STEVE JOBS, THIỀN, TRỰC GIÁC
và
CUỘC CÁCH MẠNG MÁY TÍNH
Nguyễn Xuân Xanh
![]()
Stay hungry. Stay foolish
— Steve Jobs

Steve Jobs và Steve Wozniak trong phòng làm việc như những hippies
(1)
Những ngày qua dư luận liên tục xôn xao, vâng dậy sóng, về đề tài Steve Jobs sau khi nó được Bộ GD ĐT gợi ý trong một đề thi ngữ văn. Tôi có viết trong Lời bạt cho bài Khoa học – Biên giới vô tận (Vannevar Bush) mục (2) tiêu đề Làm sao để có những “Steve Jobs Việt Nam”, về câu chuyện của Steve Jobs. Giờ tôi cảm thấy cần viết thêm về Steve Jobs liên quan đến một chủ đề khác: Thiền và Trực giác, những chủ đề liên quan mật thiết với ông. Ở đây, tôi muốn làm rõ một số điểm để tránh ngộ nhận có thể xảy ra. Quả thật, Thiền và Trực giác thuộc về đời sống tâm linh và có tác động rất lớn đối với sự nghiệp của Jobs. Tuy nhiên, Thiền và Trực giác không phải là tất cả. Sự thành công vĩ đại của Jobs cần nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên biết được đời sống tâm linh của Jobs cũng là điều rất thú vị.
Thiền thật sự là rất cần thiết đối với ai thực hành nó, nhưng không nên diễn giải như động cơ chính yếu để nó che khuất những yếu tố khác có thể là nền tảng cốt lõi dẫn đến khám phá khoa học. Trực giác ở đâu mà có, và nó có tùy thuộc vào những yếu tố thực tiễn nào, hay nó tồn tại apriori trong con người như nhau? Mặt khác, ý tưởng khoa học mới có giá trị, thực tế, thường xuất phát ở những nền văn hóa khoa học phát triển, vì chúng được nuôi dưỡng bởi những chất liệu từ đó. Điều đó dễ hiểu. Khám phá khoa học là hàm số của những biến số nền tảng văn hóa. Xin xem thêm Cần một văn hóa khoa học để phát triển (2022)
Trực giác không phải là “universal”, mà tùy thuộc rất nhiều vào trình độ tri thức, kinh nghiệm thực tiễn của người sở hữu nó. Einstein là người nói nhiều nhất về trực giác, nhưng ở đâu mà có? Do óc tò mò và lòng đam mê vô hạn trước những hiện tượng tự nhiên mà Einstein đã làm việc cật lực để truy tìm những mảnh ghép của một thế giới mới có một số dấu hiệu như điềm báo nhưng chưa hiện ra nguyên hình. Ông làm việc với tinh thần độc lập cao, và tinh thần này được giữ suốt đời như thế. Ông không chạy theo bộ máy hàn lâm. Ông nói, “Điều quan trọng là luôn luôn phải đặt câu hỏi”. Đó là thái độ hoài nghi Cartesian, phổ biến từ thời Descartes thế kỷ XVII, nhưng đặc biệt rõ nét cao độ ở Einstein lúc giới hàn lâm đã bị tiêm nhiễm căn bệnh tự mãn cho rằng Newton và Maxwell đã giải quyết hết mọi vấn đề rồi. Thực tế bộ máy hàn lâm đối với ông đang có vấn đề. Biết được điều đó là một chuyện không dễ. Nó đòi hỏi ông đọc và thảo luận miệt mài với các bạn đồng nghiệp về những chủ đề và tác phẩm quan trọng không được giảng dạy hay lưu truyền trong giới đại học có tác dụng xây dựng một Weltanschauung mới. Ông tự học là chính. Và trực giác khoa học của ông đã lớn lên theo từ đó. Trực giác không tách rời khỏi thái độ triết học Cartesian như điều kiện tiên quyết, và vào nghiên cứu cật lực, vừa có tính xây dựng (constructive), vừa có tính kiểm chứng. Vì thế cho rằng chỉ cần có trực giác chung chung là đủ để thành công sẽ là một kết luận sai lầm lớn. Xem con đường dốc khó khăn mà Einstein thời trẻ đã leo: Luận văn tiến sĩ của Albert Einstein (2026).
