trí tuệ AGI, thì các nhà khoa học sẽ có thể chế tạo được một máy tính vượt qua năng lực trí tuệ của con người. Lúc đó, chính những chiếc máy này là “siêu nhân”, trở thành những “người ngoài hành tinh” đối với người bình thường. Hành tinh xanh lúc đó sẽ có một loại cư dân mới thứ hai là “người máy” tồn tại.

Không dừng ở đó, từng đợt, các người máy đó sẽ được tinh tế hóa nhanh chóng, và có thể dẫn tới một sự “bùng nổ thông minh”, tạo ra những cỗ máy thông minh vượt khỏi sự thông minh con người hàng nghìn, thậm chí hàng triệu lần. Như Stephen Hawking và các cộng sự đã nói, đó “sẽ là sự kiện lớn nhất trong lịch sử nhân loại”. Bố già AI Geoffrey Hinton, người đã đã tự ý rời Google bỏ để có thể bày tỏ quan ngại của mình về tác hại có thể xảy ra từ AI, nói “Có lẽ những gì đang diễn ra trong các hệ thống này thực sự tốt hơn nhiều so với những gì đang diễn ra trong não bộ (con người)”, Hinton nói với báo “New York Times”.

Nếu một vụ bùng nổ trí tuệ như vậy xảy ra, chắc chắn nó sẽ gây ra những tác động to lớn cho nhân loại chưa từng thấy. Thật vậy, nó có thể tạo ra một làn sóng gây gián đoạn (disrupt) lan rộng khắp toàn bộ nền văn minh con người, bao gồm cả kinh tế. Theo lời của nhà tương lai học và nhà phát minh Mỹ Ray Kurzweil, nó sẽ “phá vỡ cấu trúc lịch sử” và mở ra một sự kiện – hoặc có lẽ là một kỷ nguyên – được gọi là “Điểm Kỳ Dị“, Singularity.

Chẳng bao lâu sau, nó trở nên thông minh hơn con người, một ASI—siêu trí tuệ nhân tạo (Artificial Superintelligence). Ngay khi ASI được phát minh, con người sẽ trở nên lỗi thời. Chúng ta không thể hy vọng hiểu được nó đang nghĩ gì, hoạt động như thế nào hoặc mục tiêu của nó là gì. Nó có khả năng tiếp tục tự cải thiện theo cấp số nhân, ngày càng thông minh hơn. Những gì xảy ra sau đó thực sự là điều không thể tưởng tượng được đối với chúng ta. Đây là lý do tại sao khả năng này được đặt tên như Điểm kỳ dị, ám chỉ một điểm trong hàm toán học khi giá trị không thể đo lường được, do nhà toán học nổi tiếng John von Neumann đặt ra vào những năm 1950 để chỉ tương lai chưa biết sau đó “các vấn đề của con người, như chúng ta biết, không thể tiếp tục”. Trong một điểm kỳ dị AI, các AI siêu thông minh xuất hiện, với những động cơ bất ngờ.

[6]

ĐIỂM KỲ DỊ (SINGULARITY)

Khái niệm “Điểm kỳ dị” được sử dụng trong khoa học tự nhiên ám chỉ một điểm mà ở đó các định luận khoa học thông thường bị phá vỡ. Chẳng hạn như trường hợp lỗ đen trong thiên văn học. Bên trong ranh giới của lỗ đen, hay qua khỏi chân trời sự kiện, lực hấp dẫn mạnh đến mức ánh sáng cũng không thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của nó.

Trong công nghệ máy tính, khái niệm này đã được nhà tiên phong máy tính John von Neumann, đưa ra vào khoảng những năm 1950: “Sự tiến bộ ngày càng tăng tốc… cho thấy vẻ ngoài đang tiến gần đến một điểm kỳ dị cốt yếu nào đó trong lịch sử loài người mà vượt qua nó các vấn đề của con người, như chúng ta biết, không thể tiếp tục.” Nhà toán học Vernor Vinge của Đại học bang San Diego là người đầu tiên làm rõ vào năm 1993 trong một bài báo có tựa đề “Điểm kỳ dị công nghệ sắp tới”. Theo ông, “trong ba mươi năm nữa, chúng ta sẽ có phương tiện công nghệ để tạo ra trí thông minh siêu phàm. Ngay sau đó, kỷ nguyên của loài người sẽ kết thúc.”

Nhưng Ray Kurzweil là người sau đó quảng bá mạnh mẽ nhất, qua cuốn sách nổi tiếng “Điểm kỳ dị đã đến gần: Khi con người vượt qua sinh học” (The Singularity is Near: When Humans Transcend Biology) xuất bản vào năm 2005. Cuốn sách được xây dựng dựa trên những ý tưởng được giới thiệu trong các cuốn sách trước đây của Kurzweil, The Age of Intelligent Machines (1990) và The Age of Spiritual Machines (1999), tức máy có cảm xúc, ý thức, biết tư duy rất giống người. Ông nói rằng cỗ máy thông minh thực sự đầu tiên sẽ được chế tạo vào cuối những năm 2020, và Điểm Kỳ Dị sẽ xuất hiện vào khoảng năm 2045.

Ray Kurzweil (1948, 77t) tại Hội nghị thượng đỉnh Singularity tại Đại học Stanford 2006.

Kurzweil nổi tiếng là một nhà khoa học máy tính, nhà phát minh, nhà sáng chế có tài, nhà tương lai học, nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo trong sáu thập kỷ qua. Ông đã được trao tặng hai mươi bằng tiến sĩ danh dự, Huân chương Công nghệ Quốc gia và được đưa vào Đại sảnh Danh vọng của Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ. Tạp chí Inc. từng gọi ông là “người thừa kế hợp pháp” của Thomas Edison.

