Descartes Một thoáng

by , under Uncategorized

DESCARTES Một thoáng

Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại

Cogito, ergo sum

(Je pense, donc je suis)

René Descartes (31. 3, 1596 ở La Haye-en-Touraine, Pháp – 11. 2,1650 ở Stockholm, Thụy Điển, ∼ 54t). Bức chân dung (sơn dầu 78 x 69 cm) nổi tiếng của René Descartes được trưng bày tại Bảo tàng Louvre, được họa sĩ Frans Hals (1581/85 – 1666), người thuộc thời kỳ Hoàng kim của hội họa Hà Lan, thực hiện vào khoảng năm 1649.

 

Dẫu có học thuộc lòng tất cả các lập luận của Plato và Aristotle, chúng ta sẽ không thể trở thành triết gia hơn trừ khi chúng ta có thể đưa ra phán đoán vững chắc của riêng mình về bất kỳ vấn đề nào. Chúng ta thực sự sẽ học được lịch sử nhưng không thể làm chủ được một ngành khoa học.

–Descartes (Quy tắc thứ 3, Philosophical Writings of Descartes).

René Descartes thường được coi là người sáng lập triết học hiện đại, và tôi nghĩ điều đó là đúng. Ông là người đầu tiên có năng lực triết học cao mà quan điểm chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi vật lý và thiên văn học mới. Mặc dù đúng là ông vẫn giữ nhiều tư tưởng kinh viện, nhưng ông không chấp nhận nền tảng do những người tiền nhiệm đặt ra, mà nỗ lực xây dựng một công trình triết học hoàn chỉnh từ đầu. Điều này chưa từng xảy ra kể từ thời Aristotle, và là dấu hiệu của sự tự tin mới mẻ xuất phát từ sự tiến bộ của khoa học. Có một sự tươi mới trong tác phẩm của ông mà không thể tìm thấy ở bất kỳ nhà triết học lỗi lạc nào trước đó kể từ Plato. Tất cả các nhà triết học trung gian đều là giáo viên, với ưu thế chuyên môn thuộc về nghề nghiệp đó. Descartes viết, không phải với tư cách là một giáo viên, mà là một nhà khám phá và thám hiểm, mong muốn truyền đạt những gì ông đã tìm thấy. Phong cách của ông dễ hiểu và không cầu kỳ, hướng đến những người thông minh trên thế giới hơn là học trò. Hơn nữa, đó là một phong cách xuất sắc phi thường. Thật may mắn cho triết học hiện đại khi người tiên phong ấy sở hữu khiếu văn chương đáng ngưỡng mộ. Những người kế thừa ông, cả ở lục địa châu Âu và ở Anh, cho đến Kant, đều giữ được nét không chuyên nghiệp của ông, và một số người trong số họ vẫn giữ được phần nào giá trị văn phong của ông.

― Bertrand Russell, Lịch sử triết học phương Tây

Những trận chiến duy nhất (thật sự) mà Descartes từng tham gia là những trận chiến chống lại sự nhầm lẫn và sai lầm (của lý tính); những cuộc phiêu lưu của ông là những cuộc phiêu lưu về tinh thần; những chiến thắng của ông là sự chinh phục chân lý.

— Alexandre Koyré, Introduction trong Elizabeth Anscombe et al.

Lời nói đầu

(1) Dưới đây là những câu chuyện kể của Descartes được giới học giả xem là rất “có duyên”, và ông là người kể chuyện có tài, thuyết phục, từ sự học ở trường lúc ông còn trẻ đến những đề tài của triết học, khoa học, rất truyền cảm hứng. Những chuyện kể chứa đựng nhiều kinh nghiệm sống và nhận thức về con đường tìm chân lý độc đáo của ông mang đậm dấu ấn của ông. Những chuyện kể đó, ngay cả tác phẩm Discourse on the Method (Luận về phương pháp), hay những tác phẩm khác, không khác gì Cartesian confessions, như học giả Alexandre Koyré gọi. René Descartes được các nhà triết học và sử học công nhận rộng rãi là người khởi xướng “bước ngoặt nhận thức luận” trong triết học phương Tây. Husserl mô tả hiện tượng học siêu nghiệm của mình như một dạng “tân Descartes”. Ông cho rằng bất cứ ai muốn trở thành một nhà triết học nghiêm túc đều phải làm như Descartes đã làm: rút lui vào nội tâm và tìm cách lật đổ tất cả các niềm tin khoa học và triết học trước đó và xây dựng lại mới. Có những nét tương đồng với Kant. Nếu Descartes tiến hành cuộc cách mạng tư duy và đặt nền tảng cho khoa học hiện đại, dưới ân điển của đức tin, thì Kant cũng tiến hành cuộc cách mạng của Denkart, cách tư duy, muốn đặt siêu hình học trên nền tảng khoa học.

(2) Tôi muốn giới thiệu thêm về cartesian persona để hiểu con người đàng sau tấm màn triết học uyên bát đã ảnh hưởng lên triết học phương Tây hiện đại. Tư tưởng của Descartes diễn ra trên cấp độ tôn giáo-triết học-khoa học-toán học và nhận thức luận. Ở Hoa Kỳ, René Descartes là một phần không thể thiếu trong các lãnh vực triết học, khoa học nhận thức và lịch sử khoa học của giáo dục đại học Mỹ. Ông được trình bày như “cha đẻ của triết học hiện đại”, nổi tiếng với mệnh đề cogito, ergo sum (“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”). Descartes sống trong Thế kỷ được gọi là của các Genius, sau Galilei 32 năm và trước Newton 47 năm. Đó là thế kỷ các dân tộc châu Âu trên đường tiến lên làm cuộc cách mạng khoa học đầu tiên rất vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Tính chất của thế kỷ này phản ánh về nhiều mặt trong con người của Descartes, rằng ông vừa là nhà triết học, cũng vừa là nhà khoa học, toán học. Đặc biệt toán học có ảnh hưởng lớn lên tư duy triết học của ông mà nhiều học giả đã mổ xẻ. Đưa Descartes vào giáo dục đại học có lẽ là một bước bổ ích cho mọi quốc gia. Descartes giúp sinh viên có tầm nhìn về những thời đại trước đó, Trung cổ và Hy lạp, cũng như hướng về cuộc cách mạng khoa học và ảnh hưởng to lớn của nó đối với nhân loại. Marx là người thích sử dụng câu châm ngôn nổi tiếng của ông: “De omnibus dubitandum” (mọi thứ đều phải bị nghi ngờ), như một nguyên lý của mọi nhà triết học. Điều này cũng phù hợp với châm ngôn của Einstein đối với khoa học: “Điều quan trọng là người ta không ngừng đặt câu hỏi.Ông không bao giờ chấp nhận những chân lý dù đã được chấp nhận từ hàng thế kỷ. Đó cũng chính là tinh thần hoài nghi Cartesian. Xem mục “Người đi tìm chân lý” dưới đây.

Trước khi bắt đầu, tôi xin mượn những lời nhắn nhủ sau đây của Descartes đã được gửi đến bạn đọc của tác phẩm Nguyên tắc Triết học của ông:

Tôi cũng muốn bổ sung thêm một lời khuyên về cách đọc cuốn sách này, đó là trước tiên tôi muốn người đọc đọc nhanh toàn bộ cuốn sách, như một cuốn tiểu thuyết, không cần phải tập trung quá nhiều hay dừng lại ở những khó khăn gặp phải, chỉ để có cái nhìn tổng quan về các vấn đề tôi đã đề cập. Và sau đó, nếu người đọc thấy rằng những vấn đề này đáng được xem xét kỹ hơn, và tò mò muốn biết nguyên nhân của chúng, thì có thể đọc lại cuốn sách lần thứ hai để chú ý đến trình tự lập luận của tôi.

— Descartes, “Letter from the Author,” The Principles of Philosophy

để mong bạn đọc cũng hãy đọc như “những trang tiểu thuyết”, hoặc đọc theo chủ đề, chỗ nào chưa hiểu thì có thể đọc lại sau đó, hoặc xem đó là tài liệu. Nhưng dù sao tôi cũng hy vọng bạn đọc sẽ cảm nhận được Descartes là ai, cảm nhận được cuộc Khai sáng Cartesian, và bức tranh thế kỷ XVII của thời đại ông.

Cũng xin bạn đọc tham khảo thêm tác phẩm dày công nghiên cứu “Chat với Descartes” của học giả uyên bác Bùi Văn Nam Sơn.

Xin cảm ơn.

I

Từ thuở nhỏ tôi đã được nuôi dưỡng bằng sách vở. (Descartes, Luận về phương pháp, Chương I, Đoạn 4/5)

Tuy nhiên, tôi vẫn luôn trân trọng những bài học được làm ở trường. Tôi biết rằng các ngôn ngữ (ý nói Latin, Hy Lạp) học ở đó rất cần thiết để hiểu các tác phẩm của người xưa; rằng sức hấp dẫn của truyện ngụ ngôn đánh thức tâm trí, trong khi những chiến công đáng nhớ được kể trong sử sách nâng cao tinh thần và giúp mài giũa phán đoán nếu đọc một cách cẩn trọng; rằng đọc những cuốn sách hay giống như trò chuyện với những người lỗi lạc nhất của các thời đại trước – quả thực, một cuộc trò chuyện được chuẩn bị kỹ lưỡng, trong đó các tác giả chỉ tiết lộ cho chúng ta những suy nghĩ hay nhất của họ; rằng hùng biện có sức mạnh và vẻ đẹp vô song; rằng thơ ca có sự tinh tế và ngọt ngào quyến rũ; rằng toán học chứa đựng một số phương pháp rất tinh tế, vừa giúp thỏa mãn sự tò mò, vừa thúc đẩy tất cả các ngành nghệ thuật và giảm bớt công sức của con người; rằng các tác phẩm về đạo đức chứa đựng nhiều lời dạy và lời khuyên hữu ích về đức hạnh; rằng thần học hướng dẫn chúng ta cách lên thiên đường; rằng triết học cung cấp cho chúng ta phương tiện để nói một cách thuyết phục về bất kỳ chủ đề nào và giành được sự ngưỡng mộ của những người ít học; rằng luật học, y học, và các ngành khoa học khác mang lại vinh dự và giàu có cho những người trau dồi chúng, và cuối cùng, điều tốt là nên nghiên cứu tất cả các lĩnh vực này, ngay cả những lĩnh vực đầy mê tín và sai lầm, để biết giá trị thực sự của chúng và đề phòng bị chúng lừa dối.

— Descartes, từ Luận về phương pháp, Discourse on the Method (1637)

Đoạn trích dẫn ở trên về sự học là khởi đầu câu chuyện mà tôi muốn kể, được Descartes viết trong Luận về phương pháp (vận dụng lý trí đúng đắn và tìm kiếm chân lý trong khoa học) – Discourse on the Method (of rightly conducting one’s reason and seeking the truth in the sciences) – được xuất bản năm 1637, một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông, và là quyển sách đầu tiên, sau Quy tắc hướng dẫn trí tuệ bẩm sinh (Regulae ad directionem ingenii) là tác phẩm không bao giờ hoàn thành và chỉ được xuất bản sau khi ông mất. Luận về phương pháp là một tác phẩm dễ đọc đối với người thường, được ông viết không bằng tiếng Latinh, mà bằng tiếng Pháp để mọi người có thể đọc được và học cách suy nghĩ độc lập của ông, “ngay cả phụ nữ cũng có thể hiểu được”, chứa đựng những suy ngẫm của Descartes về những năm đầu đời trong quá trình giáo dục, đưa ra một “bộ quy tắc đạo đức tạm thời” cho cách ứng xử trong cuộc sống, và thảo luận về một số vấn đề khoa học gây tranh cãi trong các lĩnh vực từ vũ trụ học đến sinh lý học. Nó gây ấn tượng rất mạnh lên tôi về sự học. Ông tin rằng mọi người đều có thể phân biệt đúng sai bằng “ánh sáng tự nhiên của lý tính”. Nhưng có lẽ phần nổi tiếng nhất của Luận về phương pháp là Phần IV, nơi Descartes đưa ra một bản tóm tắt rõ ràng về quan điểm siêu hình của mình, và giới thiệu câu nói nổi tiếng Je pense, donc je suis – ‘Tôi đang suy nghĩ, do đó tôi tồn tại’.

Ông đã áp dụng cách tư duy về phương pháp luận vào ba lãnh vực Quang học, Khí tượng học và Hình học. Ở đây ông đã trình bày hình học giải tích của mình. Ông cũng hoàn thiện hệ thống do nhà toán học François Viète (1540-1603) phát minh để biểu diễn các đại lượng số đã biết bằng a, b, c, …, các ẩn số bằng x, y, z, …, và bình phương, lập phương, và các lũy thừa khác bằng các chỉ số số học, như x², x³, …, điều này làm cho các phép tính đại số dễ dàng hơn nhiều so với trước đây. Khi ở Bohemia năm 1619, ông cũng đã phát minh ra hình học giải tích, một phương pháp giải quyết các vấn đề hình học bằng đại số và các vấn đề đại số bằng hình học. Hệ tọa độ để biểu diễn vị trí của một điểm được ông đưa ra, được gọi quen thuộc là tọa độ Cartesian. Tên ông René Descartes được la tinh hóa thành Renatus Cartesius, từ đó thành tĩnh tự Cartesian. Tác phẩm La Géométrie của ông bao gồm việc áp dụng đại số vào hình học, từ đó chúng ta có hình học Cartesian ngày nay. Hệ thống Cartesian vừa có nghĩa hệ thống tọa độ trong hình học, vừa là hệ thống tư tưởng của Descartes. Tương tự các từ ghép trở thành quen thuộc như Cartesian doubt (scepticism), Cartesian dualism, Cartesian Meditations (Edmund Husserl), Cartesian linguistics (Noam Chomsky), Cartesian rationalism, Cartesian product of graphs, … có đến cả trăm từ ghép như thế.

GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG DÒNG TÊN

Đoạn văn được trích dẫn ở đầu bài mô tả trải nghiệm học của Descartes ở trường dòng Tên Collège Royal Henry-Le-Grand tại La Flèche nơi ông được gia đình gửi tới năm 1606, lúc ông mới khoảng 10 tuổi, và học ở đây cho tới 1614, nghĩa là tám năm. Thế kỷ XVII, Collège là cơ sở giáo dục nội trú do các giáo hội (đặc biệt là Dòng Tên) quản lý. Trường tiếp nhận học sinh từ khoảng 10–11 tuổi cho đến khi trưởng thành (18–19 tuổi), tương đương với việc gộp cả cấp 2, cấp 3 và những năm đại học đại cương ngày nay, trong khi hiện đại Collège là trường trung học cơ sở (cấp 2, dành cho học sinh từ 11 đến 15 tuổi).

Trường La Flèche được thành lập năm 1604 bởi Henry IV (trị vì 1589–1610). Tại La Flèche, một trong những trường nội trú danh tiếng và nghiêm khắc nhất châu Âu, được thiết kế để đào tạo thanh niên cho các nghề nghiệp trong chính phủ, quân đội và tư pháp, với 1.200 thanh niên được đào tạo cho các nghề nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, tư pháp và quản lý chính phủ. Đấy là ngôi trường mà Henry IV đã giao phó cho những nhà giáo dục dòng Tên rèn luyện giới trẻ quý tộc Pháp. Trường cung cấp một nền giáo dục toàn diện và có cấu trúc dựa trên Ratio Studiorum (Chương trình học) của dòng Tên, được công bố năm 1599 bởi các học giả dòng Tên tại Collegio Romano. Chương trình gồm có học cổ điển, đào tạo chuyên sâu về tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, thi ca và hùng biện; triết học: nhấn mạnh vào triết học Aristoteles truyền thống, chủ nghĩa kinh viện; toán học và khoa học: số học, hình học, thiên văn học, âm nhạc và vật lý. Hoạt động ngoại khóa: Diễn xuất, âm nhạc, khiêu vũ, cưỡi ngựa và đấu kiếm. Đây là một trong những hệ thống và tiêu chuẩn hóa đầu tiên trong lịch sử phương Tây.  Về toán, Descartes được học sách của Christopher Clavius (1538–1612) là một nhà toán học, thiên văn học và nhà giáo dục người Đức thuộc dòng Tên, có ảnh hưởng rất lớn. Được mệnh danh là “Euclid của thế kỷ XVI”. Clavius nổi tiếng nhất với vai trò là kiến ​​trúc sư chính của lịch Gregor hiện đại và là người đặt nền móng cho toán học trong chương trình giảng dạy của dòng Tên. Clavius đã từng gặp Galilei, được xem viễn vọng kính, và bày tỏ sự ủng hộ những gì Galilei đã quan sát trên bầu trời năm 1609, những điều đã gây chấn động châu Âu lúc đó.

Sự khác biệt về tôn giáo ở châu Âu thực tế đã dẫn đến những kết quả tích cực trong giáo dục. Các tu sĩ dòng Tên đã chấp nhận thách thức bằng cách thiết lập các trường đào tạo nhân lực cao cấp trên quy mô lớn để phục vụ sự phát triển Kitô giáo trên diện rộng. Điều đáng chú ý là các trường dòng Tên không chỉ nhấn mạnh việc giảng dạy tôn giáo và đạo đức mà còn kiên quyết đưa vào chương trình giảng dạy những kiến ​​thức hữu ích như toán học và vật lý. Nhiều nhà tư tưởng vĩ đại của thời đại, bao gồm những nhân vật kiệt xuất của thế kỷ XVII như Peiresc, Descartes, Torricelli và Mersenne, và các nhà văn thời Khai sáng như Condorcet, Helvétius và Diderot, đều theo học tại các trường này. Bằng cách này, các tu sĩ dòng Tên đã đóng góp đáng kể vào kiến ​​thức hữu ích thời bấy giờ, ngay cả khi những đổi mới mà các cựu học sinh của họ tạo ra không phải lúc nào cũng hợp khẩu vị của họ. Các trường dòng Tên thậm chí còn cạnh tranh với Đại học Padua danh tiếng, một cuộc cạnh tranh dẫn đến việc các tu sĩ dòng Tên bị trục xuất khỏi Cộng hòa Venice. Tại nước Pháp theo đạo Công giáo, sự cạnh tranh tôn giáo cũng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các trường dòng Tên và trường phái Jansenist. (Mokyr, 129)

 

Trường La Flèche 1695

Loại giáo dục mà Descartes hưởng chính là giáo dục khai phóng (liberal education) được phổ biến rộng rãi tại các đại học thời Trung cổ từ thế kỷ XII, XIII trở đi. Sinh viên học rộng, để biết tư duy, để có văn hóa cao hơn. Họ học ngữ văn (trivium) và khoa học, toán học (quadrivium). Nó khác với cái học trả bài và để thi làm quan. Họ học để khám phá cái mới, để biết phản biện và bảo vệ quan điểm của mình. Thực tếm, giáo dục của trường La Flèche đã biến Descartes từ một Tabula rasa – tờ giấy trắng – thành một nhà thông thái. Giáo dục của các tu sĩ Dòng Tên đã giúp Descartes giữ vững đức tin Công giáo đến suốt đời; nhưng ông lại chọn sống phần lớn cuộc đời trưởng thành không phải ở Pháp công giáo mà ở Hà Lan, quốc gia theo đạo Tin lành nhưng chấp nhận nhiều cộng đồng tôn giáo khác. Điều đó, mặc dù trong đạo quân chiến đấu cho Công giáo trong Chiến tranh Ba mươi năm có nhà triết học quan trọng nhất của thế kỷ XVII, René Descartes. Trong thời gian phục vụ trong quân đội quân Công giáo của Hoàng đế La Mã (1619-1621), Descartes đã có được niềm tin vững chắc vào sứ mệnh của mình với tư cách là một triết gia. Với sức khỏe kém, ông không có tố chất là một người lính giỏi và không làm được điều gì đặc biệt trong binh nghiệp. Vì vậy, “những trận chiến duy nhất (thật sự) mà Descartes từng tham gia là những trận chiến chống lại sự nhầm lẫn và sai lầm (của lý tính); những cuộc phiêu lưu của ông là những cuộc phiêu lưu về tinh thần; những chiến thắng của ông là sự chinh phục chân lý.” (Koyré, Introduction trong Elizabeth Anscombe et al.)