(2)
Steve Jobs đã sớm đến với tâm linh từ nhỏ. Điều đó đúng. Tự truyện của một Yogi (Autobiography of a Yogi) của Paramahansa Yogananda là “quyển sách hướng dẫn thiền định và tâm linh mà ông đọc lần đầu tiên ở tuổi thiếu niên, đọc lại ở Ấn Độ và từ đó đọc tiếp mỗi năm một lần cho đến cuối đời.” Vị Guru này đã từng đến vùng vịnh diễn thuyết, với hàng nghìn người trẻ đến nghe. Thung lũng Silicon là vùng đất rất cởi mở với thiền. Jobs đi Ấn Độ để tìm “enlightenment” (khai sáng, giác ngộ) bảy tháng. Ông hành thiền một cách nhiệt tình, không phải do sự bồng bột của tuổi thanh niên, mà rất nghiêm túc và lâu dài. Sau chuyến đi Ấn Độ, ông viết viết lại nhận định của mình về hai thế giới:
Trở về nước Mỹ, đối với tôi, là một cái sốc, lớn hơn là cái sốc đi Ấn Độ. Người dân ở miền quê Ấn Độ không sử dụng tri thức như chúng ta làm, thay vào đó họ sử dụng trực giác (intuition), và trực giác của họ phát triển nhiều hơn xa so với phần thế giới còn lại. Trực giác là một thứ có sức mạnh rất lớn, mạnh hơn tri thức của họ, theo tôi. Nó có ảnh hưởng lớn lên công việc của tôi.
Tư duy lý trí phương Tây không phải là một đặc trưng bẩm sinh của con người, nó được học, và là thành tựu lớn nhất của nền văn minh phương Tây. Trong những làng quê Ấn Độ, người dân chẳng bao giờ được học nó. Họ học một cái gì khác, về một số phương diện là quý giá, về một số phương diện khác lại không. Đó là sức mạnh của trực giác và của cái khôn thực nghiệm.
Trở về lại sau bảy tháng sống trong các làng Ấn Độ, tôi nhìn thấy sự điên khùng của thế giới phương Tây, cũng như năng lực tư duy lý trí của nó. Nếu bạn chỉ cần ngồi và quan sát, bạn sẽ thấy tâm trí (mind) của bạn bất an thế nào. Nếu bạn tìm cách làm dịu nó lại, nó sẽ làm cho tình hình xấu hơn, nhưng với thời gian, nó dịu lại, và khi nó dịu rồi, thì bạn sẽ có không gian để nghe được những thứ tinh tế hơn – đó là lúc trực giác bạn bắt đầu nảy nở, và bạn bắt đầu nhìn thấy sự việc rõ ràng hơn, và bạn sẽ trở về hiện tại hơn. Tâm trí bạn bắt đầu chậm lại, và bạn nhìn thấy một sự mở rộng ra ghê gớm trong thời khắc đó. Do đó, bạn sẽ nhìn thấy thật nhiều hơn lúc trước bạn có thể nhìn thấy. Đó là một sự rèn luyện; bạn phải thực hành nó.
Zen (thiền) có tác dụng sâu sắc lên đời tôi từ đó. Vào một thời điểm, tôi đã muốn đi Nhật Bản, và cố gắng đến tu viện Eihei-ji, nhưng người cố vấn tâm linh của tôi đã khuyên tôi nên ở lại đây. Ông nói, không có cái gì ở đó mà không có ở đây, và ông ấy có lý. Tôi học được chân lý của Thiền nói rằng, nếu bạn muốn đi chu du thế giới để tìm thầy, thì thầy sẽ xuất hiện ở ngoài ngõ. (W. Isaacson, Steve Jobs, 48-49)
Tôi rất chia sẻ với ông. Nhưng cần hiểu rằng, không phải chí có thiền mới làm nên Steve Jobs. Ông còn có nhiều thứ hơn nữa để thành công, đặc biệt có cả môi trường sống sinh động xung quanh thường xuyên dậy sóng và cung cấp cho ông nhiều chất liệu xúc tác để nuôi dưỡng, kích thích và dẫn dắt trực giác ông. Nếu Newton từng nói, ông nhìn xa là vì ông được đứng trên vai những người khổng lồ, thì đối với Steve Jobs cũng như thế. Môi trường khoa học, công nghệ, công nghiệp của vùng vịnh San Francisco là một người khổng lồ như thế. Sự thành công của ông không thể tách rời khỏi môi trường ông sống.