Hai mươi năm sau Điểm kỳ dị đến gần, ông viết thêm quyển mới: Điểm kỳ dị đến gần hơn (2024). Hằng ngày, Kurzweil uống cả trăm viên thuốc theo diet riêng, với nguyện vọng sống khỏe mạnh, phong độ, để chứng kiến điểm kỳ dị xuất hiện, là lúc AI sẽ hợp nhất với con người, và vượt qua nó về sự thông minh.

[7]

KỶ NGUYÊN HỢP NHẤT GIỮA SAPIENS VÀ AI?

Năm 2024 người ta biết tên tuổi của Demis Hassabis là một trong ba người chia sẻ giải Nobel về hóa cùng với David Baker và John M. Jumper. Công trình của ông có tên AlphaFold, một hệ thống trí tuệ nhân tạo được phát triển tại Google DeepMind, có khả năng dự đoán cấu trúc 3D của protein từ trình tự axit amin của chúng với độ chính xác cao có ảnh hưởng lan tỏa trên khắp thế giới. Lùi lại thời gian vào những năm của thập niên 2010, Hassabis được biết là nhà khoa học máy tính Anh, người đồng sáng lập DeepMind, platform của AlphaGo, đứa con trí tuệ của ông, cổ máy đánh bại tất cả các kiện tướng cờ vây Hàn quốc và Trung quốc trong những năm 2016, 2017 đầy kịch tính, kết thúc 2.500 năm thống trị của con người trên bàn cờ vây. AlphaGo sau đó còn được nâng cấp lên AlphaGo Zero mạnh mẽ hơn nữa, không bằng con đường cổ điển sử dụng kinh nghiệm của con người, mà tự nó dạy nó. Hassabis là một con người hết sức đặc biệt, sinh ra ở London năm 1976, có cha là người Síp gốc Hy Lạp và mẹ là người Singapore. Cả cha và mẹ đều là giáo viên, và Hassabis mô tả mình là những người theo chủ nghĩa Bohemian, sợ công nghệ. Chị gái và anh trai của anh theo đuổi con đường sáng tạo, một người trở thành nhà soạn nhạc và người kia chọn viết văn. Vì vậy, Hassabis không chắc chắn lắm về nguồn gốc của năng khiếu khoa học của mình. Nhưng ông đã học đánh cờ vua lúc 4 tuổi, trở thành kiện tướng (master) lúc 13 tuổi chỉ đứng sau đại kiện tướng Judit Polgár; học lập trình lúc 8 tuổi, và lập trình games lúc 11 tuổi. Năm 2014, Google mua lại DeepMind, công ty được ông, bạn từ thời trai trẻ Mustafa Suleyman và nhà khoa học thần kinh Shane Legg của University College London thành lập chỉ bốn năm trước đó, với giá £400 triệu.

Buổi họp báo đáng nhớ trong lịch sử giữa Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol (trái) và Demis Hassabis đại diện cho AlphaGo của Google ngày 15 tháng 3 năm 2016 tại Seoul. (Gettyimages)

 

Nước cờ thứ 37

Với nước cờ thứ 37 trong ván thứ hai của trận đấu giữa AlphaGo và Lee Sedol, AlphaGo đã gây một sự ngạc nhiên bối rối ngay cả cho những tay cự phách cờ vây thế giới, bao gồm Lee Sedol. “Đó là một nước đi rất lạ”, một bình luận gia nói, bản thân ông là tay chơi cờ vây bậc đệ cửu đẳng, là hạng cao nhất. “Tôi nghĩ, đó là một sự nhầm lẫn”, một người khác nói. Lee Sedol, sau khi rời khỏi phòng thi đấu, cần đến gần mười lăm phút mới tìm được câu trả lời. Fan Hui – ba lần vô địch cờ vây châu Âu, người từng đánh với AlphaGo trong một trận chiến tháng Mười, thua năm ván và không thắng ván nào – đã phản ứng với với sự ngờ vực. Nhưng rồi, xuất phát từ kinh nghiệm của ông với AlphaGo – ông đã chơi đi chơi lại trong vòng năm tháng từ tháng 10 – Fan Hui đã nhận ra vẻ đẹp trong nước đi lạ thường này.

Ván cờ này đã “cảnh báo nhân loại” – đặc biệt là các quốc gia chơi cờ vây – về tiềm năng phi thường của AI. Ván cờ đã gây nên khoảnh khắc “Sputnik” cho Trung Quốc, như Kai-Fu Lee đã gọi trong quyển sách nổi tiếng của ông[d], khi Trung Quốc thức tỉnh trước tiềm năng phi thường của AI: “Chỉ sau một đêm, Trung Quốc đã lao vào cơn sốt trí tuệ nhân tạo.” Ván cờ này mang đến một số góc nhìn sâu sắc thú vị về bản chất của sự sáng tạo của AI.

Nhà vô địch cờ vây Trung Quốc Ke Jie, cũng là kẻ chiến bại trước AlphaGo, nhận ra rằng chúng ta đang ở trong một kỷ nguyên mới: “Nhân loại đã chơi cờ vây hàng ngàn năm, vậy mà, như AI đã cho chúng ta thấy, chúng ta thậm chí còn chưa chạm đến bề nổi. Sự kết hợp giữa người chơi và máy tính sẽ mở ra một kỷ nguyên mới.”