Descartes sinh ra ở La Haye vào ngày 31 tháng 3 năm 1596, là con của Joachim Descartes và Jeanne Brochard. Ông là một trong số những người con còn sống (hai anh chị em ruột và hai anh chị em cùng cha khác mẹ). Gia đình ông thuộc tầng lớp quý tộc và là một trong những gia tộc lâu đời nhất trong vùng. Những người đàn ông trong gia tộc đã theo nghề chiến binh cho đến thời cha ông, Joachim, người đã giành được chức vụ Cố vấn cho Nghị viện Bordeaux. Mẹ của Descartes qua đời sau khi con trai bà chào đời, chắc chắn là do bệnh lao. Từ bà, ông thừa hưởng “cơn ho khan và nước da xanh xao mà ông vẫn giữ cho đến khi hơn hai mươi tuổi”. Các bác sĩ chắc chắn rằng ông sẽ chết trẻ. Descartes là đứa trẻ hay hỏi, khiến bố gọi ông là “nhà triết học của ông”. (Paul Valéry)

Trước khi bước vào Collège Royal Henry-Le-Grand ở La Flèche, Descartes không theo học bất kỳ trường học chính quy nào. Vì là một đứa trẻ yếu ớt và hay ốm, nên việc giáo dục ban đầu của ông diễn ra hoàn toàn tại nhà dưới sự hướng dẫn của các gia sư riêng. Hành trình học tập chính thức của ông bắt đầu khi ông vào nội trú tại trường La Flèche mới thành lập ở tỉnh Anjou. Tại La Flèche, ông được ưu đãi ngủ nướng đến 11 giờ sáng, thay vì dậy lúc 5 giờ sáng như những học sinh khác, một thói quen mà ông duy trì cho đến năm ông qua đời. Trong những năm cuối ở trường, ông học triết học tự nhiên (natural philosophy), môn học được phổ biến khắp đại học châu Âu, đặc biệt từ thế kỷ XIII trở đi, siêu hình học và đạo đức học. Ông rời trường La Flèche College năm 1614. Năm 1615 vào Đại học Poitiers, nơi một năm sau ông nhận được bằng Cử nhân và Giấy phép về Luật Giáo hội và Dân sự.

Sau La Frèche, và sau một thời gian ngắn sống ở Paris (ông cũng có thể đã học y khoa, nhưng chưa bao giờ đủ điều kiện trở thành bác sĩ), và năm 20 tuổi, ông chuyển đến Paris. Tại đó, ông viết luận văn đầu tiên của mình về âm nhạc cho tu sĩ dòng Minim và nhà bác học Marin Mersenne (1588–1648), người sau này trở thành người đối thoại trí tuệ suốt đời của ông. Hai năm sau, vào năm 1618, ông đến Breda, nơi ông tham gia một khóa học toán học thực tiễn về kỹ thuật quân sự và gia nhập quân đội Hà Lan dưới quyền Maurice của Nassau, dường như với vai trò là một bác sĩ hơn là một chiến binh. Trong ba năm, ông đi khắp châu Âu với tư cách là “lính đánh thuê” trong Chiến tranh Ba mươi năm cho đến khi xuất ngũ và bắt đầu du lịch một mình. Sau đó, Descartes trở về quê hương và, vào năm 1623, ông bán phần tài sản thừa kế của cha mẹ, mua trái phiếu có tiền lãi đủ để nuôi sống bản thân một cách khiêm tốn nhưng thoải mái cho đến hết đời, và trở lại Paris. Ngay cả Paris vĩ đại dường như cũng quá yên tĩnh đối với ông và, vào năm 1628, ông chuyển đến trung tâm nhộn nhịp nhất châu Âu thời bấy giờ – Amsterdam, nơi ông nói rằng giữa đám đông, ông tìm thấy sự tĩnh lặng và tự do cho công việc trí tuệ đầy tham vọng của mình. Những cuộc phiêu lưu trước đó của ông đã tỏ ra có giá trị: ông trở nên khá nổi tiếng nhờ kiến ​​thức y học, chủ yếu là do truyền miệng, và ông đã thiết lập một liên minh hợp tác với người thầy cũ của mình từ trường quân sự: Isaac Beeckman (1588–1637), cũng là một bác sĩ có hứng thú với triết học cơ học mới. Trong khoảng mười năm (cho đến khi tranh chấp về quyền ưu tiên làm rạn nứt mối quan hệ), hai người đã cùng nhau nghiên cứu các vấn đề về cơ học và thủy lực, phát triển các công cụ toán học và nguyên lý vật lý cho ngành khoa học mới này.

Tòa thị chính và tượng Descartes.  Thị trấn được đổi tên thành La Haye-Descartes vào năm 1802 để vinh danh ông, và sau đó lại được đổi tên thành Descartes năm 1967. Ảnh Wikipedia.

Tuy vậy, sau đó nhìn lại, Descartes không hài lòng mấy với sự học ở trường La Flèche. Ông cảm thấy nền giáo dục đã để lại cho ông nhiều nghi ngờ về tính chắc chắn của kiến ​​thức truyền thống, mặc dù việc tiếp xúc với toán học ở đó đã hun đúc trong ông sự tôn trọng suốt đời đối với lý luận suy diễn rõ ràng, điều đã trở thành nền tảng của triết học nổi tiếng của ông. Với sự tự-nhận thức, sự phản tư tỉnh táo, nhìn lại những lợi ích của việc học ở trường La Flèche khi đứng trước cả “đại dương của chân lý còn chưa khám phá”, Descartes cảm thấy vẫn còn ngu dốt, ignorant, nhưng là loại learned ignorance của Nicholas Cusa, nhờ học mới biết mình còn ngu dốt:

Từ thuở nhỏ, tôi đã được hưởng lợi từ một nền giáo dục văn chương; và vì tôi tin rằng bằng cách này người ta có thể thu thập được kiến ​​thức rõ ràng và chắc chắn về tất cả những gì hữu ích trong cuộc sống, nên tôi vô cùng háo hức học hỏi. Nhưng ngay khi hoàn thành khóa học mà thông thường người ta sẽ được công nhận vào hàng ngũ những người uyên bác, tôi đã hoàn toàn thay đổi quan điểm. Bởi vì tôi thấy mình bị vây quanh bởi quá nhiều nghi ngờ và sai lầm đến nỗi tôi nghĩ rằng mình chẳng thu được gì từ những nỗ lực học tập ngoài việc ngày càng nhận ra sự thiếu hiểu biết của bản thân. Thế nhưng tôi lại đang học tại một trong những trường nổi tiếng nhất châu Âu, nơi tôi nghĩ rằng chắc chắn phải có những người thông thái nếu họ thực sự tồn tại ở bất cứ đâu trên trái đất. Ở đó, tôi đã học được mọi thứ mà những người khác đang học; hơn nữa, không chỉ bằng lòng với những môn học họ dạy, tôi còn đọc hết tất cả những cuốn sách mà tôi có được về những chủ đề được coi là khó hiểu và khác thường nhất. Đồng thời, tôi biết những người khác đánh giá tôi như thế nào, và tôi thấy rằng họ không coi tôi thua kém các bạn học, mặc dù một số người trong số họ đã được định sẵn sẽ thay thế vị trí của các thầy cô giáo của chúng tôi. Và cuối cùng, thời đại mà chúng tôi đang sống dường như đối với tôi cũng thịnh vượng và giàu có về những bộ óc xuất chúng như bất kỳ thời đại nào trước đó. Điều này khiến tôi cảm thấy tự do để đánh giá tất cả những người khác dựa trên bản thân mình và nghĩ rằng không có tri thức nào trên thế giới sánh được với những gì tôi từng hy vọng trước đây. (Phần I, Discourse on the Method)

Đây chính là “Cartesian reflection”, “phản tư cartesian” (theo cách Descartes), “dấu ấn” đặc biệt của ông, một từ đã được thiết lập mang tính triết học, nhận thức luận trong giới triết học. Đó là khởi điểm của triết học ở Descartes. Đó là tính chất Cartesian của hệ thống tư duy Descartes sẽ được phát triển.

II

Người ta biết khá ít về cuộc đời của Descartes trong khoảng thời gian từ năm 1614 đến năm 1618. Ông đã sống một thời gian ở Paris, dường như sống rất khép kín, và một số người suy đoán rằng ông có thể đã bị suy sụp tinh thần vào thời điểm này. Ông học luật là để chiều theo nguyện vọng của cha mình, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng đây không phải là con đường ông muốn theo. Ông đã viết trong tác phẩm “Luận về phương pháp”:

Tôi hoàn toàn từ bỏ việc nghiên cứu văn chương, quyết tâm không tìm kiếm kiến ​​thức nào khác ngoài những gì có thể tìm thấy trong chính bản thân mình hoặc trong cuốn sách vĩ đại của thế giới. Tôi dành phần còn lại của tuổi trẻ để đi du lịch, thăm các triều đình và quân đội, giao lưu với những người có tính cách và địa vị khác nhau, tích lũy nhiều kinh nghiệm, thử thách bản thân trong những tình huống mà số phận mang đến, và luôn suy ngẫm về mọi điều xảy đến với mình để rút ra được bài học kinh nghiệm. (The Philosophical Writings of Descartes, Vol. 1, 115)

Từ năm 1620 đến năm 1628, Descartes đã đi du lịch khắp châu Âu, dành thời gian ở Bohemia (1620), Hungary (1621), Đức, Hà Lan và Pháp (1622-1623). Năm 1623, ông đến sống ở Paris, nơi ông liên lạc với Marin Mersenne, một mối quan hệ quan trọng giúp ông duy trì liên hệ với giới khoa học trong nhiều năm, và với Claude Mydorge. Từ Paris, ông đi qua Thụy Sĩ đến Ý, dành một thời gian ở Venice và Rome, sau đó ông trở lại Pháp (1625). Ngôi nhà của ông ở Paris trở thành nơi gặp gỡ của các nhà triết học và toán học và ngày càng nhộn nhịp.

Đến năm 1628, ông có nhu cầu rút lui và suy nghĩ chọn một nơi định cư yên tĩnh để được sống trong sự cô độc của mình. Và ông đã chọn Hà Lan, sống ở đó trong hai mươi năm tới (1629-1649), ngoại trừ một vài chuyến thăm ngắn đến Pháp và một chuyến đến Anh, tất cả đều vì công việc. Không thể nói hết tầm quan trọng của Hà Lan trong thế kỷ XVII, vì đây là quốc gia duy nhất mà người ta được tự do nghiên cứu và tư biện. Các tác phẩm bị cấm của Galilei được in ở đó. Hobbes phải in sách của mình ở đó; Locke đã tìm nơi trú ẩn ở đó trong năm năm tồi tệ nhất của chủ nghĩa phản động ở Anh trước năm 1688.

Nhanh chóng, Descartes bắt đầu viết luận văn lớn đầu tiên của mình về vật lý, Le Monde, ou Traité de la Lumière (Thế giới hay Luận thuyết về Ánh sáng). Ông đã viết thư cho Mersenne vào tháng 10 năm 1629:

[Những nền tảng của vật lý] là chủ đề mà tôi đã nghiên cứu nhiều hơn bất kỳ chủ đề nào khác và, tạ ơn Chúa, tôi đã không hoàn toàn lãng phí thời gian của mình vào đó. Ít nhất tôi nghĩ rằng tôi đã tìm ra cách chứng minh những chân lý siêu hình một cách rõ ràng hơn cả các chứng minh hình học – theo ý kiến ​​của tôi: Tôi không biết liệu mình có thể thuyết phục người khác về điều đó hay không. Trong chín tháng đầu tiên ở đất nước này, tôi không làm việc gì khác ngoài việc này.

 

MỐC THỜI GIAN

1596      Descartes sinh ra tại La Haye.

1606      Vào học đại học tại La Flèche.

1614      Rời La Flèche, học luật tại Poitiers.

1616      Tốt nghiệp Poitiers.

1618-1648   Chiến tranh 30 năm

1618      Là binh lính dưới quyền Maurice xứ Orange. Tác phẩm Compendium Musicae (chưa xuất bản).

1619      Ngày 10 tháng 11: Giấc mơ “ơn gọi” đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp.

1620      Du hành châu Âu. Cogitationes Privatae, Olympica (chưa xuất bản).

1628      Định cư ở Hà Lan, bắt đầu Meisterjahre với nhiều xuất bản. Quy tắc điều khiển tâm trí (chưa hoàn thành, chưa xuất bản).

1633      Galilei bị Tòa án dị giáo tuyên án về tội phổ biến thuyết Copernicus. Thế giớiLuận về con người của Descartes đã bị rút lại.

1637      Luận về phương pháp, Quang học, Hình học, Khí tượng học, tác phẩm đầu tiên được xuất bản.

1640      Cái chết của con gái của Descartes.

1641      Suy niệm, với những Phản bácLời đáp. Con Francine mất.

1642      Newton chào đời, 8 năm trước khi Descartes mất.

1644      Nguyên tắc triết học.

1645      Tìm kiếm chân lý (chưa xuất bản, ngày tháng không chắc chắn).

1649      Niềm đam mê của tâm hồn được xuất bản. “Sự ra đời của hòa bình“, một vở ba lê về Hiệp ước Westphalia được viết cho Nữ hoàng  Thụy Điển.

1650      Descartes qua đời tại Thụy Điển.

1687      Tác phẩm Principia của Newton xuất bản, cuộc cách mạng khoa học đạt tới đỉnh cao.

 

III

CUỘC HÀNH TRÌNH TỰ THÂN

Tuy nhiên, sau khi xem xét tất cả những ảnh hưởng, cả trong quá khứ và hiện tại, đã tác động lên ông, tính độc đáo của Descartes càng tỏa sáng rực rỡ hơn, và chúng ta càng thấy rõ hơn rằng ông đã khởi xướng một phương pháp triết học mới. Hegel gọi ông là anh hùng, và sự cường điệu này ở một khía cạnh nào đó có thể được biện minh. Quả thực, Descartes không có thiên hướng tử vì đạo. Nhưng tự nhiên đã ban cho ông lòng dũng cảm cao cả, đó là tình yêu chân lý và sự tận tâm với khoa học; và nếu danh hiệu anh hùng dành cho những người có nỗ lực mở ra những con đường mới cho tư tưởng nhân loại, thì Descartes chắc chắn xứng đáng với danh hiệu đó.

—Lucien Lévy-Bruhl

Những năm tháng học tập đã thuyết phục ông về sự thiếu hiểu biết của chính mình và của các thầy cô, và ông quyết định bỏ qua sách giáo khoa và tự mình nghiên cứu triết học và khoa học bằng cách tự học hỏi và tìm hiểu thế giới xung quanh. Để đạt được mục đích đó, ông đã đưa ra một quyết định thoạt nhìn có vẻ khá kỳ lạ, đó là rời bỏ quê hương và chuyển đến Hà Lan, nơi ông gia nhập quân đội của Hoàng tử Orange. Nhưng Descartes, người ốm yếu, không phải là một người lính chiến đấu, nên tìm thấy vị trí thích hợp của mình trong quân đội với tư cách là một kỹ sư, sử dụng các kỹ năng toán học của mình. Chính trong thời gian học tại Trường Quân sự ở Breda, Descartes đã gặp nhà toán học Isaac Beeckman, người đến từ Dordrecht, người đã giới thiệu cho ông những khía cạnh cao cấp hơn của toán học và trở thành một người bạn lâu dài.

Người ta không biết nhiều về đời sống quân ngũ của Descartes trong vài năm tiếp theo, khi ông phục vụ trong nhiều đội quân châu Âu khác nhau, bao gồm cả quân đội của Công tước xứ Bavaria, mặc dù chúng ta biết rằng ông đã có mặt tại lễ đăng quang của Hoàng đế Ferdinand II ở Frankfurt năm 1619. Tuy nhiên, vào cuối năm đó (1619), sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời Descartes đã xảy ra, và chúng ta biết chính xác khi nào và ở đâu nó xảy ra vì được ông kể lại trong cuốn sách Luận về hương pháp – tên đầy đủ: Discours de la Méthode pour bien conduire la raison et chercher la Vérité dans les sciences (Luận về phương pháp dẫn dắt lý trí đúng đắn và tìm kiếm chân lý trong khoa học) – xuất bản năm 1637. Sự kiện quan trọng đó đã diễn ra ngày 10 tháng 11 năm 1619 (Ngày Thánh Martin), và lúc quân đội của Công tước xứ Bavaria (tập hợp để chiến đấu chống lại những người Tin lành) đang đóng quân mùa đông bên bờ sông Danube. Descartes đã dành cả ngày nằm cuộn tròn trên giường, thiền định sâu và trải qua ba giấc mơ mặc khải mà ông coi là những dấu hiệu “tiên tri về ơn gọi thiêng liêng”. Căn phòng được ông gọi là “poêle” (nghĩa là “bếp lò”), thuật ngữ thông dụng thời đó để chỉ một căn phòng được sưởi ấm bằng bếp lò bằng đất nung. Điều chính yếu của sự kiện ngày hôm đó là Descartes lần đầu tiên nhìn thấy con đường dẫn đến triết học của riêng mình và toán học là nền tảng, khiến ông nảy ra ý tưởng tự mình thực hiện một cuộc cải cách nền học vấn của nhân loại, nhằm chứng minh tất cả các ngành khoa học đều là những nhánh của một khoa học kỳ diệu duy nhất. Lúc đó ông mới 23t. Sau đó ông phát triển hình học giải tích, nối liền hình học và đại số, đặt nền móng cho hệ tọa độ Cartesian. Tiếp đến, ông phát triển Luận về phương pháp (1637), nhưng nó chỉ được phát triển rất lâu sau đó, đơn giản vì nó không gì khác hơn là diễn đạt các phương thức lập luận được phát triển trong Hình học. Descartes, trong Luận văn của mình, đã chỉ ra con đường mà chúng ta phải đi theo, chứ không phải con đường quanh co và khó khăn mà chính ông đã trải qua. (Koyré) Phương pháp là yếu tố quyết định để khám phá cái mới.

Đó là tác phẩm thứ nhất, kèm theo ba bài luận về khí tượng học, quang học và hình học. Mặc dù không phải tất cả các ý tưởng ông trình bày đều đúng, điều quan trọng về bài luận về khí tượng học là nó cố gắng giải thích toàn bộ hoạt động của thời tiết bằng khoa học duy lý, chứ không phải bằng cách viện đến huyền bí hay sự tùy hứng của các vị thần. Bài luận về quang học mô tả hoạt động của mắt và đề xuất các cách để cải thiện kính viễn vọng. Và bài luận về hình học là kết quả trực tiếp của những giấc mơ bên bờ sông Danube.