Steve Jobs tại nhà ở thành phố Cupertino, Santa Clara County, California, 1982
Steve Jobs thuộc thế hệ Hippies những năm 1960, 70. Đó là thế hệ mà nhiều người muốn đi tìm cái mới để trả lời cho những ưu tư của cuộc sống trước mặt, như được nhạc sĩ John Lennon (1940–1980) diễn tả: “Thanh niên ngày nay đang đi tìm một số câu trả lời – những câu trả lời đích thực mà nhà thờ không thể cho họ, bố mẹ không thể cho họ, và vật chất không thể cho họ.” Họ sử dụng chất LSD gây ảo giác để khám phá và có trải nghiệm thế giới khác. Họ muốn thay đổi.
Trực giác là một nguồn sáng tạo vô hình, và nguồn gốc của nó có tính ‘huyền bí’. “Tôi đặt niềm tin vào trực giác” như Einstein nói. Khám phá thường xuất phát từ một “ánh chớp trực giác” xuất hiện tại biên giới của cái còn nằm trong bóng tối sau những trăn trở, để nhận ra một chân lý mới. Henry Thoreau cũng thừa nhận “Tri thức không đến với chúng ta bằng chi tiết, mà bằng những tia chớp từ trên trời.” W. A. Mozart cũng sáng tác bằng ánh sáng của trực giác: Nó (một sáng tác nhạc) không đến với tôi lần lượt theo thứ tự, với nhiều phần được chi tiết hoá, như sau này chúng được làm, mà chính ở trong trạng thái tổng thể của nó mà sự tưởng tượng (nghĩa là trực giác) của tôi đã để cho tôi nghe thấy nó.”
Thiền, hay cuộc sống tĩnh lặng, sẽ giúp phát triển trực giác. Thiền ngày càng có ảnh hưởng lên phương Tây và thế giới, được sử dụng như một khoa học hơn là tôn giáo. Thiền có thể cải thiện và giáo dục con người, bằng một cuộc sống minh triết, tinh tấn, và giúp phục hồi sức khỏe. Năm 2011 Thiền sư Thích Nhất Hạnh được Google mời đến giảng về Thiền tại trung tâm của công ty. Phương Tây có thể sẽ khám phá giá trị hữu ích của Thiền hơn phương Đông, như họ đã từng làm đối với các khám phá phát minh của Trung Hoa cổ đại.
Trước khi mất, Steve Jobs chuẩn bị hậu sự của mình theo một cách rất đặc biệt, lộ rõ chất thiền sâu đậm ở ông. Có thể nói, một chân ông đứng trên vùng đất công nghệ sôi động, trong khi chân kia đứng trên mảnh đất thiền tĩnh lặng, nhưng có sức mạnh tạo tầm nhìn, thấy được quy luật, và các mối liên quan (Zusammenhänge), và lèo lái ông, suốt cả cuộc đời. Vì thế ông muốn để lại một lời khuyên từ kinh nghiệm, một message. Ông chuẩn bị trước món quà cho các vị khách sẽ đến dự lễ tưởng niệm ông sau khi ông mất: Đó là quyển Tự truyện của một Yogi. Quà tặng được đặt trong một cái hộp xám và được gửi tặng trân trọng đến mọi vị khách. Đó chính là thông điệp mà ông muốn gửi đến đồng nghiệp và bạn bè: Hãy rèn luyện trực giác bằng thiền định, và nhìn thế giới từ bên trong. Đối với ông, thiền định giúp ông có năng lực tập trung, mài dũa trực giác, loại bỏ những gì không cần thiết và gây rối trong đầu, nhìn thấy vision vượt khỏi tầm thời đại, có tình yêu cái đẹp và tính đơn giản như có thể. Tự truyện là quyển sách duy nhất mà ông đã tải vào iPad2 của ông. Tìm về Thiền là tìm về con người thật của ông khỏi sự che lấp của thế giới rối rắm trước mặt, hay giúp ông tìm đến “ông Phật vàng” ẩn chứa trong ông dưới cái vỏ phật đất sét che, như ẩn dụ của thiền sư Jack Kornfield.