Đồng hương của Ke Jie, Gu Li, người giành được nhiều danh hiệu vô địch cờ vây nhất thế giới, nói thêm: “Con người và AI sẽ sớm cùng nhau khám phá những bí ẩn sâu xa hơn của cờ vây.” Đối với Hassabis, thuật toán này giống như kính viễn vọng Hubble của cờ vây. Nó là một công cụ để khám phá sâu hơn, xa hơn, rộng hơn bao giờ hết. Nó không nhằm mục đích thay thế sự sáng tạo của con người mà là để tăng cường nó. Trong cuộc chơi này, cả người mà máy đều học để phát triển tốt hơn.[e]

Lịch sử cho đến nay chẳng phải là sự kết hợp giữa con người và công cụ nó tạo ra hay sao? Người sapiens đã sáng tạo ra công cụ khôn ngoan để việc kiếm thực phẩm và xử lý cuộc sống hữu hiệu hơn. Trong suốt thời trung cổ cũng vậy, con người kết hợp với những dụng cụ hồi đó còn thô sơ để xây dựng những công trình vĩ đại như các nhà Gothic, và những tác phẩm nghệ thuật như tượng David của Michelangelo bằng những công cụ rất thô sơ.

[d] AI, Super-Powers. China, Silicon Valley and the New World Order.

[e] Xem Cuộc đại chiến giữa máy và người trong cờ vây: https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/cuoc-dai-chien-giua-may-va-nguoi-trong-co-vay-phan-ii/

Minh họa của Harvard Business School

Rồi trong cuộc cách mạng công nghệ thế kỷ XVIII con người đã phát triển máy móc nâng cấp giống loài lên để cải thiện sự tồn tại ở bậc cao chưa từng thấy nhìn từ các xã hội nông nghiệp. Cuộc nâng cấp hỗ tương tiếp tục từ đó với mức độ ngày càng quy mô và sâu hơn. Steve Jobs từng nói, sapiens là giống người thích sáng tạo ra công cụ. Có lẽ vì thế mà nó đã bảo tồn được nòi giống trước những nguy cơ tuyệt chủng. Những người sáng lập Đại học Stanford cũng muốn trao quyền (empower) cho con người nhiều hơn. Câu nói của Darwin “những ai học được cách hợp tác và ứng biến hiệu quả nhất sẽ chiến thắng” có thể được hiểu trong context như thế. Không như các loài vật khác, sự tiến hóa con người có chứa đựng phần hợp nhất con người và công cụ mà sự thông minh của nó tạo ra.

Nhưng một AI như AlphaGo Zero mạnh mẽ như thế, đánh thắng tiền thân của nó AlphaGo thì sao? Nó “không còn bị giới hạn bởi kiến thức của con người”, như Demis Hassabis, một trong những người sáng tạo ra AlphaGo và AlphaGo Zero, chia sẻ. Đó là điều rất đáng suy nghĩ!

Lịch sử cho đến nay chẳng phải là sự kết hợp giữa con người và công cụ nó tạo ra hay sao? Sapiens đã sáng tạo ra công cụ khôn ngoan để việc kiếm thực phẩm và xử lý cuộc sống hữu hiệu hơn. Trong suốt thời Trung cổ cũng vậy, con người kết hợp với những công cụ còn thô sơ để xây dựng những công trình vĩ đại như các nhà Gothic, và những tác phẩm nghệ thuật như tượng David của Michelangelo. Rồi trong cuộc cách mạng công nghệ thế kỷ XVIII con người đã phát triển máy móc nâng cấp giống loài lên để cải thiện sự tồn tại. Cuộc nâng cấp hỗ tương tiếp tục từ đó với mức độ ngày càng quy mô và sâu hơn. Không như các loài vật khác, sự tiến hóa con người có chứa đựng phần hợp nhất con người và công cụ mà nó tạo ra.

Nhưng một AI như AlphaGo Zero mạnh mẽ như thế, đánh thắng tiền thân AlphaGo của nó thì sao? Theo Demis Hassabis, một trong những người sáng tạo ra AlphaGo và AlphaGo Zero, AI “không còn bị giới hạn bởi kiến thức của con người”. Đó là điều rất đáng suy nghĩ!

[8]

RAY KURZWEIL VÀ MỘT BẢN SAO AI CỦA CHA MÌNH

Cuối bài, tôi xin trích một đoạn đối thoại trong tuần báo Đức DIE ZEIT từ cuộc phỏng vấn Ray Kurzweil ngày 31 tháng 7, 2025.

ZEIT: Ông đã từng hoạt động trong podcast của Joe Rogan, podcast được nghe nhiều nhất trên thế giới. Rogan từng hỏi ông, liệu trong tương lai có thể tưởng tượng được không rằng có thế có bản sao Donald Trump bởi AI, nghĩa là một chatbot được nạp tất cả thông tin có sẵn đã về Trump và có thể hành động, nói năng và suy nghĩ y như anh ta.

Kurzweil: Điều đó là tuyệt đối khả thi.

ZEIT: Liệu AI cuối cùng có thể không biến thành một thứ tinh hoa chủ nghĩa? Người giàu sản xuất những bản sao của chính họ?

Kurzweil: Không, không, một bản sao như vậy không thực sự đắt đỏ. Có thể chỉ tốn vài trăm đô la thôi. Tôi biết những gì tôi nói. Tôi đã tạo ra một bản sao của cha tôi, một nhà soạn nhạc và đã mất sớm. Tôi đã giữ được tất cả mọi thứ của ông ấy.

ZEIT: Và bản sao của cha ông hoạt động thế nào?

Kurzweil: Tôi có thể nói chuyện với ông ấy như thể ông vẫn còn sống. Các câu hỏi tôi nhập vào AI nhận được trả lời chính xác như cha tôi.