Tác phẩm lớn thứ hai của Descartes, Suy ngẫm về Triết học tiên khởi (Meditationnes de Prima Philosophia, hay Meditations on First Philosophy). Trong lời tựa, Descartes nói với độc giả, “Tôi không khuyến khích bất cứ ai đọc cuốn sách này ngoại trừ những người có khả năng và sẵn lòng suy ngẫm nghiêm túc cùng tôi”. Ông không muốn cuốn Suy ngẫm trở thành một luận thuyết, một sự trình bày đơn thuần về các lý lẽ và kết luận triết học, mà là một bài tập tư duy, được trình bày như một sự khích lệ và hướng dẫn cho những độc giả sẽ tự mình suy nghĩ một cách triết học. Ông xây dựng triết học xung quanh câu nói nổi tiếng nhất “Tôi tư duy, do đó tôi tồn tại”.

Vào năm 1644, Descartes đã cho ra đời đóng góp lớn thứ ba cho tri thức, Principia Philosophtae, hay Nguyên lý triết học, về cơ bản là một cuốn sách về vật lý, trong đó Descartes nghiên cứu bản chất của thế giới vật chất và đưa ra cách giải thích chính xác về quán tính (inertia), rằng các vật thể chuyển động có xu hướng tiếp tục chuyển động theo đường thẳng, chứ không phải theo đường tròn.

Sau cuốn sách đó, Descartes đã thực hiện chuyến đi dường như là chuyến đi đầu tiên của ông đến Pháp kể từ năm 1629, và ông đã đến đó một lần nữa vào năm 1647. Trong chuyến đi này ông đã gặp nhà vật lý và toán học trẻ tuổi Blaise Pascal (1613-1661). Ông đề nghị với Pascal rằng sẽ rất thú vị nếu mang một cái áp kế lên núi để xem áp suất thay đổi như thế nào theo độ cao. Khi các thí nghiệm được thực hiện (bởi anh rể của Pascal vào năm 1648), chúng cho thấy áp suất khí quyển giảm khi độ cao tăng, nghĩa là trái đất chỉ có một lớp không khí mỏng bao quanh chứ không phải dày đặc vô tận. Một chuyến thăm khác đến Pháp vào năm 1648 đã bị gián đoạn bởi mối đe dọa nội chiến, thái độ thù địch với những người Tin lành gia tăng, khi đó 51 tuổi vào năm 1648. Mặt khác, an ninh ở Hà Lan cũng gặp hồi khói khăn bởi những người Calvinist, ông muốn tìm sự an toàn ở một nước thứ ba.

Đỉnh cao trong công trình khoa học ban đầu của ông là một luận thuyết có tên gọi “Thế giới“. Trong đó, ông đặt ra mục tiêu đưa ra một lời giải thích khoa học toàn diện về nguồn gốc và bản chất của vũ trụ, cũng như về hoạt động của cơ thể con người. Giống như Galileo, ông đã chấp nhận giả thuyết rằng Trái đất quay quanh Mặt trời; nhưng trước khi công trình hoàn thành, ông đã biết tin Galileo bị kết án. Ông quyết định không công bố và từ đó giữ kín thuyết nhật tâm của mình.

Đối với Descartes, con người là một vật chất biết tư duy. Ông bác bỏ học thuyết của Aristotle cho rằng linh hồn là hình thức của thể xác. Trong khi đối với một người theo chủ nghĩa Aristotle thời trung cổ, con người là một loài động vật có lý trí, thì đối với Descartes, toàn bộ bản chất của con người là trí tuệ. Trong tác phẩm “Luận văn”, ông nói: “Tôi nhận ra rằng tôi là một thực thể mà toàn bộ cốt lõi hay bản chất của nó là tư duy, và sự tồn tại của tôi không cần vị trí và không phụ thuộc vào bất kỳ vật chất nào.” Trong cuộc sống hiện tại, ông đồng ý, tâm trí của chúng ta gắn bó mật thiết với thể xác, nhưng không phải thể xác tạo nên con người thật sự của chúng ta. Hơn nữa, trong hệ thống của Descartes, trí tuệ được quan niệm theo một cách mới: bản chất của trí tuệ con người không phải là trí thông minh mà là ý thức, sự nhận thức về những suy nghĩ của chính mình và đối tượng của chúng.

Đối lập với trí tuệ (mind) là vật chất. Đối với Descartes, vật chất là sự mở rộng trong chuyển động. “Sự mở rộng” ở đây có nghĩa là những gì có các thuộc tính hình học như hình dạng, kích thước, khả năng phân chia, v.v.; Đây là những thuộc tính duy nhất mà Descartes gán cho vật chất ở cấp độ cơ bản. Trong luận văn Thế giới, và trong những phần được sửa đổi mà ông xuất bản khi còn sống, ông đã đưa ra lời giải thích cho tất cả các hiện tượng về nhiệt, ánh sáng, màu sắc và âm thanh dựa trên chuyển động của các hạt nhỏ có kích thước và hình dạng khác nhau.

Giống như Bacon, Descartes so sánh tri thức với một cái cây; nhưng đối với ông, rễ cây là siêu hình học, thân cây là vật lý, và những cành cây sai trái là các khoa học đạo đức và ứng dụng. Các tác phẩm của ông, sau Luận văn, cũng theo thứ tự được gợi ý như vậy. Năm 1641, ông viết cuốn Suy niệm siêu hình, năm 1644 là Nguyên lý triết học (một phiên bản được chỉnh sửa của Thế giới), và năm 1649 là Luận về đam mê (của linh hồn) chủ yếu là một luận văn đạo đức. Thập niên 1640 là thập kỷ cuối cùng, cũng là thập kỷ có nhiều đóng góp triết học nhất trong cuộc đời ông. (Kenny, An Illustrated brief history)

Trong Luận về phương pháp, Descartes cho rằng,

Năng lực hiểu biết lành mạnh là thứ được phân phối tốt nhất trên thế giới: mọi người đều nghĩ rằng bản thân họ được trời phú nhiều đến nỗi ngay cả những người khó tính nhất cũng không mong muốn nhiều hơn những gì họ đang sở hữu. … Điều đó cho thấy rằng sức mạnh phán đoán tốt và phân biệt đúng với sai – những gì chúng ta gọi đúng là ‘lẽ thường’ (good sense) hoặc ‘lý tính’ (reason) – tự nhiên bình đẳng ở tất cả mọi người, và do đó sự đa dạng về ý kiến của chúng ta không phát sinh bởi vì một số người trong chúng ta hợp lý hơn những người khác mà chỉ vì chúng ta hướng suy nghĩ của mình theo những con đường khác nhau và không chú ý đến những điều giống nhau. Chỉ có một tâm trí tốt là không đủ; điều chính yếu là áp dụng nó thật tốt. Những linh hồn vĩ đại nhất có khả năng làm những tệ nạn lớn nhất cũng như những đức hạnh lớn nhất; và những người tiến lên nhưng rất chậm có thể đạt được tiến bộ lớn hơn nhiều, nếu họ luôn đi theo con đường đúng đắn, so với những người vội vàng và đi lạc khỏi nó. (Discourse on the Method, Phần I)

Tôi nhận ra rằng tôi là một thực thể mà toàn bộ cốt lõi hay bản chất của nó là tư duy, và sự tồn tại của tôi không cần vị trí và không phụ thuộc vào bất kỳ vật chất nào. (René Descartes)

Cần phải thoát khỏi những điều được tiếp thu trong quá trình lớn lên có thể chứa đựng những định kiến và tìm trải nghiệm cho riêng mình:

Đó là lý do tại sao, ngay khi đủ lớn để thoát khỏi sự kiểm soát của các thầy cô, tôi đã hoàn toàn từ bỏ việc nghiên cứu văn chương. Quyết tâm không tìm kiếm kiến ​​thức nào khác ngoài những gì có thể tìm thấy trong chính bản thân mình hoặc trong cuốn sách vĩ đại của thế giới, tôi đã dành phần còn lại của tuổi trẻ để đi du lịch, thăm các triều đình và quân đội, giao lưu với những người có tính khí và địa vị khác nhau, thu thập nhiều kinh nghiệm, thử thách bản thân trong những tình huống mà số phận mang lại, và luôn suy ngẫm về mọi điều đến với mình để rút ra được lợi ích từ đó. […] Và ước muốn tha thiết nhất của tôi luôn là học cách phân biệt thật giả để có thể nhìn rõ hành động của chính mình và tiến bước tự tin trong cuộc sống này. (Luận về phương pháp, Phần I)

và tiếp theo, câu hỏi tôi là ai:

Tiếp theo, tôi xem xét kỹ lưỡng tôi là ai. Tôi nhận thấy rằng, dù tôi có thể giả vờ rằng mình không có thân thể, không có thế giới và không có nơi nào để tôi tồn tại, tôi vẫn không thể giả vờ rằng mình không tồn tại. Ngược lại, chỉ riêng việc tôi nghĩ đến việc nghi ngờ sự thật của những thứ khác đã dẫn đến kết luận rõ ràng và chắc chắn rằng tôi tồn tại; trong khi đó, nếu tôi chỉ đơn giản là ngừng suy nghĩ, ngay cả khi mọi thứ khác mà tôi từng tưởng tượng đều là sự thật, tôi cũng sẽ không có lý do gì để tin rằng mình tồn tại. Từ đó, tôi biết rằng tôi là một thực thể mà toàn bộ bản chất hay cốt lõi của nó chỉ đơn giản là tư duy, và không cần bất kỳ nơi chốn nào, hay phụ thuộc vào bất kỳ vật chất nào để tồn tại. Do đó, cái ‘tôi’ này – tức là linh hồn mà nhờ đó tôi là chính tôi – hoàn toàn khác biệt với thân thể, và thực sự dễ nhận biết hơn thân thể, và sẽ vẫn còn cái nó là, ngay cả khi thân thể không tồn tại. (Discourse, Phần VI)

Đồng ý, tâm trí của chúng ta gắn bó mật thiết với thể xác, nhưng không phải thể xác tạo nên con người thật sự của chúng ta. Hơn nữa, trong hệ thống của Descartes, trí tuệ được quan niệm theo một cách mới: bản chất của trí tuệ con người không phải là trí thông minh mà là ý thức, sự nhận thức về những suy nghĩ của chính mình và đối tượng của chúng.

Tác phẩm Luận về Phương pháp của ông là một chuyên luận ngắn, được viết dưới dạng tự truyện, với một luận điểm được trình bày rõ ràng. Luận về Phương pháp kết hợp sự duyên dáng về văn chương, sự hấp dẫn về con người và sự sáng tỏ về triết học bằng một thể loại thức chưa từng thấy ở châu Âu kể từ các Đối thoại của Plato, và không có tác phẩm nào sánh kịp về mức độ phổ biến ngoại trừ Thông điệp từ các vì sao của Galileo. Descartes nhắm đến một giai tầng xã hội mới, đó là những quý ông, bác sĩ và luật sư có tư tưởng triết học, những người có địa vị ngày càng cao trong thế kỷ đó, lấn át giới giáo sĩ. Descartes muốn hướng đến các “triết gia” của thế kỷ XVIII. (Kearney, Science and Change, 151)

Những đoạn tự thuật tiếp theo trong Luận về phương pháp rất thú vị đáng tham khảo:

Về phần mình, tôi chưa bao giờ cho rằng trí tuệ của mình hoàn hảo hơn người bình thường; thực tế, tôi thường ao ước mình có được trí thông minh nhanh nhạy, trí tưởng tượng sắc sảo và rõ ràng, hoặc trí nhớ phong phú và nhanh chóng như một số người khác. Và ngoài những điều đó, tôi không biết phẩm chất nào khác giúp hoàn thiện trí tuệ; bởi vì, xét về lý tính hay giác quan, vì đó là điều duy nhất làm nên con người và phân biệt chúng ta với loài thú, tôi có khuynh hướng tin rằng nó tồn tại trọn vẹn và hoàn chỉnh trong mỗi chúng ta. Ở đây tôi đi theo quan điểm chung của các nhà triết học, những người nói rằng chỉ có sự khác biệt về mức độ giữa các thuộc tính ngẫu nhiên, chứ không phải giữa các hình thái, forms (hay bản chất) của các cá thể (individuals) cùng loài.

Nhưng tôi xin khẳng định không chút do dự rằng tôi tự thấy mình rất may mắn khi thời trẻ đã tình cờ tìm thấy những con đường dẫn dắt tôi đến những suy ngẫm và châm ngôn, từ đó tôi hình thành một phương pháp mà theo tôi, tôi có thể dần dần gia tăng kiến ​​thức và nâng nó lên từng chút một đến mức cao nhất mà trí tuệ tầm thường và tuổi thọ ngắn ngủi của tôi cho phép. Giờ đây, tôi luôn cố gắng nghiêng về sự khiêm nhường hơn là kiêu ngạo trong những đánh giá về bản thân; và khi nhìn nhận các hoạt động và công việc khác nhau của nhân loại bằng con mắt triết học, hầu như không có hoạt động nào mà tôi không cho là phù phiếm và vô ích. Tuy nhiên, tôi đã gặt hái được những thành quả từ phương pháp này đến mức tôi không thể không cảm thấy vô cùng hài lòng với sự tiến bộ mà tôi nghĩ mình đã đạt được trong việc tìm kiếm chân lý, và tôi không thể không nuôi hy vọng cho tương lai đến mức dám khẳng định rằng nếu có bất kỳ nghề nghiệp thuần túy của con người nào có giá trị và tầm quan trọng thực sự, thì đó chính là nghề nghiệp mà tôi đã chọn.

 

René Descartes lúc còn trẻ. Ông được xem là “bậc thầy của thể loại tự sự ngôi thứ nhất”.

Tiếp tục:

Tuy nhiên, có thể tôi đã sai: có lẽ những gì tôi cho là vàng và kim cương chỉ là một chút đồng và thủy tinh. Tôi biết chúng ta dễ mắc sai lầm như thế nào trong những vấn đề liên quan đến mình, và cũng biết rằng chúng ta nên nghi ngờ những phán đoán của bạn bè khi chúng có lợi cho mình. Tuy nhiên, tôi vẫn vui lòng tiết lộ trong bài diễn thuyết này những con đường tôi đã đi, và miêu tả cuộc đời mình như một bức tranh, để mọi người có thể tự đánh giá; và như vậy, học hỏi từ phản hồi của công chúng về những ý kiến ​​​​được đưa ra, tôi sẽ bổ sung thêm một phương pháp tự học mới vào những phương pháp mà tôi vẫn thường sử dụng.

Mục đích hiện tại của tôi, do đó, không phải là dạy phương pháp mà mọi người phải tuân theo để định hướng lý tính của mình một cách đúng đắn, mà chỉ là tiết lộ cách tôi đã cố gắng định hướng lý tính của chính mình. Người nào dám đưa ra lời khuyên thì hẳn phải nghĩ mình khéo léo hơn những người được mình khuyên bảo; và nếu người đó mắc phải sai lầm nhỏ nhất, người đó có thể bị khiển trách. Nhưng tôi chỉ trình bày tác phẩm này như một lịch sử, hay nếu bạn thích, một câu chuyện ngụ ngôn, trong đó, bên cạnh một số ví dụ đáng noi theo, bạn có thể cũng tìm thấy nhiều ví dụ khác mà lẽ ra không nên làm theo; và vì vậy tôi hy vọng nó sẽ hữu ích cho một số người mà không gây hại cho bất kỳ ai, và mọi người sẽ biết ơn tôi vì sự thẳng thắn của mình.

Ông nhìn triết học và cả khoa học với con mắt rất phê phán:

Về triết học, tôi sẽ không nói gì thêm, ngoại trừ việc khi tôi thấy nó đã được trau dồi qua nhiều thế kỷ bởi những người lỗi lạc nhất, và vẫn không có một vấn đề nào trong phạm vi của nó mà không còn gây tranh cãi, và do đó không có gì là không thể nghi ngờ, tôi không dám dự đoán rằng thành công của mình trong đó sẽ lớn hơn người khác, và hơn nữa, khi tôi xem xét số lượng các ý kiến ​​trái chiều về một vấn đề duy nhất có thể được các học giả ủng hộ, trong khi chỉ có thể có một chân lý, tôi coi hầu hết những gì chỉ được xem là có thể là gần như sai lầm.” (Discourse on Method, Volume I, Phần I, đoạn 8)

Đối với các ngành khoa học khác, trong chừng mực chúng vay mượn nguyên lý từ triết học, tôi quyết định rằng bất cứ điều gì vững chắc không thể được xây dựng trên nền tảng lung lay như vậy. Cả danh vọng lẫn của cải mà chúng hứa hẹn đều không đủ để thuyết phục tôi học chúng. Bởi vì hoàn cảnh của tôi, tạ ơn Chúa, không bắt buộc tôi phải gia tăng tài sản bằng cách biến khoa học thành nghề nghiệp; và mặc dù tôi không tự nhận là khinh thường vinh quang, như một người theo chủ nghĩa Cynic, nhưng tôi lại đánh giá rất thấp vinh quang mà tôi chỉ có thể hy vọng đạt được từ những lời giả dối. Cuối cùng, đối với các ngành khoa học giả tạo, tôi nghĩ rằng tôi đã biết rõ giá trị của chúng đến mức không dễ bị lừa bởi những lời hứa hẹn của một nhà giả kim thuật hay những lời tiên đoán của một nhà chiêm tinh, những mánh khóe của một ảo thuật gia hay những trò lừa bịp và khoe khoang của những người tự xưng là biết nhiều hơn thực tế. (Như trên, đoạn 9)

Tên đầy đủ của tác phẩm là “Luận về phương pháp dẫn dắt lý trí đúng đắn và tìm kiếm chân lý trong khoa học”.

Những nhận định trên khiến Descartes đã từ bỏ việc nghiên cứu văn chương “và quyết định không tìm kiếm bất kỳ ngành khoa học nào khác ngoài việc tìm hiểu bản thân mình, hoặc từ cuốn sách vĩ đại của thế giới”. Điều này có thể so sánh với sự ngạc nhiên của Bacon rằng “trong số rất nhiều trường đại học danh tiếng ở châu Âu, tất cả các cơ sở đều bị các ngành nghề chiếm dụng, không còn chỗ cho việc tự do trau dồi nghệ thuật và khoa học”. Ông tuyên bố rằng sự hạn chế này “không chỉ kìm hãm sự phát triển của khoa học mà còn gây bất lợi cho chính các quốc gia và chính phủ”. (Kearney, The origins)

Khó chịu với những sự lộn xộn đầy định kiến và mập mờ trong tư duy, ông đưa ra một số quyết định giúp làm sáng tỏ trong việc tìm ra logic hay định luật trong việc xây dựng tri thức:

(a) “Không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì là đúng nếu không biết chắc chắn là đúng, tránh vội vàng và thành kiến, và không bao hàm bất cứ điều gì trong phán đoán của mình ngoài những gì hoàn toàn rõ ràng và rành mạch trong tâm trí.”

 (b) “Chia mỗi khó khăn đang xem xét thành càng nhiều phần càng tốt.”

 (c) “Luôn luôn suy nghĩ từ những điều đơn giản và dễ hiểu nhất đến những điều phức tạp hơn, sắp xếp suy nghĩ theo một trật tự nhất định ngay cả đối với những đối tượng mà về bản chất không có mối quan hệ trước và sau, tức là tìm kiếm mối quan hệ ở mọi nơi.