Nhưng những điều nói trên cũng chưa phải là tất cả. Ở Việt Nam người ta không muốn nghe điều này. Ngoài thiền, còn một yếu tố nữa đã góp phần làm thay đổi Jobs vĩnh viễn. Đó là LSD (lysergic acid diethylamide) chất gây ảo giác. Chất này được phép lưu hành một thời gian ở Thung lũng Silicon như một thí nghiệm. Nhưng phần lớn thanh niên hippies ở vùng Vịnh San Francisco đều sử dụng nó. Ba thứ, LSD, thiền, và một hành trình qua Ấn Độ, là những yếu tố đã thay đổi vĩnh viễn Jobs. “Tôi không có lời nào để giải thích về ảnh hưởng của LSD đối với tôi, mặc dù vậy, tôi có thể nói đó là một trải nghiệm thay đổi cuộc sống tích cực đối với tôi và tôi rất vui vì đã trải qua trải nghiệm đó” Steve Jobs nói, và sử dụng LSD là “một trong hai hoặc ba điều quan trọng nhất mà ông đã làm trong đời.” Sử dụng LSD là một kinh nghiệm sâu sắc, một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc đời tôi,” Jobs nói. “LSD cho bạn thấy rằng có một mặt khác của đồng xu và bạn không thể nhớ nó khi nó biến mất, nhưng bạn biết điều đó. Nó củng cố ý thức của tôi về những gì quan trọng – tạo ra những thứ tuyệt vời thay vì kiếm tiền, đưa mọi thứ trở lại dòng lịch sử và ý thức của con người nhiều nhất có thể ” như được viết trong sách Walter Isaason về Steve Jobs.
(3)
Tuy nhiên, một lần nữa, thiền thôi không đủ để có khám phá, đặc biệt khám phá lớn. Thiền là điều kiện cần chứ chưa đủ, mà phải có một môi trường văn hóa đượm chất men khoa học, công nghệ, thì lúc đó thiền như một tia lửa chớp đánh vào văn hóa đó để làm hé lộ ra những cái mới. Thiền giúp ta, như nhà sử học Yuval Harari nói, nhìn thấy cái cơ bản, có tính quy luật trong mớ kiến thức, thông tin còn hỗn độn. Vâng, nó sắp xếp trí thức của chúng ta thành nhận thức. Các nhà khoa học phương Tây thường có những Geistesblitz, tia chớp trí tuệ, sau những lúc làm việc căn thẳng, để nhận ra cái mình muốn tìm. Thiền đòi hỏi sự yên tĩnh, sự trở lại với chính mình, thả cho tiềm thức hoạt động sau khi ý thức đã hoạt động. Andrew Wiles, trong việc giải quyết khó khăn chót hết của bài toán cuối cùng của Fermat, tưởng chừng như phải đầu hàng, thì bỏ đi xuống dạo quanh hồ. Và chính trong lúc đó, ông bất chợt đã nhìn thấy lời giải. Đó chính là trong lúc thư giản, tiềm thức của ông trỗi dậy cầm lái con thuyền thay ông, và nhanh chóng đưa ông đến giải pháp. Đó cũng là quy luật chung của rất nhiều khám phá.
Albert Einstein là nhà khoa học nhấn mạnh trực giác nhiều nhất. Nhưng phải hiểu trực giác của ông. Đó không phải là trực giác trong không gian rỗng, mà nó hoạt động trên miếng đất cật lực làm việc, học hỏi của ông. Trực giác tùy thuộc vào trình độ tri thức của con người. Trực giác của một người trong xã hội nông nghiệp khác với trực giác của người sống trong xã hội phát triển. Poincaré nói, trực giác là nguồn khám phá, trong khi logic là phương triện để chứng minh. Einstein cũng có cùng quan điểm. Cho nên, chỉ nhấn mạnh một vế là trực giác mà quên đi môi trường tri thức xung quanh có thể gây sự lẫn lộn. Chẳng phải các dân tộc phương Đông đã thiền và có nhiều trực giác cả nghìn năm nhưng không phát triển được khoa học tự nhiên hay sao? Bỏi vì đơn giản, thiền đã không diễn ra trên mảnh đất có nhiều chất triết học tự nhiên, toán học, thực nghiệm, tự do truy vấn như truyền thống học thuật ở phương Tây.