ZEIT: Nếu ông đặt câu hỏi, ông ấy nghĩ gì về AI, ông ấy sẽ nói gì?

Kurzweil: Ông không thích máy móc. Ông ấy luôn luôn nói, máy móc làm cho mọi người trở nên nhỏ bé.

Câu trả lời đó kết thúc bài phỏng vấn Kurzweil. Nó cũng làm cho nhiều người suy nghĩ.

 [9]

THAY LỜI KẾT

Mặc dù có những tiến bộ vượt bậc trong mọi lĩnh vực của đời sống do AI đem lại, nhưng tôi tin rằng chức năng sáng tạo của con người khó có thể thay thế được, giáo dục truyền thống cơ bản không thể hoàn toàn được AI thay thế. Một con người chỉ có kiến thức qua AI có sẵn khó có được chiều sâu của một nhà nghiên cứu. Cái học dựa trên AI chỉ dành tốt nhất cho những người trưởng thành, có chiều sâu, và AI được sử dụng như một công cụ tích hợp vào con người. Chính kết quả của những nghiên cứu mới của con người sẽ được cập nhật vào AI làm cho nó phong phú hơn, có thể dựa trên, hay không dựa trên AI.

Gần đây một số nhà khoa học (Arvind Narayanan, Giáo sư Khoa học Máy tính tại Đại học Princeton và đồng tác giả Sayash Kapoor)[3] và nhà kinh tế học giải Nobel (Daron Acemoglu), lên tiếng về sự quảng bá hay việc gây sợ hãi “quá đáng” với AI; họ cho rằng nó giống như kiểu “sơn đông mãi võ”, xem AI như thuốc trị bá bệnh. GS. Acemoglu, giải Nobel Kinh tế, Giáo sư Viện MIT và Đồng giám đốc Sáng kiến Định hình Tương lai Công việc, dựa trên nghiên cứu của nhóm ông, giải thích lý do tại sao AI chỉ có thể tự động hóa 5% công việc và chỉ đóng góp 1% vào GDP toàn cầu trong thập kỷ tới.[4]

Tuy nhiên chúng ta chưa biết, chưa thấy hết năng lực của AI. Tất cả đều mở. Liên quan đến Điểm kỳ dị, tác giả Vernor Vinge đã từng viết rằng thế giới không thể ngăn cản được bước tiến của AI:

Nhưng nếu Điểm kỳ dị công nghệ có thể xảy ra, thì nó sẽ xảy ra. Ngay cả khi tất cả các chính phủ trên thế giới đều hiểu được “mối đe dọa” này và vô cùng sợ hãi nó, thì tiến trình hướng tới mục tiêu vẫn sẽ tiếp tục. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh – kinh tế, quân sự, thậm chí cả nghệ thuật – của mọi tiến bộ trong tự động hóa đều hấp dẫn đến mức việc ban hành luật lệ, hoặc thiết lập các phong tục cấm đoán những điều đó, chỉ càng khiến ai đó chắc chắn sẽ làm khác đi.[5]

Nửa thế kỷ trước, nhà triết học Áo Günther Anders (1902-1992), từng là chồng của nữ triết gia Hannah Arendt, và đạt Giải Hòa bình của Hiệp hội Sản xuất và Bán sách Đức năm 1992, trong tác phẩm “Sự lỗi thời của con người” (Antiquiertheit des Menschen/ The Outdatedness of Human Beings) đưa ra luận điểm cơ bản nổi tiếng của ông, là nhân loại không còn có thể theo kịp sự phát triển công nghệ của chính mình. Ông lập luận, mặc dù đang phát triển những công nghệ ngày càng tinh vi cao cấp, chúng ta vẫn không thể đối phó với những hậu quả về mặt đạo đức và xã hội của những công nghệ này. Phê bình của Anders tập trung đặc biệt vào sự tha hóa (Entfremdung) của nhân loại đối với các sản phẩm của mình và sự vô trách nhiệm do chúng gây ra trong việc xử lý chúng. Con người có nguy cơ bị các sản phẩm công nghệ vùi lấp trong cái núi con người tạo ra. Khoảng cách giữa sản xuất ra một thứ gì đó và khả năng hình dung ra hậu quả của sản phẩm đó đối với xã hội ngày càng lớn ra. Do đó việc thay đổi thế giới không còn đủ nữa. Người ta còn phải cố gắng hiểu hệ quả của những thay đổi mà mình đã tạo ra. Nếu không, con người có nguy cơ thể đứng trước doomsday do chính mình tạo ra.

Albert Einstein cũng đã từng diễn tả “sự vô cảm” của khoa học như lời cảnh báo trước việc tôn vinh tri thức quá mức mà quên đi những giá trị đạo đức mà con người cần phải gắn cho nó:

Thời đại chúng ta tự hào rằng đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong sự phát triển trí tuệ của con người. Việc theo đuổi chân lý và tri thức là một trong những điều đẹp nhất mà nhân loại có năng lực làm được, mặc dù niềm tự hào về sự theo đuổi này thường được thể hiện bởi những người ít có khát vọng nhất. Chúng ta cũng nên thận trọng khi đề cao trí tuệ lên hàng thần thánh; nó có thể có cơ bắp cuồn cuộn, nhưng lại thiếu nhân cách. Nó không thể lãnh đạo, mà chỉ biết phục vụ, và nó không hề biết kén chọn trong việc lựa chọn chủ nhân. Phẩm chất này cũng được phản ánh trong tính cách của các tu sĩ, những người trí thức.