(d) “Lập danh sách đầy đủ và tổng quan đến mức chắc chắn rằng không có gì bị bỏ sót.” (Luận về phương pháp, Phần II)

Những lời bộc bạch cởi mở của Descartes làm tôi nhớ đến đoạn phát biểu sau đây của Galen, bác sĩ Hy Lạp cổ đại sống vào thế kỷ II sau Công nguyên trong tác phẩm “Về các năng lực tự nhiên” của ông:

“Và khi đến tuổi vị thành niên sớm, anh ta phải bị một tình yêu mãnh liệt xâm chiếm đối vổi sự thật, giống như một người được truyền cảm hứng, cả ngày lẫn đêm anh ta không thể ngừng thúc giục, và căng thẳng bản thân để tìm hiểu kỹ lưỡng tất cả những gì đã được nói ra bởi những người nổi tiếng nhất của thời cổ đại. Và khi anh ta đã học được điều này, thì trong một thời gian dài anh ta phải kiểm tra và chứng minh điều đó, quan sát phần nào đồng ý và phần nào không đồng ý vớỉ sự thật rõ ràng; do đó anh ta sẽ chọn điều này và quay lưng lại với điều kia. Đối với một người như vậy, tôi hy vọng rằng chuyên luận của tôi sẽ chứng minh được sự hỗ trợ tốt nhất.”

Đây cũng chính là kiểu “Cartesian reflection”.

IV

NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN LÝ

Người đi tìm kiếm chân lý, một lần trong đời mình, phải đặt dấu hỏi cho mọi thứ. (Descartes)

Trong “Nguyên lý triết học”, Principles of Philosophy, một tác phẩm nền tảng của triết học duy lý và vật lý cơ học của Descartes (1644), tại mục đầu tiên hết, ông viết:

1. Người đi tìm kiếm chân lý, một lần trong đời mình, phải đặt dấu hỏi cho mọi thứ, trong chừng mực có thể.

Vì chúng ta bắt đầu cuộc sống từ lúc còn là trẻ sơ sinh và đưa ra nhiều phán đoán khác nhau về những thứ có thể cảm nhận được bằng giác quan trước khi lý tính chúng ta phát triển đầy đủ, nên có rất nhiều định kiến ​​ngăn cản chúng ta nhận biết được sự thật. Dường như cách duy nhất để giải thoát bản thân khỏi những định kiến ​​này là phải nỗ lực, ít nhất một lần trong đời, nghi ngờ mọi thứ mà ta cảm nhận dù một chút nghi ngờ về sự không chắc chắn.

6. Chúng ta có ý chí tự do, cho phép chúng ta từ chối sự đồng tình trong những vấn đề bị nghi ngờ, và do đó tránh được sai lầm.

Nhưng dù ai là người có thể tạo ra chúng ta, và dù người đó có quyền năng và xảo quyệt đến đâu, chúng ta vẫn cảm nhận được trong mình loại tự do luôn luôn cho phép chúng ta luôn luôn không tin vào những điều không hoàn toàn chắc chắn và chưa được kiểm chứng kỹ lưỡng. Do đó, chúng ta có thể đề phòng để tránh mắc sai lầm trong mọi trường hợp.

 

TÔI TƯ DUY, VẬY TÔI TỒN TẠI

Với tác phẩm đầu tay “Luận về phương pháp định hướng đúng đắn lý trí và tìm kiếm chân lý trong khoa học” (1637), cũng như trong Suy niệm triết học tiên khởi (1644), Descartes đưa ra lập luận nổi tiếng nhất của mình, “Tôi tư duy, do đó tôi tồn tại”, khẳng định sự tồn tại của bản ngã tư duy như một thực thể phi vật chất, không có kích thước (res cogitans), một lập luận mà không một người hoài nghi nào có thể phủ nhận. Ngay cả người hoài nghi ngoan cố và theo chủ nghĩa hư vô nhất cũng không thể tuyên bố “Tôi tư duy, nhưng điều đó không đảm bảo rằng tôi tồn tại”. Từ đó, Descartes rút ra các nguyên tắc của hệ thống triết học của mình. Nếu tôi không tư duy, tôi sẽ không có lý do để tin rằng tôi tồn tại; do đó, tôi là một thực thể mà toàn bộ bản chất của nó là tư duy; và một thể xác không phải là một phần bản chất của tôi. Điều tương tự cũng đúng với mọi con người khác. Như vậy, luận điểm chính đầu tiên của Descartes đã được thiết lập.

Nhưng với tiền đề đó Descartes đi tiếp xa hơn. Ông chỉ ra rằng trong tư tưởng của chúng ta có một ý niệm về sự hoàn hảo. Nó không thể đến từ chính bản thân chúng ta vì không ai trong chúng ta là hoàn hảo cả, cũng như chưa bao giờ thấy một vật hoàn hảo. Descartes cho rằng, lời giải thích duy nhất cho ý niệm hoàn hảo của chúng ta là nó đã được gieo vào tâm trí chúng ta bởi một đấng hoàn hảo. Ông khẳng định rằng thực thể hoàn hảo này nhất thiết phải tồn tại. Đó là Chúa Trời (God), một Thượng đế có bản chất chân thật, Đấng mà tôi mang ơn vì sự tồn tại của mình với tư cách là một thực thể biết suy nghĩ. Vì vậy, việc thiết lập sự tồn tại của Thượng đế là một phần cần thiết trong hệ thống của Descartes. Một khi đã chứng minh được sự tồn tại của Chúa thì theo ông, Chúa sẽ không cho phép chúng ta bị lừa dối một cách có hệ thống, và vì vậy, miễn là chúng ta sử dụng một phương pháp kiểm tra sự thật cẩn thận và xác định xem điều gì đó là đúng hay sai, chúng ta có thể chắc chắn rằng kết luận của mình là đáng tin cậy.

 

THUYẾT NHỊ NGUYÊN TÂM-THÂN (MIND-BODY)

Đề tài được thảo luận sôi nổi – cho đến hôm nay vẫn chưa dứt – là trong tác phẩm Suy niệm về triết học tiên khởi (Meditations on the First Philosophy, 1641), Descartes đã lập luận ủng hộ thuyết nhị nguyên tâm-thân (còn được gọi là thuyết nhị nguyên vật chất hoặc thuyết nhị nguyên Cartesian), ý tưởng cho rằng tâm trí (hay linh hồn) và thân thể là hai thực thể riêng biệt có thể tồn tại độc lập với nhau. Tâm trí không mở rộng và suy nghĩ, cơ thể mở rộng và không suy nghĩ—với sự tương tác xảy ra ở bộ phận nhỏ gọi là tuyến tùng (pineal gland) trong não, “nơi trú ngụ của linh hồn” mà linh hồn động vật (animal spirits) được cho là trung gian ảnh hưởng nhân quả. “Tôi hiểu rằng sự khác biệt chính giữa Tâm và Thân của tôi nằm ở chỗ, Thân của tôi về bản chất là có thể phân chia, nhưng Tâm của tôi thì không thể phân chia… Và chỉ riêng điều này (nếu tôi biết được điều này mà không cần bất kỳ lập luận nào khác) cũng đủ để cho tôi biết rằng tâm của tôi thực sự khác biệt với thân của tôi.”

Tuy cái tôi hoàn toàn khác biệt với thể xác, nhưng nó gắn liền với một cơ thể, và chỉ khi gắn liền với một cơ thể, ta mới hình dung nó như con người. Và chỉ khi là một con người, tôi mới khao khát sự làm chủ bản thân và tự nhiên (của tôi), và chỉ khi là một con người, tôi mới có thể đạt được sự làm chủ đó. Nếu không có sự tồn tại của linh hồn thì chỉ có tự nhiên. Và tự nhiên, dù hữu sinh hay vô sinh, cũng chỉ là một cỗ máy. Khi linh hồn hợp nhất với thể xác thì mới có con người.

Chỉ thông qua sự hợp nhất này, linh hồn mới có thể tác động lên thể xác, tâm trí mới có thể ảnh hưởng đến vật chất. Bởi vì con người là sinh vật duy nhất có sự hợp nhất thực chất giữa tư tưởng và thể xác, nên con người là sinh vật duy nhất có khả năng làm chủ tự nhiên. Do đó, con người cũng là sinh vật duy nhất có khả năng tự làm chủ, tức là làm chủ một phần của tự nhiên, cụ thể là phần mà con người gọi là “thể xác của tôi”.

Một trong những minh họa quan niệm Cartesian của mối liên hệ giữa linh hồn và cơ thể. Tuyến tùng (pineal gland, điểm F trong ảnh) cung cấp mối liên hệ cốt yếu giữa cơ thế, cái hoạt động trên cơ sở cơ giới, và linh hồn, cái phi-vật chất.

Trong tác phẩm Luận về phương pháp và các tác phẩm sau này, Descartes đã trình bày một cách giải thích về các giác quan. Hoạt động của cơ thể được hiểu là mang tính cơ học. Dữ liệu cảm giác được truyền từ các cơ quan cảm giác đến não thông qua các ống dẫn mà qua đó các linh hồn động vật lưu thông. Mặc dù linh hồn, Descartes viết, “gắn liền với toàn bộ cơ thể, nhưng vẫn có một phần nhất định mà ở đó nó thực hiện các chức năng của mình một cách đặc biệt hơn so với tất cả các phần khác.” Phần cơ thể nơi linh hồn thực hiện các chức năng của nó trực tiếp “không phải là tim, cũng không phải toàn bộ não, mà chỉ là phần sâu bên trong nhất của nó, cụ thể là một tuyến rất nhỏ nằm ở giữa mô của nó và được treo lơ lửng phía trên ống dẫn mà qua đó các linh hồn động vật trong các khoang phía trước của nó thông với khoang phía sau này, do đó những chuyển động nhỏ nhất diễn ra trong đó có thể làm thay đổi rất nhiều hướng đi của các linh hồn này.”

 

Ý CHÍ TỰ DO (FREE WILL)

Lý tính là yếu tố quan trọng hàng đầu trong văn minh phương Tây, đựợc công nhận rộng rãi, ngay trong hàng ngũ tôn giáo, nhưng với thời gian nó có thể bị làm hư hỏng, lu mờ hay mất tác dụng. Descartes cho rằng, lý tính đã bị lệ thuộc vào định kiến. Trong bài Suy niệm thứ nhất, ông viết:

Những quan điểm cổ xưa và phổ biến vẫn thường xuyên quay trở lại trong tâm trí tôi, thói quen lâu đời và quen thuộc đã cho chúng quyền chiếm giữ tâm trí tôi trái với ý muốn của tôi và khiến chúng gần như chi phối niềm tin của tôi.

Cho nên phán đoán của ông “bị chi phối bởi thói quen xấu” và “xa rời kiến ​​thức đúng đắn về chân lý”. Nếu chúng ta muốn có được (hoặc lấy lại) khả năng sử dụng lý tính lành mạnh của mình, nếu chúng ta muốn có thể đặt niềm tin không nghi ngờ vào khả năng phán đoán của lý tính, thì, Descartes nói, trước hết chúng ta phải xua tan sự chi phối của “những quan điểm phổ biến” và phá vỡ sự thống trị của “thói quen xấu”. Bằng cách nào? Descartes nói bằng sự nghi ngờ có phương pháp nói ở trên. Nó sẽ giúp chúng ta ra khỏi quyền lực chi phối của sự áp đặt thành kiến.

Để làm được điều đó, chúng ta phải sử dụng ý chí tự do mà Chúa đã ban cho. Chính việc sử dụng tự do cho sự nghi ngờ có phương pháp mới thay đổi được tình thế, giúp giải thoát chúng ta khỏi sự ràng buộc của định kiến.

Nền tảng của hệ thống tư tưởng Descartes là “Tôi tư duy” (cogito). Nhưng Cogito đòi hỏi sự vận dụng ý chí tự do, bên cạnh lý tính. Khía cạnh cơ bản nhất trong quan điểm của Descartes nằm ở khái niệm tự do của ông. Bởi vì Descartes cho rằng lý tính bị ràng buộc và cần được giải phóng và xác thực; rằng nó chỉ có thể được giải phóng và xác thực thông qua việc sử dụng nghi ngờ có phương pháp; và rằng sự nghi ngờ đó không xuất hiện trừ khi ta muốn nó xuất hiện. Do đó, ông khẳng định rằng, bất chấp những hạn chế do định kiến gây ra, con người cuối cùng được đặc trưng bởi việc sở hữu yếu tố tự do. Điều này mang lại cho tự do một vị trí thậm chí còn cơ bản hơn cả vị trí của cogito (tôi tư duy), bởi vì chúng ta không thể đạt được cogito, cũng như không thể đạt được sự giải phóng và khẳng định của lý trí, nếu không có những hành động của ý chí tự do.

Chúng ta không thể tự giải phóng mình nếu thiếu tự do, chúng ta chỉ có thể đạt được tự do bằng cách sử dụng tự do của mình. Vì Descartes cho rằng chính việc sử dụng tự do, sự nghi ngờ có phương pháp mới giải thoát chúng ta khỏi sự ràng buộc của định kiến, nên dường như ông đang nói rằng thông qua tự do của mình, chúng ta tự giải thoát mình khỏi sự ràng buộc.

Một khi thoát khỏi sự ràng buộc bởi định kiến, chúng ta mới đạt được trạng thái gọi là “tự do của tự phát” (“liberty of spontaneity”), hay tự do của cơ hội” (“liberty of opportunity”). Lúc đó con người mới đạt tới trạng thái “tự quyết” (self-determination) và tự chủ (autonomous). (Schouls, Descartes and Enlightenment, 40-41)

Để tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình ra khỏi sự ràng buộc và có năng lực phán xét, có lẽ chúng ta cần một loại khai sáng khác của Kant: dám biết, dám học hỏi, sapere aude, và hãy sử dụng lý tính mà không có sự dẫn dắt của người khác. Tri thức mới mà ta thu lượm được qua tự học hỏi, có thể giúp ta nhìn lại và so sánh với những sự thật cũ hay hiện hữu có thể là định kiến có tác dụng đang kềm hãm.

 

V

NGƯỜI VÀ MÁY

Đặc biệt trong một mục, Descartes cố gắng chứng minh rằng, hành vi con người có xu hướng cho thấy hành động của chúng ta phải được chi phối bởi một số nguyên tắc phi-cơ học. Ông lập luận rằng một cỗ máy không bao giờ có thể thực sự suy nghĩ hoặc sở hữu một tâm trí có ý thức. Ông đã bảo vệ khái niệm linh hồn phi vật thể mà chỉ con người mới có. Để định nghĩa tính độc đáo của con người, Descartes đề xuất hai bài kiểm tra để phân biệt con người thực sự với những cỗ máy tiên tiến tiềm năng: một cỗ máy không bao giờ có thể sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo để thích ứng với mọi tình huống, và nó sẽ thiếu khả năng suy luận tổng quát cần thiết để hành động trong mọi tình huống. Đây là tiền thân của Bài kiểm tra Turing hiện đại. Ông viết trong Luận về phương pháp:

Tôi đã nỗ lực đặc biệt để chứng minh rằng nếu bất kỳ cỗ máy nào như vậy có các cơ quan và hình dạng bên ngoài của một con khỉ hoặc một số loài động vật khác thiếu lý tính, chúng ta sẽ không có cách nào biết được rằng chúng không hoàn toàn có cùng bản chất với những loài động vật đó; trong khi đó, nếu bất kỳ cỗ máy nào như vậy có hình dạng giống với cơ thể chúng ta và bắt chước hành động của chúng ta càng sát như có thể về mọi mặt thực tế, chúng ta vẫn sẽ có hai cách rất chắc chắn để nhận ra rằng chúng không phải là người thật. Thứ nhất, chúng không bao giờ có thể sử dụng từ ngữ, hoặc kết hợp các dấu hiệu khác, như chúng ta làm để bày tỏ suy nghĩ của mình với người khác. Bởi vì chúng ta chắc chắn có thể hình dung ra một cỗ máy được chế tạo sao cho nó phát ra từ ngữ, và thậm chí phát ra những từ ngữ tương ứng với các hành động của cơ thể gây ra sự thay đổi trong các cơ quan của nó (ví dụ: nếu bạn chạm vào nó ở một điểm, nó sẽ hỏi bạn muốn gì, nếu bạn chạm vào nó ở một điểm khác, nó sẽ kêu lên rằng bạn đang làm đau nó, v.v.). Nhưng không thể tưởng tượng nổi một cỗ máy như vậy lại có thể tạo ra các cách sắp xếp từ ngữ khác nhau để đưa ra câu trả lời có ý nghĩa phù hợp với bất cứ điều gì được nói trước mặt nó, như người kém thông minh nhất cũng có thể làm được. Thứ hai, ngay cả khi những cỗ máy như vậy có thể làm một số việc tốt như chúng ta làm, hoặc thậm chí tốt hơn, chúng chắc chắn sẽ thất bại trong những việc khác, điều này sẽ cho thấy rằng chúng hoạt động không phải thông qua sự hiểu biết mà chỉ dựa trên sự sắp xếp của các cơ quan của chúng. Bởi vì trong khi lý tính là một công cụ phổ quát có thể được sử dụng trong mọi tình huống, thì các cơ quan này (của cổ máy) cần một sự sắp xếp cụ thể cho mỗi hành động cụ thể; do đó, về mặt thực tế, không thể nào một cỗ máy có đủ các cơ quan khác nhau để hoạt động trong mọi tình huống của cuộc sống theo cách mà lý tính của chúng ta khiến chúng ta hành động.

Chỉ bằng hai cách này, chúng ta cũng có thể biết được sự khác biệt giữa người và thú. Bởi lẽ, điều đáng chú ý là không có người nào đần độn hay ngu dốt đến mức – kể cả người điên – không thể sắp xếp các từ ngữ lại với nhau và tạo thành câu để diễn đạt suy nghĩ của mình; trong khi đó, không có loài động vật nào khác, dù hoàn hảo và tài giỏi đến đâu, có thể làm được điều tương tự. Điều này không phải vì chúng thiếu các cơ quan cần thiết, bởi vì chúng ta thấy rằng chim ác và vẹt có thể phát ra âm thanh như chúng ta, nhưng chúng không thể nói như chúng ta: nghĩa là, chúng không thể thể hiện rằng chúng đang nghĩ những gì chúng đang nói. Mặt khác, những người sinh ra bị điếc và câm, và do đó bị tước đoạt các cơ quan phát âm giống như thú hoặc thậm chí nhiều hơn, thường tự tạo ra các dấu hiệu của riêng mình để những người thường xuyên ở bên cạnh họ và có thời gian học ngôn ngữ của họ có thể hiểu được. Điều này không chỉ cho thấy thú có ít lý tính hơn người, mà còn cho thấy chúng hoàn toàn không có lý tính. Bởi vì rõ ràng chỉ cần rất ít lý tính là có thể nói được; Và bởi vì sự bất bình đẳng có thể được quan sát thấy giữa các loài động vật cũng như giữa con người, và một số loài động vật dễ huấn luyện hơn những loài khác, nên thật khó tin rằng một cá thể ưu tú của loài khỉ hoặc vẹt lại không thể nói tốt như một đứa trẻ ngốc nghếch nhất – hoặc ít nhất là tốt như một đứa trẻ có não bộ khiếm khuyết – nếu tâm hồn của chúng không hoàn toàn khác biệt với chúng ta. Và chúng ta không được nhầm lẫn lời nói với những chuyển động tự nhiên thể hiện cảm xúc và có thể được bắt chước bởi máy móc cũng như động vật. Chúng ta cũng không nên nghĩ, giống như một số người xưa, rằng các loài thú biết nói, mặc dù chúng ta không hiểu ngôn ngữ của chúng. Bởi vì nếu điều đó là đúng, thì vì chúng có nhiều cơ quan tương ứng với cơ quan của chúng ta, chúng có thể khiến chúng ta cũng như đồng loại của chúng hiểu được. Một thực tế rất đáng chú ý khác là mặc dù nhiều loài động vật thể hiện kỹ năng tốt hơn chúng ta trong một số hành động của chúng, nhưng chính những loài động vật đó lại không thể hiện kỹ năng nào cả trong nhiều hành động khác; vì vậy, những gì chúng làm tốt hơn không chứng tỏ rằng chúng có trí thông minh, bởi vì nếu đúng như vậy thì chúng sẽ có trí thông minh hơn bất kỳ ai trong chúng ta và sẽ vượt trội hơn chúng ta trong mọi thứ. Điều đó chứng tỏ đúng hơn rằng chúng hoàn toàn không có trí thông minh, và chính tự nhiên tác động lên chúng theo sự sắp xếp của các cơ quan. Cũng như vậy, một chiếc đồng hồ, chỉ gồm các bánh răng và lò xo, có thể đếm giờ và đo thời gian chính xác hơn chúng ta với tất cả trí tuệ của mình.