(4)
Steve Jobs làm việc nhiều hay ít? Nhiều lắm. Ông làm việc cật lực, với tất cả đam mê như giới trẻ của Thung lũng Silicon. Môi trường đó, tuy gồm những người hippies và có lối sống khác thường, điểm chung của tất cả phong trào phản chiến của sinh viên, thanh niên những năm 1960, 70 trên thế giới. Nhưng chỉ phong trào hippies ở Thung lũng Silicon mới có tầm nhìn và đam mê công nghệ, trong khi những trung tâm khác như Frankfurt, Paris hay Tokyo không có, họ chỉ dựa vào các yếu tố chính trị và ý thức hệ. Nhưng tinh thần của thanh niên ở Thung lũng Silicon cho rằng muốn giải phóng mình khỏi sự lệ thuộc, cần phải có công nghệ mới làm công cụ. Và chiếc máy tính cá nhân là biểu tượng của công cụ đó. Thung lũng Silicon là trung tâm đang phát triển khoa học công nghệ. IBM và nhiều đại công ty đã có mặt ở đó. Vùng vịnh vốn có một truyền thống nghiên cứu công nghệ đáng kể, với nhà phát minh Lee de Forest chuyển đến San Francisco từ năm 1911, người chế tạo ống chân không, tiền thân của bóng bán dẫn. Các cơ sở nghiên cứu quân sự đáng chú ý khác trong khu vực Vịnh là Tập đoàn Lockheed (1912), Sân bay Liên bang Moffett (1931), Trạm Không quân Onizuka (1960), v.v. Có thể nói, vùng vịnh đã có không khí công nghiệp hóa đang phát triển mạnh mẽ. Thêm những yếu tố mới kích hoạt động khoa học công nghệ: Nhận thức vai trò quyết định của khoa học công nghệ trong Thế chiến II, cuộc chiến tranh lạnh đang diễn ra, và cuộc chạy đua moonshot bắt đầu sau khi Sputnik được phóng lên quỹ đạo năm 1957, tất cả chi phối rất lớn tinh thần xã hội Mỹ. Đại học Stanford nằm ngay trung tâm. Nikita Khrushchev đã đến thăm khu vực này và tham quan cơ sở nghiên cứu của IBM tại San Jose tháng 9 năm 1959. Charles de Gaulle cũng thăm khu vực này tháng 4 năm 1960, thăm Palo Alto và tham quan trụ sở của Hewlett-Packard tại Khu công nghiệp Stanford, được Bill Hewlett đích thân hưỡng dẫn. (Xem thêm Bí mật Thung lũng Silicon/).

“i-Đến, i-Nhìn, i-Chiến thắng”
Steve Jobs, thuyền trưởng huyền thoại của công ty máy tính Apple. Năm 1986, giữa chừng một buổi thuyết minh trước nhóm NeXT, công ty mới sau khi Jobs rời khỏi Apple, Jobs thình lình dừng lại và nói: “Này mọi người, hãy làm việc cả đêm và cuối tuần cho đến Giáng Sinh nhé, sau đó chúng ta sẽ có một tuần nghỉ lễ.” Một kỹ sư cuối phòng lên tiếng một cách nhẹ nhàng: “Steve ơi, chúng tôi đang luôn luôn làm việc cả đêm và cuối tuần rồi”. Ông làm việc cật lực ngày đêm đấy chứ! (Nguồn: Doug Menuez, Fearless Genius)
Tuy có nhiều công ty lớn ở vùng vịnh (San Francisco) như thế, nhưng thanh niên ở Thung lũng Silicon quyết tâm lập nghiệp riêng cho mình mà không phụ thuộc và trở thành công nhân ăn lương thuần túy. Đó là tinh thần khởi nghiệm độc lập, tự do, để tự sáng tạo. Đó chính là những đóng góp lớn nổi bật của họ. Câu nói của JF Kennedy đã được đổi lại: “Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn. Bạn hãy tự làm lấy”, nghĩa là “Do your own thing” hay chính là “Start your own business”, tức hãy tự lập, làm chủ doanh nghiệp mình. Ngoài ra, Thung lũng Silicon là vùng đất của những con người có động cơ mạnh mẽ, giúp đỡ lẫn nhau, ai đến đó một lần thì không thể quay về. Sam Altman, CEO of OpenAI, từng nhận xét (2014):
Trạng thái tự nhiên của một công ty khởi nghiệp là chết; hầu hết các công ty khởi nghiệp cần nhiều phép màu trong những ngày đầu để thoát khỏi số phận này. Nhưng mật độ và phạm vi rộng lớn của mạng lưới Thung lũng Silicon đôi khi cho phép các công ty khởi nghiệp thoát khỏi lưỡi hái tử thần.