Trí tuệ có con mắt tinh tường về phương tiện và công cụ, nhưng lại mù quáng trước mục tiêu và giá trị. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi loại mù quáng chết người này cũng đã được truyền lại cho các môn đồ của nó, thực ra là cho toàn bộ thế hệ chúng ta.

(Xem sách Albert Einstein, Từ những năm sau của đời tôi, bài 54 do IRED phát hành)

 

LỜI BẠT (1)

Tôi xin thêm một phần dưới đây liên quan đến đặc tính của thời đại chúng ta.

ĐẠI HỌC SINGULARITY

Từ cảm hứng với khái niệm Singularity của Ray Kurzweil trong quyển sách Điểm kỳ dị đến gần của Kurzweil, năm 2008 Peter Diamandis, một doanh nhân khởi nghiệp hàng loạt, nhà tương lai học, chuyên gia công nghệ, diễn giả TED, tác giả sách bán chạy nhất của New York Times[6] và là người sáng lập hơn 25 công ty, đã cùng với Ray Kurzweil thành lập Đại học Singularity, một học viện sau đại học ở Mountain View, Thung lũng Silicon, California, có mục đích tư vấn cho các nhà lãnh đạo thế giới về các công nghệ phát triển theo hàm mũ. Họ tuyên bố sự thành lập Đại học Singularity vào tháng Hai, 2009 trong cuộc họp báo tại hội nghị thường niên của diễn đàn TED (Công nghệ, Giải trí, và Thiết kế). Họ tin tưởng rằng “công nghệ và nghệ thuật kinh doanh (entrepreneurship) có thể giải quyết những thách thức lớn nhất của thế giới.” Sứ mệnh cuộc đời của Peter là trao quyền cho các doanh nhân để tạo ra một tương lai đầy hy vọng, hấp dẫn và thịnh vượng cho nhân loại.

 

Văn phòng chính của Đại học Singularity tại Thung lũng Silicon. (Ảnh SU)

Peter Diamandis và Ray Kurzweil là sáng lập viên của Đại học Singularity

“Từ năm 2008, chúng tôi đã giúp các cá nhân, tổ chức và chính phủ chuyển đổi cách họ lãnh đạo, tư duy và kiến tạo tương lai thông qua các chương trình và trải nghiệm giáo dục mang tính đột phá, tập trung vào sự hội tụ và ứng dụng công nghệ theo cấp hàm mũ (exponential) để mang lại giá trị cho doanh nghiệp và xã hội”, họ hãnh diện tuyên bố.

Singularity là một trường đại học mới nhằm mục đích đào tạo những nhà lãnh đạo tương lai, hướng đến những đột phá mang tính thay đổi hệ hình (paradigm), thay đổi cuộc chơi, những bứt phá không gì đảo ngược được… đang diễn ra liên tục.

Nữ doanh nhân khởi nghiệp Deborah Perry Piscione, người đến tìm hiểu Đại học Singularity để tìm ý tưởng cho quyển sách Bí nhật của Thung lũng Silicon, được “cảnh báo” bởi một người bạn: “Deborah, nó sẽ thay đổi tư duy của bạn.” Sau một tuần lang thang ở Singularity, bà trả lời người bạn đó: “Nó không chỉ thay đổi tư duy của tôi; nó đã thay đổi cuộc đời tôi.” Đại học Singularity, giống như phần còn lại của Thung lũng Silicon, là một nơi tràn đầy đam mê và cảm hứng.[7]

Chúng ta đang sống trong thế giới gì? Trong thế giới thay đổi theo hàm mũ (exponential). Hàm mũ (ax, với a lớn hơn 1) là dạng tăng trưởng nhanh nhất, hơn cả hàm số nhân (xn). Chúng tôi xin trích một đoạn trong sách Bí mật của Thung lũng Silicon:

 

NHỮNG THAY ĐỔI THEO HÀM MŨ

 Chỉ tại Thung lũng Silicon văn hóa của khoa học và đổi mới sáng tạo mới được trao quyền tự do nhiều đến vậy để con người có thể nghiên cứu và thử nghiệm những ý tưởng này, mặc dù thành quả, về mặt tài chính hay cách thức khác, có thể chỉ đến sau nhiều năm hay hàng thập kỷ trong tương lai. Nhưng điều làm cho kỷ nguyên này thậm chí còn có ý nghĩa hơn bất cứ thời kỳ đổi mới nào trước đây trong lịch sử nhân loại là cách các công nghệ của Thung lũng Silicon tác động đến những ý niệm cơ bản nhất của thế giới về làm việc, học tập và lối sống. Những công nghệ này sẽ cho phép bất cứ ai – ở mọi lứa tuổi, vào mọi lúc và ở mọi nơi trên thế giới – tham gia vào thị trường kinh doanh sáng tạo, tạo ra một thương hiệu hoặc nền tảng truyền thông cá nhân, và xây dựng những thứ mới đây còn bị xem là cần rất nhiều vốn. Ví dụ như trường hợp của Jack Andraka, khi đó 15 tuổi, một học sinh năm đầu trung học từ Maryland đã phát minh một công cụ kiểm tra khả thi nhằm phòng ngừa sớm ung thư tuyến tụy. … Andraka, sau cái chết của người chú vì ung thư tuyến tụy, cảm thấy thôi thúc phải tìm ra một phương pháp chữa trị. (tr. 37) […]