Sau đó, tôi đã mô tả linh hồn có lý tính (reasonable soul) và chỉ ra rằng, không giống như những điều khác mà tôi đã nói đến, nó không thể được hình thành từ tiềm năng của vật chất bằng bất kỳ cách nào, mà phải được tạo ra một cách đặc biệt. Và tôi đã chỉ ra rằng việc nó chỉ đơn thuần trú ngụ trong cơ thể con người như người lái tàu trong con tàu của mình, ngoại trừ có lẽ để điều khiển các chi, là chưa đủ, mà nó phải được gắn kết và hợp nhất chặt chẽ hơn với cơ thể để, ngoài khả năng vận động này, còn có cảm xúc và ham muốn giống như chúng ta và do đó tạo thành một con người thực sự. Ở đây tôi đã nói một chút về chủ đề linh hồn, vì nó vô cùng quan trọng. Bởi vì sau sai lầm của những người phủ nhận Chúa, mà tôi tin rằng tôi đã bác bỏ một cách đầy đủ, không có điều gì dẫn dắt những tâm trí yếu đuối đi xa khỏi con đường ngay thẳng của đức hạnh hơn là việc tưởng tượng rằng linh hồn của loài thú có cùng bản chất với linh hồn của chúng ta, và do đó sau cuộc sống hiện tại này chúng ta không có gì phải sợ hãi hay hy vọng, cũng giống như ruồi và kiến. Nhưng khi chúng ta biết loài thú khác biệt với chúng ta đến mức nào, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn những lập luận chứng minh rằng linh hồn của chúng ta có bản chất hoàn toàn độc lập với thể xác, và do đó, nó không bị ràng buộc phải chết cùng với thể xác. Và vì chúng ta không thể thấy bất kỳ nguyên nhân nào khác hủy diệt linh hồn, nên chúng ta tự nhiên đi đến kết luận rằng nó bất tử.

(Selected Writings, Phần V, 44-46)

Những điều trên đã được Descartes viết gần bốn thế kỷ trước, và 300 năm trước Alan Turing. Năm nay kỷ niệm 430 năm ngày sinh của ông. Cơ thể con người được Descartes cho là cỗ máy do Chúa thiết kế. Như ông đã nói trong Luận về phương pháp, cơ thể con người là một cỗ máy được “tạo ra bởi bàn tay của Chúa, được sắp xếp trật tự tốt hơn nhiều so với bất kỳ cỗ máy nào do con người chế tạo, và chứa đựng trong chính nó những chuyển động kỳ diệu hơn bất kỳ cỗ máy nào như vậy.” (Selected Writings, 43)

VI

KHÔNG GIAN VÀ VẬT CHẤT (Descartes và Einstein)

Trong tác phẩm Principles of Philosophy, Phần II, Article (Mục) 11, Descartes khẳng định:

11. Không có sự khác biệt thực sự giữa không gian và vật chất hữu hình.

Nếu chúng ta loại bỏ khỏi một viên sỏi những tính chất của nó như độ cứng, màu sắc, độ nặng, tính chất lạnh và nóng cũng như tất cả các phẩm chất tương tự khác thì

“chúng ta sẽ thấy rằng trong ý niệm về hòn đá chẳng còn gì ngoại trừ việc nó là một thứ gì đó được mở rộng theo chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, đây chính là những gì bao hàm trong ý niệm về không gian – không chỉ là một không gian chứa đầy các vật thể, mà ngay cả một không gian được gọi là ‘trống rỗng’.” (Selected Writings, Principles of Philosophy, 193)

Một trong những hệ quả rất thú vị của thuyết tương đối rộng của Einstein nói rằng, khi không còn vật chất nữa, thì không gian cũng biến mất theo. Ông đồng ý với Descartes rằng không gian không có trạng thái vật lý độc lập. Không có khái niệm không gian rỗng một mình như sân khấu.

Nhưng một trong những sai lầm của Descartes là tin rằng nguyên tử, những hạt nhỏ nhất cấu tạo vật chất không chia cắt được nữa, là không tồn tại:

20. Các kết quả nêu trên cũng chứng minh sự bất khả thi của (sự tồn tại của) các nguyên tử.

(Principles of Philosophy, trang 197, Selected Writings).

Salon của Madame Geoffrin 1755 quy tụ những nhà khai sáng Pháp. Tranh của nghệ sĩ Anicet Charles Gabriel Lemonnier. Trong ảnh có Jean d’Alembert, Jean-Jacques Rousseau, một tượng bán thân của Voltaire,  François Quesnay, Denis Diderot, Anne-Robert-Jacques Turgot, Montesquieu, Jean le Rond d’Alembert, Étienne Bonnot de Condillac, Comte de Buffon. Có thể xem chi tiết các cá nhân ở link này https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Salon_de_Madame_Geoffrin.jpg

 

VII

HÌNH HỌC (LA GÉOMÉTRIE)

[Hình học giải tích], hơn bất kỳ suy đoán siêu hình nào của ông, đã làm cho tên tuổi của Descartes trở nên bất hủ, và là bước tiến vĩ đại nhất từng được thực hiện trong sự phát triển của các khoa học chính xác.

—John Stuart Mill

Về mặt kỹ thuật, hình học giải tích đã cách mạng hóa phương pháp toán học.

– Morris Kline, nhà toán học Mỹ, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu lịch sử toán

Người sáng lập hình học giải tích, nhà vật lý và triết học duy lý. Một gương mặt cương nghị.

Trang đầu, Tập một, của tác phẩm La Géométrie

Toán học có vị trí đặc biệt trong tư duy của Descartes, mà nếu không có, Descartes không phải là Descartes. Toán học thực ra đã có trong giáo dục khai phóng từ xưa, nằm trong bốn môn khoa học quadrivium. Toán học, nhất là tác phẩm Hình học của Euclid, từng là sách gối đầu giường trong giáo dục của các trường dòng Tên. Toán học đã làm nên lý tính của phương Tây xuyên suốt lịch sử, ảnh hưởng của nó kéo dài cho đến thời Einstein. Nhưng ở đây, Descartes là người sáng tạo ra hình học giải tích, kết hợp hình học và đại số. Nó không chỉ hữu ích cho toán học, khoa học, mà còn cho nền tảng tư duy của ông. Nhà nghiên cứu lịch sử toán học Morris Kline cho rằng, “Về mặt kỹ thuật, hình học giải tích đã cách mạng hóa phương pháp toán học.” (Kline, Mathematics, 51)

Tác phẩm Hình học của ông không phải được xuất bản riêng, mà nằm trong phần Phụ lục của Luận về phương pháp, chung với La dioptrique, chứa đựng ấn phẩm đầu tiên về định luật khúc xạ (được Willebrord Snell phát hiện trước đó), và Les météores, bao gồm, trong số những thứ khác, lời giải thích định lượng đầu tiên có tính thỏa đáng về cầu vồng. Ấn bản gốc của Phương pháp được xuất bản mà không ghi tên tác giả, nhưng tác giả của tác phẩm này được biết đến rộng rãi.

Ngay từ khi còn ở tuổi teen, Descartes đã say mê nghiên cứu toán học, dần dần từ bỏ mọi sở thích khác để theo đuổi nó, và ở tuổi 21, ông đã nắm vững tất cả những kiến ​​thức toán học được biết đến. Trong sự kiện đêm ngày 10 tháng 11 năm 1619, ông đã mơ thấy Thiên thần Chân lý hiện ra với ông và khẳng định niềm tin vốn đã sâu sắc trong tâm trí ông rằng toán học là chìa khóa duy nhất cần thiết để mở khóa những bí mật của tự nhiên. Trải nghiệm đó sống động và thuyết phục đến nỗi Descartes về sau có thể nhắc đến chính xác ngày đó như là thời điểm của sự mặc khải vĩ đại đánh dấu bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp của ông. (Burtt, The Metaphysical Foundations, 96-97).

Triết lý của ông về vai trò của toán học trong việc giải thích vật lý được diễn tả như sau:

“Tôi cho rằng mình chẳng biết gì về vật lý nếu chỉ có thể giải thích được mọi thứ có thể như thế nào, mà không thể chứng minh được chúng không thể khác đi. Bởi vì, khi đã quy giản vật lý về toán học, việc chứng minh điều đó giờ đây đã khả thi, và tôi nghĩ rằng mình có thể làm được điều đó trong phạm vi kiến ​​thức hạn hẹp của mình.”

Với những lời này, nhà nghiên cứu sử khoa học Crombie nói, René Descartes đã trở thành “một trong những nhà cách mạng hàng đầu của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17”. Trong khi vật lý học Aristotle lấy “hình thức” (forms) và “tính chất” (qualities) lầm gốc, điều đã chứng tỏ là một ngõ cụt trong việc giải thích thế giới, Descartes khẳng định “ý tưởng rõ ràng và cơ bản” rằng thế giới vật chất chỉ là một cơ chế thuần túy (sheer mechanism) và không gì khác, và ở đây, chính toán học có thể can thiệp. Trong hình học giải tích, có lẽ là thành tựu trường tồn nhất của Descartes, ông đã tạo ra một kỹ thuật để biểu diễn các định luật này bằng các phương trình đại số. Như vậy, ông đã đưa ra chương trình lý tưởng của tất cả các ngành khoa học lý thuyết: xây dựng từ số lượng nguyên tắc tối thiểu một hệ thống bao quát tất cả các sự kiện đã biết và dẫn đến việc khám phá ra những sự kiện mới.

Toán học thuần túy chỉ là một bộ khung. Phần thịt, máu và sự sống của toán học nằm ở những gì người ta làm với nó. Toán học có ý nghĩa (loại toán học khác cũng tồn tại) phục vụ những mục đích mà, theo lời của Descartes, biến con người thành chủ nhân và người sở hữu của tự nhiên. Ý nghĩa của toán học nằm ngoài toán học thuần túy, cũng giống như ý nghĩa của văn học hay nằm ngoài những tập hợp từ ngữ trên giấy. Để hiểu toán học, người ta phải biết tại sao mình muốn có một kết quả cụ thể, nó có liên quan gì đến các kết quả khác và mình có thể làm gì với nó. (A. C. Crombie, Chương 4, trong Kline, Mathematics in the Modern World)

Châu Âu lục địa từ lâu đã có truyền thống: Galileo, Descartes, Mersenne, Torricelli, Huygens và Leibniz là những người đều sử dụng toán học trong triết học tự nhiên của họ. Ở Anh, nhận thức này đến tương đối muộn. Francis Bacon, như đã đề cập, không quan tâm đến toán học như một công cụ nghiên cứu. Và dường như nhiều nhà khoa học Anh giữa thời Bacon và Newton cũng vậy. Ví dụ, Robert Boyle đã phản đối việc sử dụng toán học trong khoa học thực nghiệm và năng khiếu toán học của chính ông cũng đang gây tranh cãi. Một số nhà tư tưởng hàng đầu của thời kỳ Thanh giáo (Anh) đương nhiên là các nhà toán học, đặc biệt là Hobbes và Wallis, nhưng hầu hết các nhà khoa học và toán học người Anh trong những ngày đầu của Hội Hoàng gia đều tránh xa lối suy luận logic chặt chẽ, hình thức của phái Descartes, mà ưa chuộng cách tiếp cận thận trọng, thực dụng và thực nghiệm hơn, trong đó kiến ​​thức được tích lũy từng chút một và hiếm khi đúng một cách không thể bác bỏ.

Trong hai phần ba cuối thế kỷ XVII, nước Pháp là trung tâm toán học không thể tranh cãi. Những nhân vật hàng đầu là René Descartes và Pierre de Fermat (1601-1665), bên cạnh Gilles Persone de Roberval (1602-1675), Girard Desargues (1591-1661) và Blaise Pascal (1623-1662) là những người có những đóng góp rất đáng kể vào toán học.

 

VIII

TOÁN HỌC VÀ TRIẾT HỌC Ở DESCARTES

Trong bất kỳ ngành khoa học tự nhiên nào, khoa học đích thực chỉ có thể được tìm thấy trong chừng mực nó chứa đựng toán học trong đó.

— Immanuel Kant, Nền tảng siêu hình học của khoa học tự nhiên

Lịch sử toán học và lịch sử triết học có thể được ví như những “mặt phẳng giao nhau” trong cuộc đời của nhiều người. Trong số nhiều người nổi tiếng về toán học và triết học, René Descartes có lẽ là người xuất sắc nhất. Sống vào nửa đầu thế kỷ XVII, ông là cha đẻ của hình học giải tích và triết học hiện đại. Thực tế, toán học có ảnh hưởng lớn đến triết học của ông. Vào thời Descartes, thuật ngữ “triết học” có nghĩa rộng hơn nhiều so với ngày nay. Nó bao gồm tất cả những gì chúng ta gọi là “khoa học”, trong khi thuật ngữ “khoa học” chỉ đơn giản bao hàm bất kỳ ngành kiến ​​thức nào. Descartes không hề phân biệt giữa khoa học và triết học. Ông tuyên bố:

Từ “triết học” có nghĩa là nghiên cứu về trí tuệ (wisdom), và trí tuệ ở đây không chỉ được hiểu là sự khôn ngoan (prudence) trong việc quản lý công việc, mà còn là kiến ​​thức hoàn hảo về mọi thứ mà con người có thể biết, cả về cách sống, cách giữ gìn sức khỏe lẫn việc phát minh ra mọi loại hình nghệ thuật.

Theo nghĩa rộng nhất, “triết học” bao gồm siêu hình họcvật lý. Vì vậy, ông tuyên bố, triết học giống như một cái cây:

toàn bộ triết học giống như một cái cây, trong đó rễ là siêu hình học, thân cây là vật lý, và các cành mọc ra từ thân cây này là tất cả các ngành khoa học khác, quy về ba nguyên tắc, đó là: y học, cơ học và đạo đức…. (Nguyên lý triết học)

Theo nghĩa hẹp hơn, “triết học” đồng nghĩa với triết học tự nhiên (natural philosophy). Do đó, Descartes cho rằng ông coi công trình nghiên cứu của mình về quang học và khí tượng học là một phần của triết học, cũng như tất cả các học thuyết vật lý được trình bày trong tác phẩm Le Monde. Nhiều nghiên cứu cho thấy toán học thật vậy có ảnh hưởng lên triết học của Descartes, trong một trào lưu. Nhà toán học Anh Herbert W. Turnbull (1885 – 1961) trong quyển sách Các nhà toán học vĩ đại đã đưa ra nhận định chung như sau:

Từ đầu thế kỷ XVII, số lượng [các nhà toán học] đã tăng lên… rất nhanh… Ở Pháp, số lượng các nhà toán học thiên tài nhiều bằng cả châu Âu đã sản sinh ra trong thiên niên kỷ trước đó… Thời đại ấy là thời đại toán học; lối tư duy cũng mang tính toán học; và các phương pháp của nó được coi là cần thiết cho một triết học chính xác, hoặc bất cứ điều gì khác chính xác. Đó là thời đại mà cái gọi là triết học hiện đại bắt đầu; và những người tiên phong trong số các triết gia của thời đại này, giống như các triết gia Hy Lạp cổ đại, đều là ­những nhà toán học xuất sắc. Họ là Descartes và Leibniz. (Turnbull, The Great Mathematicians, 70; trong Moorman, The Influence of Mathematics on the Philosophy of Descartes, 297).

Burtt nói, một trong những lý do khiến ảnh hưởng của Descartes lớn khắp châu Âu trong giai đoạn cuối thế kỷ XVII nằm ở chỗ ông biết xem xét lại tất cả các vấn đề lớn của thời đại bằng cách liên kết chúng theo cách này hay cách khác với cỗ xe của khoa học toán thắng lợi. (Burtt, 117)

Có thể nói rằng, có một mối liên hệ sự trỗi dậy của triết học cổ điển thế kỷ XVII với sự phát triển của các khoa học thực chứng nói chung, và đặc biệt là vật lý toán học; chính yếu tố này làm cho chủ nghĩa Descartes (Cartesianism) khác biệt với siêu hình học thời trung cổ.

 

IX

DESCARTES VÀ KHOA HỌC CỦA ÔNG

Trong phần mở đầu các bài giảng về lịch sử triết học, Hegel cảnh báo chống lại những cuốn lịch sử khô khan, trong đó sự kế thừa của các hệ thống chỉ được trình bày đơn giản như một loạt các ý kiến, sai lầm và những suy nghĩ kỳ quặc. Trong những tác phẩm như vậy, ông nói, ‘toàn bộ lịch sử triết học trở thành một chiến trường phủ đầy xương cốt của người chết; nó là một vương quốc không chỉ được hình thành từ những cá nhân đã chết và vô hồn, mà còn từ những hệ thống bị bác bỏ và chết về mặt tinh thần, bởi vì mỗi hệ thống đã giết chết và chôn vùi hệ thống kia.