Thung lũng Silicon hoạt động hiệu quả vì có mật độ người làm việc trong các công ty khởi nghiệp rất cao và họ có xu hướng giúp đỡ lẫn nhau. Các trung tâm công nghệ khác cũng có điều này nhưng đây là một trường hợp điển hình của định luật Metcalfe – hiệu quả của một mạng lưới tỷ lệ thuận với bình phương số lượng các nút trong mạng lưới đó. Thung lũng Silicon có số lượng nút trong mạng lưới nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác.

Logo đầu tiên của Apple computer do Steve Jobs và Ronald Wayne thiết kế năm 1976, với hình ảnh Isaac Newton ngồi dưới gốc cây táo, với trái táo lủng lẳng trên đầu tượng trưng cho sự khôn ngoan, sáng tạo. Nó được lấy cảm hứng từ một câu nói của William Wordsworth, cũng được khắc vào logo: “Newton… một trí tuệ mãi mãi du hành qua những biển cả lạ lùng của tư duy” (“Newton… a mind forever voyaging through strange seas of thought”), cùng với dòng chữ ‘Apple Computer Co.’ trên một dải ruy băng trang trí khung hình.
Cuộc cách mạng máy tính diễn ra khá nhanh, trong khoảng ba thập niên. Vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, Stewart Brand và những người khác lưu ý rằng, máy tính chủ yếu là các máy tính lớn (mainframe), bị khóa trong tầng hầm của các trường đại học và tập đoàn, được bảo vệ cẩn thận bởi các kỹ thuật viên. Đến đầu những năm 1980, máy tính đã trở thành công cụ để bàn cho cá nhân, phổ biến và mang lại sức mạnh và sự thu hút lớn. Chỉ cần nhìn vào chính những cỗ máy đó, người ta sẽ thấy rằng những thiết bị mà các nhà lãnh đạo chính phủ và ngành công nghiệp từng tìm cách quản lý thế giới đã bị vuột khỏi tay họ. Họ không còn độc quyền. Những cỗ máy khổng lồ của đế chế đã được thu nhỏ và trao cho cá nhân, và do đó được biến đổi thành những công cụ mà cá nhân có thể sử dụng để cải thiện cuộc sống của chính mình. (Fred Turner)
Những năm 1990, người Mỹ đã chuyển sang sử dụng máy vi tính, một số có kích thước bằng máy tính xách tay, tất cả đều dành cho người dùng cá nhân, bất kể vị thế của họ trong tổ chức. Những cỗ máy mới này có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ vượt xa cả những phép tính phức tạp mà máy tính kỹ thuật số ban đầu được chế tạo. Chúng trở thành thiết bị liên lạc và được sử dụng để soạn thảo tiểu thuyết và bảng tính, hình ảnh và biểu đồ. Được kết nối qua dây điện thoại và cáp quang, chúng cho phép người dùng gửi tin nhắn cho nhau, tải xuống hàng loạt thông tin từ các thư viện trên khắp thế giới và xuất bản suy nghĩ của riêng họ trên Mạng lưới Toàn cầu (World Wide Web). Bằng tất cả những cách này, những thay đổi trong công nghệ máy tính đã mở rộng phạm vi sử dụng máy tính và các loại quan hệ xã hội mà chúng có thể tạo điều kiện thuận lợi. (Fred Turner)
(5)
Văn hóa đối lập (counterculture) của vùng vinh được “định chế hóa” bởi những trang báo Danh mục Toàn bộ Trái đất – The Whole Earth Catalog – được Stewart Brand xuất bản cuối năm 1968. Năm đó cũng là đỉnh cao của phong trào dân quyền và chiến tranh ở Việt Nam. Danh mục đã ảnh hưởng lên văn hóa đối lập vùng vịnh San Francisco sâu sắc, truyền bá công nghệ mới vào ý thức giới trẻ phản kháng, và kết nối nhiều tiểu cộng đồng lại với nhau. Danh mục đưa ra tầm nhìn về một trật tự xã hội mới – một trật tự tránh xa các định chế hiện hữu để ủng hộ việc trao quyền cho cá nhân, đạt tới bằng việc tiếp thu các kỹ năng và công cụ, bao gồm quyển sách Điều khiển học của Norbert Wiener và máy tính có thể lập trình Hewlett-Packard 9100A. “Một thế giới của sức mạnh cá nhân và thân thiện đang phát triển – sức mạnh của cá nhân để thực hiện giáo dục của chính mình, tìm cảm hứng của riêng mình, định hình môi trường của chính mình và chia sẻ cuộc phiêu lưu của mình với bất cứ ai quan tâm” như trong số Danh mục đầu tiên viết. Brand là người đã đặt hai từ “cá nhân” và “máy tính” vào cùng một câu và giới thiệu khái niệm này với thế giới. Ông không chỉ là một thành viên của cộng đồng trực tuyến mở đầu tiên trên thế giới, WELL; ông còn là đồng sáng lập nó. Trong suốt cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Brand và các thành viên khác của mạng lưới, bao gồm Kevin Kelly, Howard Rheingold, Esther Dyson và John Perry Barlow, đã trở thành một trong những người phát ngôn được trích dẫn nhiều nhất cho một tầm nhìn văn hóa đối lập về Internet. Năm 1993, tất cả họ đã cùng nhau tạo ra tạp chí Wired , tạp chí đã khắc họa thế giới kỹ thuật số đang nổi lên một cách mang tính cách mạng hơn bất kỳ tạp chí nào khác .