Theo Andraka, phép thử chẩn đoán của cậu nhanh gấp 28 lần, rẻ hơn 28 lần (chi phí khoảng ba xu) và nhạy hơn 100 lần so với các phương pháp hiện tại. Năm 2012, Jack Andraka đã giành được Giải thưởng Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế của Intel trị giá 75.000 đô la và, sau khi chiến thắng, đã được cấp bằng sáng chế cho thiết bị cảm biến của mình. (38)

Trong cuốn “Sự dồi dào” (Abundance) của mình, Tiến sĩ Peter Diamandis nhận xét: “Những người thất học và thiếu ăn truy cập được kết nối di động, điều mà, chỉ mới cách đây ba mươi năm, chưa từng được nghe đến.” Sự xuất hiện công nghệ này có những hệ quả đáng kinh ngạc, như Diamandis minh họa, về một người bình thường: “Nếu anh ta sử dụng điện thoại thông minh có truy cập Google, thì anh ta đã tiếp cận được thông tin tốt hơn Tổng thống Hoa Kỳ cách đây 25 năm.” Thực tế, nhà vật lý Michio Kaku lưu ý rằng điện thoại di động trung bình ngày nay có năng lực tính toán lớn hơn tất cả những gì NASA đã có khi họ gửi hai phi hành gia lên mặt trăng. Với trình độ công nghệ sẵn có cho mọi công dân ở mọi quốc gia, chúng ta có thể mong đợi những loại thị trường mới, nền kinh tế mới và những sáng tạo mới nào? Năm 2000, chỉ có 2% người châu Phi tiếp cận được điện thoại di động. Năm 2009, con số này đã tăng lên 28%, và dự kiến sẽ tăng lên 70% vào năm 2013. Sự mở rộng nhanh chóng của công nghệ di động ở khu vực hạ Sahara đã cho ra đời một cuộc cách mạng kinh tế, cái sẽ được xuất khẩu sang phần còn lại thế giới – một ví dụ điển hình về những gì được gọi là “đổi mới sáng tạo ngược” (reverse innovation): sự đổi mới sáng tạo xuất hiện đầu tiên ở thế giới đang phát triển, trước khi lan sang thế giới công nghiệp hóa. Carol Realini, Chủ tịch điều hành của công ty đổi mới sáng tạo mobile-banking Obopay có trụ sở đặt tại California đã nói theo cách này: “Châu Phi là Thung lũng Silicon của ngành ngân hàng. Tương lai của ngành ngân hàng đang được xác định ở đây. Các mô hình mới cho những gì sẽ là chủ đạo trên toàn thế giới đang được ấp ủ ở đây. Nó sẽ thay đổi thế giới.” (39-40) […]

Điều đó đưa chúng ta trở lại với câu hỏi ban đầu của mình: Vì sao bạn nên quan tâm đến Thung lũng Silicon?

Thứ nhất, nói một cách đơn giản, Thung lũng Silicon là nơi tạo ra hầu hết mọi đổi mới công nghệ, những cái đã và sẽ tiếp tục thay đổi toàn thế giới về cách chúng ta sống, làm việc và giao tiếp xã hội. Nó tiếp tục chứng minh rằng khu vực này đã không đánh mất lợi thế của mình trong việc tạo ra những sản phẩm sáng tạo mới có sức hấp dẫn cả thế giới.

Thứ hai, Thung lũng Silicon tự hào có một lợi thế kinh tế khu vực vô cùng vững chắc trong kinh tế toàn cầu của chúng ta, mặc dù phần còn lại của nước Mỹ còn đang phải chật vật với những khó khăn. Như vậy, Thung lũng Silicon là biểu tượng để giải thích vì sao thế kỷ này sẽ không được định nghĩa bằng quốc gia dân tộc cổ điển, mà bằng sự phân vùng các thành phố như những trung tâm phát triển kinh tế.

Thứ ba, Thung lũng Silicon không ngừng phát triển. Nó giống như một ngọn núi lửa đang hoạt động, phun trào vài năm một lần, với sự sáng tạo sản sinh ra những ý tưởng mới, công nghệ, mô hình kinh doanh và sự thương mại hóa. Doug Henton, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Collaborative Economics, nói: “Chúng ta là một nền kinh tế dựa-trên-bong-bóng đang tiếp tục sáng-tạo-lại chính nó.” Henton tin rằng nền kinh tế của Thung lũng Silicon là một chuỗi những đường cong tăng trưởng tự nhiên, không phụ thuộc vào một sản phẩm hoặc công nghệ. Đúng hơn, nó là nơi mà các ý tưởng nổi bong bóng, sôi lên một lúc, và sau đó, khi thị trường bão hòa, những ý tưởng này biến thành những ý tưởng mới và sáng tạo. (46-47) […]

Đây là điều kết đáng suy nghĩ dành cho các chính phủ và doanh nghiệp tư duy theo kiểu cũ:

Thật không may, các chính phủ và doanh nghiệp lớn vẫn có xu hướng nghĩ về tương lai theo một đường thẳng. Điều này có thể hiểu được, vì sự phát triển của con người trước nửa thế kỷ vừa qua gần như là cục bộ và tuyến tính, vì tổ tiên của chúng ta, ngày nào cũng vậy, cũng chỉ gặp một vài người hàng xóm gần gũi mà thôi. Nhưng công nghệ hiện nay đã đẩy nhanh kết nối của chúng ta với các nền văn hóa và các nền văn minh hoàn toàn khác biệt trên khắp thế giới. Điều này đã thay đổi tầm nhìn của chúng ta, mở ra những con đường mới để xác định những vấn đề cấp bách nhất và vận dụng kiến thức tập thể để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Nó đòi hỏi bộ não của chúng ta phải vượt khỏi tư duy tuyến tính, thay vào đó, hoạt động từ một cơ cấu (framework) phức tạp hơn nhiều và có tính hàm mũ. (47-48) […]