— A. Kenny, The Rise of Modern Philosophy, tr. xiii

Người ta có ấn tượng rằng sau Ockham (1287–1347), triết học đã ngủ đông trong suốt thế kỷ XV và XVI, và không trỗi dậy cho đến thời Descartes khi nó lại nổi lên với một hình thức hoàn toàn khác, nếu nói hơi quá một chút. Thực tế, các trường đại học lớn thời trung cổ không còn sản sinh ra những triết gia tầm cỡ như Paris vào thế kỷ XIII và Oxford vào thế kỷ XIV nữa. Những nhân vật quan trọng trong thế kỷ XV và XVI sống rải rác khắp châu Âu, là thành viên của nhiều cộng đồng khác nhau, hoặc là những nhà tư tưởng đơn độc được sự bảo trợ của một lãnh chúa địa phương. Không ai trong số họ đạt được, hoặc xứng đáng với, tầm ảnh hưởng quốc tế lâu dài của những triết gia vĩ đại nhất thời trung cổ. Vào thế kỷ XVII, khi những triết gia hàng đầu lại xuất hiện, chúng ta thấy rằng không ai trong số họ đạt được danh tiếng với tư cách là giáo sư đại học. (A. Kenny, An Illustrated brief history) Lý do: đại học đã bị chủ nghĩa kinh viện, dưới sự bảo trợ của Giáo hội, chiếm giữ, không còn là nơi nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Ảnh hưởng của Descartes vô cùng sâu rộng, quan trọng nhất là bởi cách ông (mặc dù tin vào Chúa và linh hồn) đã loại bỏ khỏi tư tưởng của mình bất kỳ dấu vết nào của các thế lực huyền bí và khẳng định rằng cả thế giới chúng ta đang sống và các sinh vật sinh sống trên thế giới (bao gồm cả chính chúng ta) đều có thể được hiểu theo các thực thể vật lý cơ bản tuân theo các quy luật mà chúng ta có thể xác định bằng thí nghiệm và quan sát. Đây cũng chính là tinh thần khai sáng của Melitus thế kỷ thứ VI trước công nguyên được mở rộng, nhưng lần này có nhiều chất khoa học hơn. (Xem ảnh hưởng của Descartes tại châu Âu trong Jonathan I. Israel, Radical Enlightenment, Chương 2, Government and Philosophy)

Trong khoa học, những đóng góp của Descartes, mặc dù không có tầm vóc và ý nghĩa rộng lớn như công trình của Copernicus, Kepler hay Newton, nhưng chắc chắn cũng không thể xem nhẹ. Lý thuyết về các xoáy nước của ông là lý thuyết vũ trụ học thống trị thế kỷ XVII. Ông là người sáng lập triết học cơ học, tức là triết học cho rằng tất cả các hiện tượng tự nhiên, bao gồm cả cơ thể con người, nhưng ngoại trừ linh hồn, đều quy về chuyển động của các hạt tuân theo các định luật cơ học. Trong cơ học thuần túy, ông đã xây dựng định luật quán tính, ngày nay được biết đến là định luật chuyển động thứ nhất của Newton: Nếu không có lực tác dụng lên một vật và vật đó đang đứng yên, nó sẽ vẫn đứng yên, và nếu nó đang chuyển động, nó sẽ tiếp tục chuyển động theo đường thẳng với tốc độ không đổi.

LE MONDE

Từ lúc trải nghiệm những giấc mơ huyền bí bên bờ sông Danube năm 1619, Descartes đã cho xuất bản Discourse on Method, Dioptrics, Geometry, Meteorology (1637) như tác phẩm đầu tay. Nhưng công sức chính của ông là chuẩn bị một luận văn đồ sộ, trong đó ông dự định trình bày tất cả các ý tưởng của mình về vật lý. Tác phẩm có tựa đề Le Monde, hay Traité de la Lumière (Thế giới, hay Luận văn về Ánh sáng) dự định xuất bản năm 1633. Nhưng trước đó, tin tức về phiên tòa xét xử và kết án Galileo vì tội ủng hộ thuyết nhật tâm của Copernicus đến tai ông ở Hà Lan. Vì quan điểm của Copernicus là trọng tâm trong vũ trụ học và vật lý của ông, Descartes đã cho dừng việc xuất bản cuốn Thế giới, với hy vọng rằng cuối cùng Giáo hội sẽ rút lại sự lên án. Mặc dù Descartes lo sợ Giáo hội, ông cũng hy vọng rằng vật lý của ông một ngày nào đó sẽ thay thế vật lý của Aristotle trong giáo lý của Giáo hội và được giảng dạy trong các trường học Công giáo.

 

Minh họa sự vận hành của vũ trụ, trong đó có hệ thống mặt trởi, cũng như các hệ mặt trời khác, bằng thuyết xoáy của Descartes,.

Năm 1644, dựa trên nội dung được cập nhật của Le Monde, Descartes cho xuất bản tác phẩm Principia philosophiae (Nguyên lý triết học), ông muốn nói đến triêt học tự nhiên hay vật lý, trong đó Descartes đề xuất mô hình vận hành của vũ trụ, và như ông nói ở cuối tác phẩm, “không có hiện tượng nào của tự nhiên bị bỏ sót trong luận thuyết này”. Ý ông muốn nói là ông đã chỉ ra những nguyên tắc mà về nguyên tắc, tất cả các hiện tượng đều có thể được giải thích. Vấn đề chỉ là áp dụng các nguyên tắc của ông vào bất kỳ hiện tượng nào bạn chọn, và sự hiểu biết sẽ đến. Hệ thống triết học tự nhiên (“siêu hình học”) của ông được nhắm đến hoàn chỉnh, bao quát toàn diện có thể thay thế hệ thống của Aristotle và chủ nghĩa Kinh viện đã thống trị tư tưởng châu Âu trong nhiều thế kỷ.

Trong Nguyên lý triết học, ông cho rằng mặt trời nằm ở trung tâm của một vùng xoáy (vortex) khổng lồ gồm vật chất vô hình đang quay, và chuyển động xoáy này mang các hành tinh quay xung quanh theo, giống như những chiếc lá trong một vòng xoáy nước. Descartes còn đề xuất thêm rằng mỗi ngôi sao là một mặt trời, với vùng xoáy riêng của nó, vì vậy vũ trụ thực sự là một biển xoáy. Điều này cung cấp một lời giải thích cơ học và không yêu cầu tác động từ xa, nhưng rõ ràng ủng hộ thuyết Copernicus. Dễ hình dung, lý thuyết xoáy về chuyển động của các hành tinh đã được chấp nhận và minh họa nhiều lần trong thế kỷ sau Descartes.

Do ảnh hưởng của Descartes lớn đến nỗi trong những thập kỷ sau khi ông qua đời, việc chấp nhận các ý tưởng của Newton về lực hấp dẫn và chuyển động của các hành tinh ở Pháp và một số nơi khác ở châu Âu đã bị trì hoãn đáng kể vì những ý tưởng này không phù hợp với Descartes. Có một chút chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong chuyện này – người Pháp ủng hộ người bảo vệ của họ và bác bỏ các ý tưởng của người Anh, trong khi Newton, tất nhiên, là một nhà tiên tri được tôn kính ở đất nước của mình. (Gribbin)

Descartes không phải hoàn toàn đúng mọi thứ. Thực tế ông có nhiều sai lầm, có ảnh hưởng kềm hãm sự tiến bộ khoa học ở một số vùng của châu Âu (đặc biệt là ở Pháp) trong nhiều thập kỷ, cho đến tận thế kỷ XVIII. Sai lầm lớn nhất của Descartes là việc bác bỏ ý tưởng về chân không hay “khoảng rỗng” (vacuum, void). Điều này cũng dẫn ông đến việc bác bỏ ý tưởng về nguyên tử, một ý tưởng đang được Pierre Gassendi khôi phục vào khoảng thời gian này, bởi vì mô hình nguyên tử của thế giới xem mọi thứ được tạo thành từ những vật thể nhỏ (các nguyên tử) chuyển động trong khoảng trống và tương tác với nhau. Mặc dù ý tưởng về nguyên tử đã có từ thời Democritus vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, và được Epicurus, người sống từ khoảng năm 341 trước Công nguyên đến khoảng năm 171 trước Công nguyên, khôi phục, nhưng nó chưa bao giờ chiếm ưu thế ở Hy Lạp cổ đại; và Aristotle, nhà triết học Hy Lạp có ảnh hưởng nhất về tư tưởng phương Tây trước cuộc cách mạng khoa học, đã đặc biệt bác bỏ thuyết nguyên tử vì sự liên hệ của nó với ý tưởng về khoảng trống.

X

DESCARTES VÀ NƯỚC PHÁP

“La Liberté Cartésienne”

— Jean-Paul Sartre, diễn giải khái niệm “Tự do Cartesian” để làm nền tảng cho triết học hiện sinh của ông (1946)

Ảnh hưởng của Descartes lên tư duy triết học nước Pháp là rất lớn. Trong cuốn sách Lịch sử Triết học Hiện đại ở Pháp, học giả Lucien Lévy-Bruhl lập luận rằng Descartes đã thiết lập “bản sắc trí thức Pháp” (French intellectual character) ở tầm quốc gia. Ông cho rằng lịch sử triết học Pháp, từ Descartes cho đến những năm 1890 tức cuối thế kỷ XIX, thể hiện những đặc điểm cụ thể liên quan đến tính cách dân tộc và đời sống trí thức Pháp. Theo ông, điều quan trọng là nhiều triết gia Pháp bắt đầu sự nghiệp học tập của mình từ toán học hoặc khoa học tự nhiên. Voltaire “trở thành người tiên phong của Newton” ở Pháp, trong khi Condillac viết về ngôn ngữ của phép tính vi phân và tích phân. Lévy-Bruhl kết luận: “Có vẻ như có thể suy luận rằng, không phải triết học Pháp dựa trên toán học, mà là ở Pháp đã có một mối liên hệ mật thiết giữa tinh thần toán học và triết học” (Lévy-Bruhl, History of modern philosophy in France, 470).

Triết học Pháp trong thời gian nói trên được định hình bởi những biến động của tinh thần Cartesian. Tinh thần Cartesian là “sự phê phán bắt buộc đối với triết học hiện đại khi đã thoát khỏi thời Trung Cổ và vượt qua thời Phục Hưng và Cải cách”, mục tiêu chính là tách biệt “sự suy đoán khoa học hoặc triết học khỏi thần học”, cũng như “lật đổ toàn bộ hệ thống thể chế dựa trên truyền thống lịch sử thường không thể biện minh được…” Triết học Pháp đặc biệt thích hợp với công việc này nhờ tính chất duy lý, phổ quát và nhân văn, cũng như sự nhấn mạnh vào tính logic rõ ràng. Lévy-Bruhl viết tiếp: “Tinh thần này, vốn đã trở nên chiếm ưu thế vào cuối thế kỷ XVII, được truyền bá trong thế kỷ XVIII thông qua Fontenelle và Montesquieu, thịnh hành trong số ‘các nhà triết học’ (của Thời kỳ Khai sáng), và thậm chí cả ở Condillac, và tự tiêu tan trong Cách mạng Pháp”, và đã được “hồi sinh” trong triết học của Auguste Comte. (Lévy-Bruhl, nt, 477)

Năm 1637 có hai sự kiện quan trọng trong đời sống trí thức ở Pháp. Thứ nhất, Viện hàn lâm Pháp chính thức được thành lập (đã được phép vua Louis XIII từ năm 1635). Viện tiến hành biên soạn một từ điển tiếng Pháp dựa trên ngôn ngữ giao tiếp của người dân Paris, phụ nữ và đại đa số dân chúng. Ngôn ngữ được làm sáng tỏ, trở nên độc lập với tiếng Latinh, và có chất lượng cao khiến nó trở thành ngôn ngữ quốc tế trong tương lai. Thứ hai, Luận văn về phương pháp của Descartes cũng ra đời năm 1637, và cũng đã tạo ra một sự làm sáng tỏ tương tự về triết học, với sự tôn vinh lý trí và việc thiết lập lại trật tự và sự thống nhất trong thế giới tư tưởng. Ngoài ra trong luận thuyết về Đam mê, được xuất bản mười hai năm sau đó, ông khẳng định rằng đam mê có thể được kiểm soát bởi ý chí và cho rằng ý chí có thể nhận được sự hướng dẫn từ lý tính, mà ông tin rằng chắc chắn có thể phân biệt thiện ác.

Tuy nhiên, Viện Hàn lâm Pháp lúc bấy giờ, dưới sự lãnh đạo của Hồng y Richelieu (1635–1642), đã không chính thức đề cập, mời hay tôn vinh René Descartes trong những năm đầu thành lập. Descartes và tác phẩm đột phá đầu tiên Luận về Phương pháp bị bỏ qua – vì những lý do chính trị và tôn giáo. Nhiệm vụ ban đầu của Học viện đứng ngoài triết học và khoa học tự nhiên, mà chỉ hoàn toàn tập trung vào văn học, ngữ pháp và hùng biện – để trau chuốt ngôn ngữ Pháp. Bốn mươi thành viên đầu tiên được Hồng y Richelieu lựa chọn là các nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia và các nhà hùng biện tại triều đình. Với tư cách là người đứng đầu chính phủ (1624 – 1642) của vua Louis XIII, Richelieu ủng hộ chủ nghĩa kinh viện truyền thống và chính thống giáo Công giáo để duy trì quyền kiểm soát tuyệt đối của nhà nước.

Những nơi nào nhắc đến Descartes? Ông và các công trình của ông được thảo luận sôi nổi trong các salon tư nhân không chính thức ở Paris. Người bạn thân của ông, tu sĩ Marin Mersenne, điều hành một mạng lưới thư từ trí thức khổng lồ ở Paris, hoạt động như một “học viện ảo”, nơi các ý tưởng của Descartes liên tục được các nhà khoa học và toán học phân tích – hoàn toàn độc lập với Viện Hàn lâm Pháp.

Hơn một thế kỷ sau (1751), trong lời tựa nổi tiếng cho bộ Bách khoa toàn thư, Diderot và d’Alembert đã giải thích nguồn cảm hứng của họ cho bộ sách khai sáng vĩ đại này, cho rằng nó đến từ Bacon, Descartes, Newton và Locke. “Chính tác giả vĩ đại này (Bacon) là người mà chúng ta mang ơn nhiều nhất về kế hoạch bách khoa toàn thư của mình.” Trong khi đó, Descartes đã phát minh ra hình học đại số, đề xuất các định luật chuyển động và đưa chủ nghĩa kinh viện ra trước sự phê phán hoài nghi. Tuy nhiên, theo họ, cũng “cần phải cảm ơn các nhà triết học kinh viện vì họ đã bảo tồn tri thức và quan niệm của người Hy Lạp, rằng ý tưởng không phải là bẩm sinh mà là sản phẩm của sự suy ngẫm về cảm giác (reflection on sensation).” (J.G. Crowther)

Ngày 31 tháng 7 năm 1937 diễn ra Đại hội Triết học Quốc tế lần thứ IX (thường được gọi là Congrès Descartes nhằm kỷ niệm 300 năm xuất bản tác phẩm Luận về phương pháp), nhà thơ tên tuổi Pháp Paul Valéry (1871–1945) đọc một bài tham luận tại giảng đường lớn của Đại học Sorbonne, trong đó đứng trước nguy cơ nước Pháp bị chủ nghĩa toàn trị đe dọa, Valéry khẳng định sâu sắc rằng tinh thần và tính cách rõ nét nhất của người Pháp được định hình bởi tư duy Cartesian. Ông đưa ra cụm từ “La France est le pays de Descartes” – “Nước Pháp là đất nước của Descartes” — đúc kết trực tiếp quan điểm của ông về mối liên hệ máu thịt giữa tư tưởng Descartes và văn hóa Pháp. Đối với Valéry, triết học của Descartes giúp con người thức tỉnh, định vị lại bản thân như một chủ thể độc lập, tự chủ trong hành động và nhận thức, một trí tuệ thuần túy tự quan sát chính mình, giải phóng bản thân khỏi mọi thành kiến và cảm xúc hỗn độn để đạt tới sự kiểm soát tuyệt đối đối với hoạt động của tư duy. (Xem thêm Descartes, được trình bày bởi Paul Valéry)

Thế kỷ XVIII trước đó, Antoine-Léonard Thomas, một nhà thơ và nhà phê bình văn học người Pháp, sống từ năm 1732 đến năm 1785, đã được trao giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp năm 1765 nhờ bài diễn văn nổi tiếng ca ngợi triết gia René Descartes:

Từ thời Aristotle đến thời Descartes, tôi nhận thấy một khoảng trống kéo dài hai nghìn năm. Ở đó, tư duy độc đáo bị mất đi, giống như một dòng sông chết dần trong cát bụi, hoặc bị chôn vùi dưới lòng đất, và chỉ xuất hiện trở lại cách đó hàng nghìn dặm, dưới bầu trời mới và trên một vùng đất mới. […] Trong trạng thái này của trí tuệ con người, trong sự tê liệt chung này, cần một người có thể hồi sinh nhân loại, người sẽ thêm những suối nguồn mới cho sự hiểu biết, người sẽ khôi phục lại món quà tư duy, người sẽ nhìn thấy những gì đã được thực hiện, những gì còn phải làm, và tại sao sự tiến bộ lại bị đình trệ trong nhiều thế kỷ; một người có đủ táo bạo để lật đổ, đủ thiên tài để xây dựng lại, đủ trí tuệ để đặt nền móng vững chắc, đủ rực rỡ để làm chói mắt thế kỷ của mình và phá vỡ sự mê hoặc của các thế kỷ trước; một người sẽ làm kinh ngạc bởi sự vĩ đại trong tầm nhìn của mình. […] Người đàn ông này hẳn phải là Descartes. (Xem Maritain, Three Reformers, hay đầy đủ hơn Éloge de Descartes trong Wikipedia)

 

XI

ISAAC NEWTON

Giải thích toàn bộ tự nhiên là một nhiệm vụ quá khó khăn đối với bất kỳ một người nào hoặc bất kỳ thời đại nào. Tốt hơn nhiều là làm một chút với sự chắc chắn và để phần còn lại cho những người đến sau bạn. 

— Isaac Newton

Isaac Newton (1642 – 1727, 84t)

Trên đây là một phát biểu vô cùng khiêm tốn của một thiên tài vĩ đại. Newton luôn luôn là như thế. Ông khiêm tốn cho rằng những thành tựu của mình những viên sỏi nhẵn đẹp nhặc được bên bờ đại dương của những chân lý còn chưa được khám phá. Nhưng tuyên bố trên cũng cho thấy cách ông tiếp cận khoa học chọn một góc độ nhất định mà ông cho là khả thi. Trước ông đã có Galilei và Kepler là những người khai phá con đường.

Sẽ không thừa nếu chúng ta nhìn vào Isaac Newton, phương pháp và ý tưởng của ông để hiểu thêm Descartes và triết lý của Lục địa. Trong khi Descartes sử dụng trực quan (intuition) và diễn dịch (deduction) như nền tảng của phương pháp để khám phá, đòi hỏi phải có những tiên đề, thì Newton lại dùng phương pháp quy nạp, xuất phát từ những quan sát thực nghiệm rồi đi lên. Đây có thể xem là phương pháp của Galilei đã từng được sử dụng để khám phá, như trong thí nghiệm mặt phẳng nghiêng để khám phá định luật rơi tự đo. Triết lý của Newton là xem cách mạng khoa học là một quá trình lâu dài, còn tiếp tục xảy ra, không bao giờ hết. Ông đã viết câu nổi tiếng rằng “giải thích toàn bộ tự nhiên là một nhiệm vụ quá khó khăn đối với bất kỳ một người nào hoặc bất kỳ thời đại nào. Tốt hơn nhiều là làm một chút với sự chắc chắn và để phần còn lại cho những người đến sau bạn.” (Mokyr, Culture of Growth, 105)

Hơn nữa, dù chưa bao giờ rời khỏi nước Anh, Newton lại hòa nhập sâu sắc vào môi trường học thuật châu Âu chứ không phải chỉ riêng Anh. Tự học toán, ông dựa vào sách của các nhà toán học người Pháp (René Descartes và François Viète) và người Hà Lan (Frans van Schooten). Ông đã trao đổi thư từ  với Huygens, Leibniz và Johann Bernoulli, và ngay từ rất sớm đã được công nhận rộng rãi là một siêu sao khoa học quốc tế, công dân thành công nhất của nền Cộng hòa học thuật.