Nhân vật Stewart Brand, “nhà truyền giáo” huyền thoại, “nhà tiên tri được yêu thích nhất Thung lũng Silicon” của khoa học, công nghệ và tầm nhìn cho xã hội tương lai ở Thung lũng Silicon, cũng như làm công việc kết nối các nhóm lại. Ông vẫn còn đang sống (87t) trên một chiếc thuyền 1912 có tên Mirene tại San Francisco. “Tôi nhìn ở ông như một người mà công việc cả đời là làm cho mọi người nhìn thế giới theo một cách khác” như nhà quản lý TED Chris Anderson nói. (Ảnh của The New York Times, 2026)
Danh mục có thể được xem là Encyclopédie của Diderot cho cộng đồng hippies, hackers, hobbyists và những người muốn sống trở-về-nguồn. Danh mục là “internet trước internet. Đó là cuốn sách của tương lai. Đó là một “trang web in” (John Markoff). Danh mục Toàn bộ Trái đất đã thay đổi cộng đồng thung lũng Silicon, theo cách tương tự như Google đã thay đổi thế giới: nó khiến mọi người nhìn thấy nhau.

Hai trang của Danh mục Toàn bộ Trái đất. Ra đời mùa thu năm 1968, tạp chí chỉ có 1.000 bản được in trong số đầu – nhưng cuối cùng sẽ bán được 2.5 triệu bản.
John Markoff, tác giả của quyển sách What the Dormouse said, trong dịp kỷ niệm tạp chí Danh mục 50 năm, đã viết một bài bình luận đăng trên tờ Thời báo Los Angeles, trong đó ông gọi Danh mục là “Công cụ tìm kiếm của Google thời đó”. Brand đã nhìn thấy “Trái đất toàn bộ” mấy thập niên trước. Brand nói, trong tâm trí, ông có “Diderot và Encylopédie và ý tưởng Khai sáng” nhằm truyền bá kiến thức cho một xã hội tương lai. Theo ông, “Bạn không thể thay đổi bản chất con người, nhưng bạn có thể thay đổi công cụ, bạn có thể thay đổi kỹ thuật.” Và bằng cách đó “bạn có thể thay đổi nền văn minh”. Brand và những người khác hình dung họ khởi động một cuộc cách mạng ý thức – với các công cụ cá nhân để xây dựng các cộng đồng văn hóa sẽ thay đổi tâm trí của nước Mỹ chính thống.

Lễ hội âm nhạc Woodstock, được tổ chức vào tháng 8 năm 1969 tại Bethel, New York, quy tụ khoảng 400.000 người, thường được coi là đỉnh cao của văn hóa giới trẻ thập niên 1960, tượng trưng cho khát vọng tự do, hòa bình và thay đổi xã hội của một thế hệ trong bối cảnh biến động chính trị. Phát biểu khai mạc là Guru Swami Satchidananda, ông nói: “Và tương lai của cả thế giới nằm trong tay các bạn. … ở đây, phương Đông đã đến với phương Tây.”