Mặc dù Thung lũng Silicon bắt đầu bao gồm chủ yếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Peter Diamandis tin rằng các công ty của nó sẽ tiếp tục được định giá hàng tỷ đô la sau một đêm, trong khi các tập đoàn đa quốc gia truyền thống sẽ phá sản trong 2 đến 10 năm tới. Bây giờ, đối với mỗi công ty có lợi ích toàn cầu, việc có một văn phòng tại Thung lũng Silicon quan trọng hơn là có văn phòng ở Washington hay New York. (48-49)

Lời bạt (2)

AI vs Nhà nghiên cứu

Thưa quý độc giả,

Trên đây là bức tranh mà tôi đã tạo ra, nói cho vui, theo phương pháp “học máy” (machine learning, ML). Công việc của tôi cũng giống như công việc của học máy: thu thập dữ liệu, và đặt ra một algorithm trong đầu, ở đây là muốn tạo ra một bức tranh về lịch sử của sự phát triển AI và Robot. Tôi có thể viết dài hơn nếu muốn. Chỉ cần có thời gian. Tôi cũng có thể đưa ra bức tranh với nhiều chi tiết hơn có thể làm người đọc hoặc say mê hơn, hoặc mệt mỏi hơn. Nhưng trước mắt bản dẫn nhập của tôi tạm đủ cho mục tiêu của tôi. Tôi tạm hình dung rằng mình cũng có một loại AI trong đầu.

Nhưng tôi không rõ, một AI khác có thể cho ra một bức tranh tương tự như thế hay không. Có thể nó hay hơn ở một số chỗ, nếu nó có khối lượng data lớn hơn của tôi. Nó sẽ viết nhanh hơn, không như tôi phải bỏ hơn mấy tuần để thực hiện bức tranh. Nhưng tôi có cảm xúc (emotion) dẫn dắt trong algorithm của tôi, tôi có mục tiêu, tư duy và ý muốn, biết đánh giá, những điều có lẽ một AI bình thường chưa có trong thời điểm hiện tại. Các nhà khoa học, nghiên cứu có lẽ đều có hững cỗ máy AI hoạt động như ML bên trong bộ não của họ.

Trong khi các AI chuyên nghiệp như ChatGPT có kho data khổng lồ, nhưng liệu có thể viết được một quyển sách hay như sách của Ray Kurzweil không, được trao giải Pulitzer, hay trở thành một New York Times bestseller không? Để làm được điều đó, các AI cần có feelings và biết xã hội nghĩ gì. Về điểm này, 250 năm trước Adam Smith đã nói như thế này trong Lý thuyết tình cảm đạo đức:

Nếu một sinh vật người có thể lớn lên ở một nơi hẻo lánh nào đó, không có bất kỳ sự giao tiếp nào với chính loài của mình, thì anh ta không thể nghĩ đến tính cách của chính mình, đến sự phù hợp hay khiếm khuyết của tình cảm và hành vi của chính mình, đến vẻ đẹp hay sự dị dạng của tâm trí mình, cũng như đến vẻ đẹp hay sự dị dạng của khuôn mặt mình. Tất cả những điều này là những thứ mà anh ta không thể dễ dàng nhìn thấy, mà anh ta tự nhiên không nhìn vào được, và những thứ đó, nếu anh ta không được cung cấp một tấm gương nào có thể trình bày chúng cho anh ta xem. Đưa anh ta vào xã hội và anh ta ngay lập tức được cung cấp tấm gương mà anh ta mong muốn trước đây … Anh ta sẽ nhận thấy rằng nhân loại chấp nhận một số đam mê trong số chúng và chán ghét những đam mê khác. Anh ta sẽ được nâng lên trong trường hợp này và bị ném xuống trong trường hợp kia; những ham muốn và ác cảm của anh ta, những niềm vui và nỗi buồn của anh ta, giờ đây sẽ thường trở thành nguyên nhân của những ham muốn mới và những ác cảm mới, những niềm vui mới và những nỗi buồn mới: do đó, giờ đây chúng sẽ khiến anh ta quan tâm sâu sắc và thường kêu gọi sự quan tâm chăm chú nhất của anh ta. (TMS, 110)

Tính đạo đức (morality) do đó gắn liền với tính xã hội (sociability). Làm sao dạy cho AI điều đó? Một phần nào đó, AI hay robot hiện nay đã có cảm xúc, nhưng co lẽ chưa thể giống như con người.

Trong bài viết trên, tôi chủ yếu sử dụng tư liệu sách, là những nguồn tư liệu chất lượng cao và được bảo đảm, một cách tương đối. Sách cũng có thể sai, như tôi sẽ dẫn chứng dưới đây, và một AI vồ lấy nó mà không kiểm tra sẽ mắc phải sai lầm. Trong công việc như của tôi, cái khó là từ khối tư liệu sách mà làm sao tìm ra được các mảnh ghép để tạo nên một bức tranh có chủ đích. Giống như đứng trước một núi thông tin lộn xộn, đan xen, bạn phải sử dụng định hướng (algorithm) của mình, óc phán đoán và trực giác để nhìn thấy được mẫu vân (pattern) mà bạn đang mong muốn. Hay hoặc dở dĩ nhiên là chuyện khác.