Isaac Newton rõ ràng là một trường hợp đặc biệt, cả về bề rộng những thành tựu khoa học của ông, và đặc biệt là về cách thức rõ ràng mà ông đã đặt ra những nguyên tắc cơ bản mà khoa học nên vận hành theo đó. Tuy nhiên, ngay cả Newton cũng dựa vào những người tiền nhiệm trực tiếp của mình, đặc biệt là Galileo Galilei và René Descartes, và theo nghĩa đó, những đóng góp của ông xuất phát một cách tự nhiên từ những gì đã có trước đó. Nếu Newton chưa từng tồn tại, tiến bộ khoa học có thể đã bị kìm hãm vài thập kỷ. Nhưng chỉ vài thập kỷ. Edmond Halley hoặc Robert Hooke hoàn toàn có thể đã đưa ra định luật nghịch đảo bình phương nổi tiếng về trọng lực; Gottfried Leibniz thực sự đã phát minh ra phép tính vi phân và tích phân một cách độc lập với Newton (và làm tốt hơn ông ấy); và lý thuyết sóng ánh sáng ưu việt của Christiaan Huygens đã bị kìm hãm bởi sự ủng hộ của Newton đối với lý thuyết hạt. (Gribbin, The Scientists)

Trong số 3.000 cuốn sách xếp trên các kệ của thư viện Trinity có một số tác phẩm được quyên tặng bởi các học giả khai sáng, tạo điều kiện để Newton tiếp thu các tác phẩm của Galileo và Descartes – cả hai người mà ông ngay lập tức nhận ra là mô tả một tầm nhìn khoa học chính xác hơn nhiều so với tầm nhìn được giới học thuật chính thống chấp nhận.

Trong năm thứ hai học tại Cambridge, Newton bắt đầu ghi chép vào một cuốn sổ tay dày cộp mà ông đặt tên là Quaestiones Quaedam Philosophicae (Một số câu hỏi triết học). Điều này cho thấy bản chất cô độc và kín đáo của ông, bởi vì những trang đầu và trang cuối của cuốn sổ tay này đều chứa đầy triết học Aristoteles chính thống (có thể được ghi chép trong các bài giảng). Chỉ đến giữa cuốn sổ, ông mới bắt đầu phác thảo những suy nghĩ riêng của mình, cố gắng dung hòa chúng với những gì ông đã học được từ việc nghiên cứu Galileo, Descartes, Kepler và Huygens. (Strathern, Dark Brilliance, Chương 18)

Đề cập đến công trình nghiên cứu quang học của Descartes, Newton nói:

“Những gì Descartes đã làm là một bước tiến tốt. […] Nếu tôi nhìn xa hơn Descartes, đó là nhờ đứng trên vai (sic) những người khổng lồ.” (Freely, Aladdin’s lamp, 281)

Dĩ nhiên những người khổng lồ thời ông còn có Galilei, Hooke, Kepler và nhiều người khác. Thế kỷ XVII là thời đại của những người khổng lồ, những thiên tài.

Một trong những phát biểu của Newton triết lý của ông được diễn tả như sau:

Nhiệm vụ chính của triết học tự nhiên là lập luận từ các hiện tượng mà không dựa trên giả thuyết, và suy luận nguyên nhân từ kết quả cho đến khi chúng ta đi đến nguyên nhân đầu tiên hết (very first cause), chắc chắn không phải là cơ học; và không chỉ để làm sáng tỏ cơ chế của thế giới, mà chủ yếu là để giải quyết những vấn đề này và những vấn đề kia tương tự.

— Opticks, Book Three. Part I, Query 28

Khoa học và thiên tài của nó được đối xử khác ở Anh. Newton qua đời năm 1727 ở tuổi 84. Tang lễ của ông được tổ chức tại Tu viện Westminster, một vinh dự thường chỉ dành cho hoàng gia cho đến thời điểm đó. Vào ngày tang lễ, quan tài của ông được đưa vào gian giữa bảy thế kỷ tuổi của Tu viện. Đây từng là nơi an nghỉ cuối cùng của các vị vua và hoàng hậu nước Anh kể từ thời Edward the Confessor năm 1066. Quan tài của Newton được khiêng bởi Lord Chancellor, hai công tước, ba bá tước và các thành viên của Hội Hoàng gia. Voltaire cũng như bất kỳ ai khác đều nhận ra tầm quan trọng của những gì ông đang chứng kiến: “Đồng bào ông đã tôn vinh ông… và chôn cất ông như thể ông là một vị vua đã làm cho dân chúng hạnh phúc.” Isaac Newton, một người sinh ra trong tầng lớp bình dân, người có trí tuệ vượt trội hơn tất cả những người khác cùng thời, đã được toàn thể dân chúng tôn vinh. Một sự kiện như vậy là điều không thể tưởng tượng được ở Pháp vào thời điểm đó. Để sánh kịp và cạnh tranh với một sự kiện như vậy, theo ông, chế độ chuyên chế đang suy tàn của Pháp sẽ phải thay đổi. Thay vì chỉ ca ngợi vẻ vang của nghệ thuật và sức mạnh quân sự, từ nay trở đi khoa học, lý tính, và những nỗ lực của con người mang lại hạnh phúc của đồng loại sẽ là những phẩm chất ngày càng dẫn dắt thế giới đáng kính trọng và tôn vinh. Qua sự kiện này diễn ra ở Anh quốc, Voltaire đã hiểu được sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới đang hình thành, một kỷ nguyên mà chính ông sẽ đóng vai trò lãnh đạo – Kỷ nguyên Khai sáng. (P. Strathern, Dark Brilliance, Epilogue)

Khoa học là một trong những thành tựu vĩ đại nhất (có thể nói là thành tựu vĩ đại nhất) của trí tuệ con người, và thực tế là phần lớn sự tiến bộ được tạo ra bởi những người bình thường thông minh, từng bước xây dựng dựa trên công trình của những người đi trước, điều này càng làm cho câu chuyện trở nên đáng chú ý hơn. Nhà sử học, triết gia lịch sử Herbert Butterfield (1900–1979) của Đại học Cambridge đã xếp hạng cuộc cách mạng khoa học vào lịch sử thế giới như sau:

Kể từ cuộc cách mạng đó lật đổ quyền lực trong khoa học không chỉ của thời trung cổ mà còn của thế giới cổ đại – kể từ khi nó không chỉ kết thúc bằng sự suy tàn của triết học kinh viện mà còn bằng sự hủy diệt của vật lý học Aristoteles—nó đã vượt trội hơn tất cả mọi thứ kể từ khi Kitô giáo trỗi dậy và hạ thấp thời kỳ Phục hưng và Cải cách xuống chỉ còn là những giai đoạn, những sự dịch chuyển nội bộ, trong hệ thống Kitô giáo thời trung cổ. Vì nó đã thay đổi bản chất của các hoạt động tinh thần thường nhật của con người ngay cả trong việc tiến hành các khoa học phi vật chất, đồng thời biến đổi toàn bộ  sơ đồ của vũ trụ vật lý và chính kết cấu của cuộc sống con người, nó hiện lên như nguồn gốc thực sự của cả thế giới hiện đại và tư duy hiện đại đến nỗi cách phân kỳ lịch sử châu Âu thông thường của chúng ta đã trở nên lỗi thời và gánh nặng. (Trong Butterfield, The origins of modern science, Phần Introduction)

Các quy trình, phương pháp khoa học của Newton được mô tả như sau:

Phương pháp triết học tốt nhất và an toàn nhất dường như là, trước tiên phải nghiên cứu kỹ lưỡng các thuộc tính của sự vật, và xác lập các thuộc tính này bằng thực nghiệm, rồi sau đó mới tiến hành chậm rãi hơn việc đưa ra các giả thuyết để giải thích chúng. Bởi vì các giả thuyết chỉ nên được sử dụng để giải thích các thuộc tính của sự vật, chứ không phải để giả định chúng nhằm xác định chúng, trừ khi chúng có thể cung cấp bằng chứng thực nghiệm. (Freely, Aladdin’s lamp, Ch. 15)

Đó là quy trình đi từ quan sát đến việc thiết lập lý thuyết mà Einstein gọi là một hành động freie Schöpfung, trước tác tự do, bằng trực giá của thiên tài rồi kiểm chứng.

 

KHOA HỌC: MỘT CHẶNG ĐƯỜNG DÀI KHÓ KHĂN NHƯ CON THUYỀN ĐẾN BẾN

Thế kỷ XVII là giai đoạn khó khăn, sôi nổi, biến động nhất trong lịch sử nhân loại trên con đường tìm “bản sắc” của mình.  Làm sao khoa học hiện đại đã hình thành được ở phương Tây là câu hỏi sâu sắc của Albert Einstein. Đó là một quá trình hàng nghìn năm, kéo dài từ Hy lạp cổ đại, khai sáng Miletus, qua Alexandria, vào Trung cổ của Kitô giáo, qua giai đoạn Phục Hưng, rồi tiến vào Thế kỷ XVII với hàng loạt thiên tài, tất cả có khao khát cháy bỏng hiểu được sự vận hành của thế giới như tác phẩm của Chúa. Tinh thần khoa học, một khi được khơi dậy ở Hy Lạp, không bao giờ tắt. Người châu Âu thời Trung cổ ban đầu nắm bắt được những mảnh vụn tri thức cổ đại ít ỏi mà họ tìm thấy, và trong logic của Aristotle, họ khám phá ra một tri thức khai phóng để làm cho đức tin phong phú và có tính khoa học bền vững. Cuộc tiến hóa này không bao giờ dừng, cho đến khi giới tinh hoa tìm được lời giải đáp.

Đặc trưng của thế kỷ XVII là con người muốn thay thế hai yếu tố cột trụ ngự trị trong triết học trước đó: chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa Aristotle, và quan điểm First Cause (Prime Mover), Chúa là người sáng tạo, bằng chủ nghĩa duy lý (rationalism), ứng dụng toán học và thí nghiệm, quan sát, lý thuyết hóa, kiểm tra, tức quy nạp. Triết học mới không trả lời tại sao Chúa tạo ra Trời đất (why), mà tập trung vào trả lời câu hỏi Trời đất vận hành làm sao (how). Với tác phẩm vĩ đại “Các nguyên lý toán học của Triết học tự nhiên” năm 1687, gọi tắt là Principia, của Newton, con người đã tới đích và đỉnh cao. Với Newton xuất hiện, “mọi sự bừng sáng”. Nhưng ông đã đứng trên vai của nhiều người khổng lồ để thấy được xa.

Với Principia, Newton đã bẻ khóa được thế giới, chứng minh được bằng toán học những gì Copernicus nêu lên làm tiên đề trong thuyết nhật tâm của ông, làm sáng tỏ những gì Galilei đã quan sát trong năm 1609 với viễn vọng kính tự tạo, hợp nhất kết quả của Kepler vào hệ thống, và thực hiện “di chúc” toán học hóa và quan điểm triết học cơ giới của vũ trụ vận hành theo cơ chế đồng hồ của Descartes. Principia là một khúc quanh lịch sử, hay điểm uốn, ở đó thế giới bắt đầu chuyển từ thời kỳ phát triển do đức tin ngự trị, sang thời kỳ phát triển do khoa học ngự trị.

 

XII

DESCARTES MALEBRANCHE

Tôi tồn tại, nhưng tôi không biết mình là ai.” (Nicolas Malebranche)

Nicolas Malebranche (1836-1715), bản khắc của de Rochefort, 1707

Descartes có nhiều ảnh hưởng lên sự phát triển triết học sau ông. Môt trong những nhà triết học không thể không nhắc tới để hiểu ảnh hưởng đó là Nicolas Malebranche, một linh mục Công giáo La Mã người Pháp Dòng Oratory, một triết gia duy lý theo trường phái triết học Cartesian. Malebranche sinh ra và mất cùng năm với Louis XIV (1638-1715), do đó ông thuộc về thời kỳ hoàng kim được Voltaire ca ngợi. Bố ông là một cố vấn của nhà vua và một quan chức cấp cao trong bộ phận thuế. Malebranche vốn là một đứa trẻ yếu ớt và không được kỳ vọng sẽ sống lâu, tương tự như Descartes; khi trưởng thành, ông vẫn yếu ớt và ốm yếu, như thể sinh ra để sống “cuộc đời ẩn dật của một nhà tu khổ hạnh và một trí thức”. Từ năm 1654 đến năm 1656, Malebranche học triết học tại trường Cao đẳng de la Marche ở Paris, sau đó năm 1656, ông bắt đầu học thần học tại Sorbonne. Năm 1660, Malebranche đã rút lui vào dòng tu Oratory được Pierre Berulle thành lập năm 1611, và từ bỏ hết phần tài sản gia đình dành cho ông. Năm 1664 được thụ phong linh mục, nhưng lúc đó Malebranche không thể gây được nhiều kỳ vọng ở các thầy giáo của mình. Cha André, người viết tiểu sử đầu tiên của ông, cho biết rằng sự nghiệp ban đầu của Malebranche là khá tầm thường.

Nhưng may mắn làm sao cho lịch sử triết học! Malebranche đã có được sự thức tỉnh về triết học thông qua một cuộc gặp gỡ tình cờ với các tác phẩm của René Descartes! Khi đang xem các hiệu sách trên phố Saint Jacques, Malebranche đã chọn mua cuốn Traité de l’Homme của Descartes—và ông đã bị cuốn hút bởi những gì đọc được đến mức phải dừng lại để lấy hơi. Đó là ơn gọi của ông. Từ thời điểm này trở đi, Malebranche đã say mê nghiên cứu triết học tự nhiên, triết học Descartes và toán học: Cuộc tìm kiếm chân lý (1674–75) là sản phẩm đầu tiên của một sự nghiệp triết học lâu dài và đồ sộ. Triết học của ông tìm cách tổng hợp chủ nghĩa Descartes với tư tưởng của Thánh Augustine. Siêu hình học duy vật của Malebranche, trong đó chỉ có Chúa mới sở hữu quyền năng nhân quả thực sự, mở rộng các học thuyết Descartes về cơ học, sự sáng tạo liên tục và thuyết nhị nguyên vật chất để nhấn mạnh sự phụ thuộc hoàn toàn của toàn bộ tạo vật vào một vị Chúa mà trong Ngài “chúng ta sống, di chuyển và tồn tại”. Học thuyết này sẽ trở nên rõ ràng và chi tiết hơn khi các tác phẩm của ông được hoàn thiện. (Susan Peppers-Bates, 1)

Đối với những người trẻ như Malebranche, những ý tưởng của Descartes có sức mạnh như một sự mặc khải (revelation). Ông cảm thấy đây chính là triết học đích thực, được xây dựng vững chắc trên những ý tưởng rõ ràng và mạch lạc, cung cấp những lập luận chứng minh với tất cả sự chặt chẽ của các chứng minh toán học. Trong vài năm tiếp theo, Malebranche đã nghiền ngẫm các tác phẩm của Descartes và các môn đệ của ông, phát triển một lập trường triết học đặc biệt, trong đó triết học tự nhiên theo chủ nghĩa Descartes, tức là chủ nghĩa cơ học, được kết hợp vào siêu hình học duy tâm phần lớn bắt nguồn từ Augustine. (Pyle, Malebranche, 2)

Những thành quả từ sự tiếp thu tư tưởng Descartes của Malebranche đã xuất hiện trong tác phẩm Recherche de la Vérité (Tìm kiếm Sự thật), được xuất bản ẩn danh vào năm 1674. Tác phẩm này đề cập chi tiết đến các năng lực khác nhau của chúng ta – giác quan, trí tưởng tượng, cảm xúc và lý trí – và các cách khác nhau mà chúng có thể dẫn chúng ta lạc lối. Dựa nhiều vào Thiền định thứ tư của Descartes, Malebranche đưa ra hai quy tắc để hướng dẫn tâm trí muốn thoát khỏi những sai lầm đó và đạt đến chân lý. Malebranche khẳng định rằng, một khi tâm trí của chúng ta đã được thanh lọc đúng cách khỏi những sai lầm tầm thường, hai chân lý vĩ đại sẽ được hiển lộ, mở ra những con đường rõ ràng dẫn đến các chủ đề siêu hình học và nhận thức luận. Trong siêu hình học, chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng chỉ có Thượng đế mới là nguyên nhân đích thực, và những gì chúng ta thường gọi là nguyên nhân ‘tự nhiên’ hay ‘thứ cấp’ chỉ là những dịp (occasions) để Thượng đế hành động theo những quy tắc do chính Ngài đặt ra. Trong nhận thức luận, chúng ta sẽ thấy rằng tri thức của con người chỉ có thể có được thông qua ‘Sự nhìn thấy trong Thượng đế’ (Vision in God, Thị kiến trong Chúa), tức là nếu các ý niệm là những nguyên mẫu trong tâm trí của Đấng Tạo Hóa, chứ không chỉ đơn thuần là những biến thể hay ‘hình thức’ của tâm hồn chúng ta. Hai luận điểm song sinh về thuyết duyên cớ và Sự nhìn thấy trong Thượng đế tạo nên cốt lõi triết học của Malebranche. (Pyle, Malebranche, 2)

Như Etienne Gilson đã nhận xét:

So với người thầy của mình, nhân cách của Malebranche chỉ ở mức thứ hai; tuy nhiên, không thể bỏ qua Malebranche nếu muốn hiểu được lịch sử siêu hình học hiện đại. Học thuyết của ông về tính không thể chứng minh được (indemonstrability) sự tồn tại của thế giới bên ngoài, kết hợp với học thuyết về sự hiện hữu của Thượng đế, đã dẫn trực tiếp đến chủ nghĩa duy tâm của Berkeley; thuyết duyên cớ (occasionalism, thuyết “duy cơ”) của ông, vốn giả định sự bất khả thi trong việc chứng minh bất kỳ tác động chuyển tiếp nào của chất này lên chất khác, đã dẫn trực tiếp đến sự phê phán của Hume đối với nguyên ­tắc nhân quả; và chúng ta chỉ cần đọc Hume để thấy ông ấy ý thức rõ ràng như thế nào về việc đi theo Malebranche. Đây là thời điểm quan trọng, có lẽ là thời điểm quyết định, trong lịch sử triết học hiện đại. (Gilson, The Spirit of Mediaeval Philosophy, 15)

Ảnh hưởng của Malebranche vươn tới nhiều nhà tư tưởng quan trọng như Berkeley, Hume, Locke và Leibniz. (Xem Susan Peppers-Bates, Chương 1, Siêu hình học của Malebranche và vấn đề tự do của con người)

Đối với Malebranche, cũng như đối với Augustine, mọi tri thức đều là mặc khải. Tuy nhiên, tri thức được mặc khải có hai loại khác nhau. Những ý niệm rõ ràng của chúng ta là mặc khải về những ý niệm của Chúa, là những mô hình hoặc nguyên mẫu được sử dụng trong công cuộc sáng tạo. Tri thức lý tính (trong toán học, siêu hình học và đạo đức) do đó là một loại mặc khải tự nhiên, dành cho tất cả những người sẵn lòng suy ngẫm và thiền định. Ngược lại, có mặc khải của Lời Chúa trong Kinh Thánh, được các nhà lãnh đạo Giáo hội giải thích qua nhiều thế kỷ. Vì hai loại tri thức này bắt nguồn từ cùng một nguồn, là Ngôi Lời thiêng liêng, nên chúng không thể mâu thuẫn với nhau. Bất kỳ mâu thuẫn rõ ràng nào giữa lý trí con người (triết học) và đức tin Kitô giáo (thần học tín điều) đều phải là ảo tưởng, là sản phẩm của sự hiểu lầm. Ví dụ, trong tác phẩm Traite de la Nature et de la Grace , Malebranche cảnh báo độc giả của mình không nên hiểu Thánh Phaolô là một người theo chủ nghĩa Calvin (nghĩa là chống lại học thuyết tiền định tuyệt đối và ân sủng không thể cưỡng lại của Tin Lành. ND). Cho rằng Thượng đế đã tiền định phần lớn nhân loại phải chịu sự trừng phạt vĩnh hằng sẽ là làm cho kinh thánh mâu thuẫn với lý trí, vốn cho chúng ta biết rõ ràng rằng một đấng toàn trí và nhân từ không thể nào có ý đồ xấu xa như vậy. (Pyle, 8)

Như nhà viết tiểu sử đầu tiên của Descartes, Cha Yves André, một linh mục dòng Tên, nhà toán học và nhà triết học, đồng thời là bạn thân và học trò của Malebranche trong những năm cuối đời, đã viết, ‘Siêu hình học cao siêu của Thánh Augustine dường như hoàn toàn phù hợp với vật lý của ông Descartes, và vật lý của ông Descartes phù hợp với siêu hình học của Thánh Augustine’. Chủ nghĩa Descartes được sửa đổi này được dùng để phục vụ cho thần học Kitô giáo. Malebranche cố ý đặt ra mục tiêu tạo ra một triết học Kitô giáo. Mục tiêu được ông nêu rõ là làm cho Descartes những gì Augustine đã làm cho Plato, hoặc Aquinas đã làm cho Aristotle, tức là sử dụng triết học để đưa ra những lời giải thích mới cho những giáo điều bất biến của đức tin. Tất nhiên, đây không chỉ đơn thuần là sự nhượng bộ trước những trào lưu triết học của thời đại. Malebranche cho rằng, với một số sửa đổi mà chúng ta sẽ lưu ý, chủ nghĩa Descartes là triết học chân chính, vì vậy triết học chân chính hỗ trợ – như lẽ đương nhiên – tôn giáo chân chính. (Pyle, Malebranche, 2-3)

Trái ngược với quan điểm của Descartes, rằng con người có thể trực tiếp nhận thức bản thân, Malebranche tuyên bố rằng một người có thể biết mình tồn tại, nhưng không biết mình là ai. Ông nói:

Khi hướng vào chính mình, tôi không thể nhận ra bất kỳ năng lực hay khả năng nào của bản thân. Cảm giác nội tại (sentiment intérieur) mà tôi có về bản thân cho tôi biết rằng tôi tồn tại, tôi suy nghĩ, tôi có ý chí, tôi có nhận thức giác quan, rằng tôi đau khổ, vân vân; nhưng nó không cung cấp cho tôi bất kỳ kiến ​​thức nào tôi là ai – về bản chất của suy nghĩ, cảm giác, đam mê hay nỗi đau của tôi – hoặc mối quan hệ tương hỗ giữa tất cả những điều này… Tôi hoàn toàn không có khái niệm gì về linh hồn của mình.