Trong Diễn văn Stanford năm 2005 nổi tiếng – chỉ kéo dài khoảng 15 phút và được mười triệu người theo dõi – Steve Jobs nói về ý nghĩa của Toàn bộ Danh mục:
“Toàn bộ danh mục Trái đất là một trong những cuốn kinh thánh thuộc thế hệ của tôi, nó giống như Google ở dạng bìa mềm, 35 năm trước khi Google xuất hiện. Đó là lý tưởng chủ nghĩa (idealistic), và tràn ngập các công cụ gọn gàng và các khái niệm tuyệt vời.”
Trên bìa sau số cuối cùng của Danh mục có ghi mấy chữ như nhắn nhủ với những người của văn hóa đối lập: “Stay hungrig. Stay foolish” – Hãy sống khao khát. Hãy sống dại khờ. Dại khờ đừng quan tâm đến thế giới xung quanh để miệt mài theo đuổi mục tiêu và niềm tin của mình cho đến cùng. Đó cũng chính là những lời cuối cùng trong diễn văn Steve Jobs như khẩu hiệu sống ông muốn dành cho sinh viên tốt nghiệp – không chỉ của Đại học Stanford – như một cảm hứng cô đọng, đúng theo lý tưởng ông và các hippies đã từng sống.

Số cuối cùng năm 1971 của Danh mục Toàn bộ Trái đất. Trên đầu là những lời bất hủ “Stay hungrig. Stay foolish”.
Tóm lại, Steve Jobs không vươn lên như cá nhân riêng lẻ trong một không gian trống trải hay một nền văn hóa thiếu nhiều thành tố quan trọng của khoa học. Thiền giúp ông có cái nhìn sáng sủa, sâu sắc, và qua những giờ phút tĩnh lặng đó trực giác nổi lên. Ông và bạn bè ông đều là những đứa con của vùng đất đang vươn lên trên một nền bệ đỡ khoa học thành trung tâm trác việt về công nghệ cũng như đổi mới sáng tạo của thế giới.
Khi Steve Jobs qua đời, tờ The New York Times đã trích dẫn một câu nói của một Twitter (Matt Galligan) về những gì ông đã làm cho xã hội:
“Bạn đã chạm vào một thế giới công nghệ xấu xí và làm cho nó trở nên đẹp đẽ.” (“You touched an ugly world of technology and made it beautiful.”)
Năm 1995 trong một số đặc biệt của tạp chí TIME có tựa đề “Chào mừng đến với không gian mạng” (Welcome to Cyberspace), Stewart Brand, trong bài viết dưới tựa đề: “Chúng ta nợ những người theo phong trào Hippie tất cả những điều đó “, đã khẳng định.
“Hãy quên đi các cuộc biểu tình phản chiến, Woodstock, thậm chí cả kiểu tóc dài. Di sản thực sự của thế hệ những năm 60 chính là cuộc cách mạng máy tính.”
Giữa lúc Hoa Kỳ bị sa lầy trong cuộc chiến Việt Nam những năm 1960, 70, bị thế giới chống đối dữ dội, thì một cuộc cách mạng máy tính âm thầm lại xuất hiện trên mảnh đất khoảng 4.802 km vuông ở Bắc California, hơn gấp đôi diện tích của thành phố Hồ Chí Minh, kết quả của những hoạt động trí tuệ tự phát và kiên trì của giới hippies, bù đắp những mất mát vật chất và chính trị, có tầm ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, cho đến hôm nay, và có lẽ cho tương lai.
Câu chuyện cuộc cách mạng máy tính rất quy mô và phong phú. Hiểu nó để hiểu làm thế nào thế giới như hôm nay, và tòa nhà công nghệ mà những thế hệ trước đã xây dựng hình thành như thế nào. Hẹn gặp lại anh chị trong dịp khác.
Nguyễn Xuân Xanh
Xem thêm bài trước:
Khoa học – Biên giới vô tận (Vannevar Bush) 13 Tháng Sáu, 2026
Tham khảo
[1] Isaacson, Walter, Steve Jobs. Simon & Schuster, 2021.
[2] Turner, Fred, From Counterculture to Cyberculture: Stewart Brand, the Whole Earth Network, and the Rise of Digital Utopianism. University of Chicago Press, 2008.
[3] Markoff, John, What the Dormouse Said: How the Sixties Counterculture Shaped the Personal Computer Industry. Penguin Publishing Group, 2006.
[4] Nguyễn Xuân Xanh, Bản thảo về Văn hóa đối lập và cuộc cách mạng máy tính của Thung lũng Silicon.