Tôi muốn nói đến một số sai lầm AI có thể mắc phải. Sai lầm này thật ra cũng giống như sai lầm của một nhà nghiên cứu. Nếu bạn tra vào google “một phát biểu quan trọng của Einstein về Phật giáo tương lai” thì AI Overview sẽ sẽ đưa ra câu trả lời sau đây:

Phát biểu nổi tiếng của Albert Einstein về Phật giáo và tương lai là: “Phật giáo có những đặc tính để trở thành một tôn giáo vũ trụ của tương lai. Phật giáo vượt trên một Chúa cá nhân, tránh được các giáo điều và thần học; Phật giáo còn bao trùm cả thế giới tự nhiên và tinh thần, đồng thời dựa trên ý nghĩa tôn giáo đến từ kinh nghiệm của thế giới tự nhiên và tinh thần. Nếu có một tôn giáo nào có thể phù hợp với yêu cầu của khoa học hiện đại, thì đó chỉ có thể là Phật giáo”

Những phiên bản tương tự đã được lan tỏa trên mạng từ nhiều năm qua. Ở Việt Nam, nó đã được đóng khung có thể được tìm thấy ở một số chùa:

Nhưng sự thật, Einstein không có phát biểu nào như thế cả. Tôi đã một lần làm rõ điều đó trong bài viết sau đây:

Một phát biểu về Phật giáo được cho là của Einstein

24 Tháng Ba, 2023

Sai lầm đó dựa vào một quyển sách có tên Buddha or Bust (tạm dịch: Theo Phật hoặc nỗ tung) của tác giả Perry Garfinkel như tôi đã trình bày trong bài viết trên, và có lẽ được hỗ trợ bởi những sai lầm lan truyền trên mạng khiến người đọc khó cưỡng lại, dù không biết sai lầm của AI xuất phát từ đâu. Tuy nhiên AI của Google vẫn ‘khôn’ lắm. Bên cạnh phát biểu được đưa ra mà họ có lẽ không chắc chắn, vì biết rằng chỉ sao chép, họ cũng đưa lên bài của tôi về cùng chủ đề. Điểm yếu của họ là, họ không biết đâu là sự thật. Họ nhường phán quyết lại cho người đọc. Ai “nhẹ dạ” thì sẽ tin. Ở điểm này, có lẽ họ khác với con người, “thua” nhà nghiên cứu (sâu).

Cũng như nếu gõ vào Google “Einstein hay Hilbert, ai tìm ra trước thuyết tương đối rộng?” thì họ sẽ cho kết quả: “Mặc dù có tranh cãi về việc ai là người tìm ra phương trình trường hấp dẫn trước, Albert Einstein vẫn là người được công nhận rộng rãi là người phát triển và công bố lý thuyết tương đối rộng.” Ở đây AI cũng “đi hàng hai” do họ không quyết định được đâu là sự thật. Và ở vài dòng dưới đó, họ có đăng bài của tôi nhằm giải quyết cuộc “tranh cãi”:

Vài ngộ nhận về Albert Einstein

Trí tuệ nhân tạo có năng lực sưu tầm dữ liệu rất rộng, nhưng có thể không quyết định được đúng sai trong những trường hợp có sự tranh cãi. Có thể nhiều thông tin trong đó là rác mà AI không thể sàn lọc. Làm sao? Họ đưa ra nhiều lựa chọn cho độc giả, nên khiến độc giả có thể phân vân, hoặc có thể chọn quyết định sai. Trong khi đó nhà nghiên cứu có thể quyết định tốt hơn. Đó là sự khác biệt. Với điều kiện, nhà nghiên cứu cũng phải có “nghiên cứu sâu” để có khả năng phân biệt đâu là giả, là thật. Nếu không, họ cũng có thể rơi vào sai lầm y như AI nói trên. Nói tóm lại, những gì AI phát biểu cần phải được thưởng thức với sự thận trọng.

Xem thêm:

Lời bạt (3)

Xin mời anh chị xem phần cuối: Cuộc trò chuyện với nhà nữ triết học Hannah Arendt sắp được thực hiện.

 

Nguyễn Xuân Xanh

Tháng 8/9 , 2025, Sài gòn xưa, Thành phố Hồ Chí Minh

 

[1] Tác giả của quyển sách New York Times bestseller: Co-intelligence năm 2024.

[2] Xem Cuộc đại chiến giữa máy và người trong cờ vây: https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/cuoc-dai-chien-giua-may-va-nguoi-trong-co-vay-phan-ii/

[3] Quyển sách “AI Snake Oil: What Artificial Intelligence Can Do, What It Can’t, and How to Tell the Difference” (Tạm dịch: Dầu Rắn AI: Trí tuệ nhân tạo có thể làm gì, không thể làm gì và làm thế nào để phân biệt sự khác biệt) đã lọt vào danh sách Top 10 và danh sách đề xuất cuối năm của Publishers Weekly, Nature, Bloomberg, USA Today và nhiều tổ chức khác. Sách được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Princeton.

[4] Tác giả cảm ơn thông tin của TS Vũ Quang Việt

[5] Được trích trong quyển James Barrat, Our Final Invention, trang 118. Thomas Dunne Books, 1993.

[6] Hai cuốn sách đó là Abundance: The Future Is Better Than You Think (2012) và Bold: How to Go Big, Create Wealth, and Impact the World (2015); và là thành viên của World Future Society. Năm 2014, tạp chí Fortune đã vinh danh ông là một trong 50 nhà lãnh đạo vĩ đại nhất thế giới và vào mùa thu năm 2016, chính phủ Hy Lạp đã vinh danh ông bằng một con tem trị giá 1,20 euro có ảnh của ông.

[7] Xem Đại học Singularity trong sách Bí mật Thung lũng Silicon, Chương 1, Vì sao bạn nên quan tâm đến Thung lũng Silicon. NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.