[Melabranche trong Cottingham, John (ed.) Dialogues on Metaphysics [Entretiens sur la métaphysique, 1688]  in Western Philosophy, An Anthology, vol. Dialogue III, Blackwell, pp. 155–156].

Malebranche cho rằng con người không biết tâm trí của chính mình như ánh sáng của chính mình, không thể tự mình nhìn thấy những chân lý vĩnh hằng mà cần ánh sáng của Chúa để hiểu được chúng. Chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa để có kiến thức và nhận thức. Do nguyên tội và bản chất hữu hạn của chúng ta, nhận thức về bản thân của chúng ta bị giới hạn ở những cảm xúc bên trong, khiến chúng ta không thể thấy bản chất thực sự, sâu sắc của linh hồn mình.Trong khi ông sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại của Descartes, Malebranche đã tuyên bố rằng những ý tưởng cốt lõi của ông về tri thức được xây dựng trên nền tảng của Augustine, người nổi tiếng với luận điểm về sự soi sáng thiêng liêng, tin rằng trí tuệ con người không thể tự mình nhìn thấy những chân lý vĩnh hằng; nó cần ánh sáng của Chúa để hiểu được chúng. Thực tế, Malebranche nổi tiếng nhất với việc tạo ra một sự tổng hợp giữa hai nhà tư tưởng lớn: Thánh Augustine và René Descartes.

Sự trở lại Augustine này không phải là ngẫu nhiên. Malebranche là một linh mục trong Dòng Oratory, một dòng tu Công giáo được thành lập đặc biệt để làm sâu sắc thêm lòng sùng kính đối với Giáo hội thông qua việc nghiên cứu Thánh Augustine. Cuộc sống hàng ngày, giáo dục và các bạn tu hành của ông đều hoàn toàn thấm nhuần thần học Augustine.

Malebranche đã làm cho ­học thuyết duy lý của mình phù hợp với giáo điều Kitô giáo, mà không làm thay đổi giáo điều Kitô giáo, và không buộc lý trí phải từ bỏ quyền của mình. Việc kết hợp các nguyên tắc của Descartes đã mang lại cho các tác phẩm của Malebranche một hương vị độc đáo. Ngày nay, học thuyết của ông dường như đã phần nào đi vào dĩ vãng, giữa Descartes, người mà ông kế thừa, và các nhà triết học duy tâm đến sau ông. Nhưng trong khi những nhà triết học này nợ ông nhiều ý tưởng chủ đạo, Malebranche ­vẫn có công lao, hiếm có ở tất cả các quốc gia và độc nhất vô nhị ở Pháp, đã xây dựng một triết học tôn giáo (religious philosophy) không chỉ đơn thuần là một triết học được truyền cảm hứng từ tôn giáo. (Lucien Lévy-Bruhl)

 

XIII

QUA ĐỜI ĐỘT NGỘT TẠI THỤY ĐIỂN

Descartes sống ở Hà Lan 20 năm, muốn tận hưởng sự tự do lớn hơn bất cứ nơi nào khác và để tránh những phiền nhiễu của Paris và bạn bè, nhờ đó ông có được thời gian rảnh rỗi và sự cô độc để suy nghĩ. Ông được thừa hưởng đủ tiền bạc và tài sản để sống độc lập. Hà Lan là một thiên đường của sự khoan dung, nơi Descartes có thể là một nhà tư tưởng độc lập, sáng tạo mà không sợ bị nguy hiểm. Năm 1624, Nghị viện Pháp đã thông qua một sắc lệnh cấm chỉ trích Aristotle với hình phạt tử hình.

Năm 1635, con gái của Descartes, Francine, chào đời với Helena Jans và được rửa tội tại Giáo hội Cải cách ở Deventer. Cái chết sớm của Francine vì bệnh sốt ban đỏ ở tuổi năm là nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời Descartes. Descartes nói ông không tin rằng người ta phải kìm nén nước mắt để chứng tỏ mình là một người đàn ông.

Khi Descartes sinh ra không ai kỳ vọng ông sẽ sống lâu, giống như Isaac Newton. Vì vậy, ông rất chú trọng đến sức khỏe của mình, thậm chí đã trở thành người ăn chay trường. Năm 1639, ông khoe khoang rằng mình đã không ốm đau trong 19 năm, và dự định sẽ sống đến 100 tuổi, nhưng sau đó ông nhận ra rằng, để đạt được mục tiêu đó, cần đến công sức của cả nhiều thế hệ; bản thân ông thậm chí còn chưa học được cách ngăn ngừa sốt. Vì vậy, ông nói, thay vì tiếp tục hy vọng sống lâu, ông đã tìm ra một cách dễ dàng hơn, đó là yêu cuộc sống và không sợ chết. Ông khẳng định, một triết gia chân chính có thể chết một cách thanh thản.

Năm 1649, khi Nữ hoàng Christina của Thụy Điển, người mà vào cuối Chiến tranh Ba mươi năm (1618–48) đã trở thành một trong những vị quân chủ quan trọng và quyền lực nhất ở châu Âu, thuyết phục ông đến Stockholm để giáo dục triết học cho hoàng gia và làm rạng danh triều đình của bà. Descartes miễn cưỡng chấp nhận. Có lẽ vì ông cần sự bảo trợ tương lai; cuộc nổi dậy Fronde ở Pháp của các trí thức dường như đã phá hủy cơ hội của ông ở Paris, và ông cảm thấy không an tâm với các nhà thần học Calvinist ở Hà Lan. Hai tháng trước khi “Những đam mê” (Passions de l’âme) được xuất bản, Descartes đã lên đường trong chuyến đi định mệnh đến Stockholm. Ông cảm thấy cô đơn và lạc lõng; ông được giao nhiệm vụ viết một vở ba lê, và bị buộc phải dậy lúc năm giờ sáng để dạy triết học cho nữ hoàng! Trước đây, ông từng hy vọng sẽ tìm ra bí quyết kéo dài tuổi thọ thông qua các nghiên cứu y học của mình. Giờ đây, ông lại trở thành nạn nhân của sự khắc nghiệt của mùa đông Thụy Điển và đòi hỏi kỳ lạ của nữ hoàng. Trong khi chăm sóc một người bạn ốm, ông bị viêm phổi và nhanh chóng qua đời vào ngày 11 tháng 2 năm 1650, chỉ hơn một tháng trước sinh nhật lần thứ 54 của mình.

Descartes trò chuyện với Nữ hoàng Christina tại Stockholm (bàn bên phải)

Nữ hoàng Christina muốn bày tỏ sự tôn vinh đối với ông bằng cách dựng một lăng mộ tráng lệ trong nhà thờ lớn nhất Stockholm, nơi chôn cất hoàng gia Thụy Điển. Nhưng Pierre Chanut, người đại diện của vua Pháp tại triều đình Thụy Điển và bạn thân của Descartes, khuyên không nên vì sự thù địch của những người theo Luther đối với Descartes. Cuối cùng lễ tang diễn ra vào ngày 13 tháng 2 trong, gần như bí mật, và chỉ có người Công giáo La Mã tham dự. Một linh mục duy nhất đọc những lời cầu nguyện cuối cùng theo nghi thức Công giáo, và con trai cả của Chanut, người rất thích thú với những cuộc thảo luận triết học và tôn giáo với Descartes, là một trong những người khiêng quan tài. Chi phí được trả từ tài sản của người quá cố, và ngôi mộ, cũng như buổi lễ, vô cùng đơn giản. Ở bốn mặt của tượng đài được làm bằng đá chứ không phải đá cẩm thạch như Christina đề xuất, Chanut đã viết những dòng chữ Latinh dài để tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp của người bạn mình. Những bài thơ ca ngợi nhanh chóng được những người ngưỡng mộ khác sáng tác, và vài tháng sau, một huy chương kỷ niệm, mang chân dung nhà triết học và những lời ca ngợi hoa mỹ, đã xuất hiện ở Hà Lan. (Vrooman, A biography)

Về sau thi hài của ông được chuyển đến Pháp và hiện đang được an táng tại nhà thờ Saint Germain des Près. Hộp sọ của ông được trưng bày tại Bảo tàng Con người (Musée de L’Homme) trong Cung điện Chaillot ở Paris.

Ông qua đời mà không nói một lời trối trăng nào. Nhưng theo một nguồn khác, những lời cuối cùng của ông được cho là:

Linh hồn ta, dù đã bị giam cầm từ lâu, giờ đã đến lúc ngươi phải rời khỏi ngục tù, thoát khỏi xiềng xích của thân xác này. Hãy đón nhận sự chia ly này với niềm vui và lòng can đảm!

Năm 1667, Giáo hội Công giáo La Mã đã ra quyết định của mình bằng cách đưa các tác phẩm của Descartes vào Index Librorum Prohibitorum (“Danh mục sách bị cấm”) đúng vào ngày hài cốt của ông được đặt trang trọng tại đồi Sainte-Geneviève-du-Mont nằm trên bờ trái sông Seine ở Paris (thuộc quận 5). Hành động này của Giáo hội nằm trong đợt thanh trừng chung đối với Galilei của thời Phản cách. Tuy nhiên, các quốc gia theo Tin lành, đặc biệt Hà Lan, Amsterdam, đã trở thành những nơi trú ẩn an toàn quan trọng để xuất bản và truyền bá triết lý cách mạng của ông. Các sách cấm của Galilei cũng được xuất bản tại Hà Lan. Cho nên người ta không lạ gì khi thấy sách của Descartes vẫn tiếp tục được xuất bản sau khi ông mất.

Nhiều tác phẩm chưa được xuất bản đã được tìm thấy trong số các giấy tờ của ông tại Stockholm. Quan trọng nhất là Quy tắc hướng dẫn tư duy (Rules for the Direction of the Mind). Phần đầu tác phẩm quan trọng của ông, Le Monde (Thế giới), về vật lý và vũ trụ học, cũng được xuất bản năm 1664, mười bốn năm sau khi Descartes qua đời. Phần thứ hai, Luận về Con người (Traité de l’Homme) cũng được xuất bản năm 1662 (bản tiếng Latinh) và năm 1664 (bản tiếng Pháp). Một cuộc đối thoại tiếng Pháp chưa hoàn thành có tựa đề Cuộc tìm kiếm chân lý (The Search After Truth), lần đầu tiên xuất hiện trong bản dịch tiếng Latinh năm 1701. Cuộc đối thoại này hữu ích vì nó làm sáng tỏ phương pháp nghi ngờ của Descartes và bản chất của câu hỏi “Tôi tư duy như thế nào?” (cogito).

Nhiều câu hỏi được đặt ra, Descartes là ai? Có nhiều ý kiến. Nhưng có điều, Descartes có cảm xúc tôn giáo khác với Pascal. Trong khi Pascal run rẩy khi nhìn vào vũ trụ vô tận và nhận thấy sự nhỏ bé và khốn khổ của nhân loại, Descartes lại hân hoan trước sức mạnh của lý tính con người trong việc hiểu biết vũ trụ và thúc đẩy hạnh phúc, và ông bác bỏ quan điểm cho rằng con người về bản chất là khốn khổ và tội lỗi. Ông cho rằng cầu nguyện với Chúa để thay đổi mọi thứ là điều bất kính. Thay vào đó, khi chúng ta không thể thay đổi thế giới, chúng ta phải thay đổi chính mình. Điều này có lẽ hiểu được. Thế kỷ XVII đang thai nghén một cuộc cách mạng khoa học vĩ đại, và nhiều nhà khoa học đang có thái độ lạc quan, tiêu biểu là Galilei. Con người với óc tò mò vô hạn luôn luôn muốn khám phá bản đồ của Chúa, như Einstein từng diễn tả: “Tôi muốn biết Chúa đã tạo ra thế giới như thế nào. Tôi không quan tâm đến hiện tượng này hay kia, hoặc quang phổ của phân tử này hay kia. Tôi muốn biết những ý tưởng của Chúa; tất cả còn lại chỉ là chi tiết.” (Sách EINSTEIN) Đó là ham muốn tột cùng của những sinh linh hữu hạn, muốn hiểu được cái vô hạn của Thiên Chúa, mặc cho khó khăn, hay ý kiến trái chiều, rằng khoa học không bao giờ kết thúc, nghĩa là con người vẫn luôn luôn còn cách xa Chúa, giống như hình ảnh cậu bé Einstein đuổi theo ánh sáng, đuổi hoài nhưng nó vẫn cao bay xa chạy, do bản chất đặc thù của ánh sáng được diễn tả trong các phương trình Maxwell.

Cần nói thêm điều này. Nữ hoàng Christina có tên đầy đủ là Christina Vasa. Vasa là tên của triều đại do ông nội bà đặt ra, King Gustav I. Bố của bà là Vua Gustavus Adolphus. Vị vua này là người đặt đóng chiến hạm Vasa có lịch sử và ẩn dụ nổi tiếng. Nó phải là biểu tượng cho sự vĩ đại của nhà vua và sức mạnh quân sự của Thụy Điển. Vì thế ông ra lệnh kỹ sư trang bị thật nhiều súng cà nông cho tầng cao của Vasa và vì thế làm cho tàu mất ổn định khi gặp gió. Thực tế nó đã bị lật chìm ngay trong cảng Stockholm chỉ vài phút sau chuyến đi đầu tiên vào năm1628. Ông ấy đã giết con tàu chiến Vasa vì chất lên đó gánh nặng quá sức một cách phi lý, thì cũng giống như cô cháu Christina đã giết chết Descartes, một chiến binh tài giỏi trên mặt trận tư tưởng, bởi chất gánh nặng phi lý chất lên ông bất chấp sức khỏe của ông. Đó là sự ngạo nghễ của quyền lực – The arrogance of Power.

 

DESCARTES VÀ EINSTEIN

Cartesian doubt, gần 300 năm sau, trở thành thành Einsteinian doubt: “Điều quan trọng là người ta không ngừng hỏi” (“Wichtig ist, dass man nicht aufhõrt zu fragen”). Cuộc đời Einstein có thể nói đã minh họa thêm tình thần độc lập tư duy và khám phá của Descartes. Cái nổi bật ở Einstein là tinh thần độc lập, tự do trên con đường tìm chân lý, chinh phục vũ trụ, cũng giống như Descartes. Einstein đã giải phóng mình ra khỏi những đinh kiến khoa học, triết học, tôn giáo và chính trị. Đối với Einstein không có điều gì cấm kỵ. Mỗi chân lý ông phải tự chiếm lĩnh nó một cách không thành kiến và từ chiều sâu của tư duy. “Sự sợ hãi trước quyền lực là kẽ thù lớn nhất của chân lý”. Sự ngạo mạn của quyền lực cũng vậy. Để có những khám phá lớn, cần phải có độc lập tư duy, có cá tính, không chạy theo thời trang tri thức. “Sự lớn lao trong khoa học chủ yếu là vấn đề cá tính” như Einstein nói. Ông có óc tưởng tượng và kiên nhẫn phi thường nhất để theo đuổi các bài toán đặt ra. Ông là phản biện hùng hồn nhất của lối học sáo mòn nhồi nhét, làm mất sáng kiến, óc tò mò, trí tưởng tượng và sự ngưỡng mộ thánh thiện trước thiên nhiên, những thứ vốn có từ tuổi thơ ở mỗi đứa trẻ. Cả Descartes lẫn Einstein là những người có giấc mơ lớn giải mã được bí mật của vụ trụ.

 

XIV

MẪU ĐỐI THOẠI VỚI CÔNG CHÚA ELISABETH

Mỗi triết học vĩ đại từ trước đến nay đều là lời bộc bạch của tác giả,  một dạng tự truyện vô thức, và không chủ đích.

Nietzsche, Jenseits von Gut und Böse

Công chúa Elizabeth (1596 – 1662) là người có “duyên nợ” triết học với Descartes. Bà là một trong những người bạn ủng hộ ông nhiệt thành nhất. Bà là con gái của Tuyển hầu tước Frederick, người mà ông từng chiến đấu chống lại. Ông thư từ với bà từ năm 1643 cho đến khi qua đời, trả lời (và đôi khi không trả lời) những lời chỉ trích gay gắt của bà về các tác phẩm của mình. Bà là người mà ông đã dành tặng cuốn “Những nguyên lý triết học”: “Tôi cho rằng tác phẩm này … xứng đáng được trao cho Công chúa”.

Ông đã cho bà nhiều lời khuyên về y học và đạo đức, và an ủi bà về việc chú của bà, Vua Charles I, bị hành quyết. Trong lời đề tặng tác phẩm “Những nguyên lý triết học” cho Elisabeth, Descartes đã viết những lời ngưỡng mộ nhan sắc và phẩm giá cao quý của bà như sau:

“Khi tôi nhận thấy rằng một kiến ​​thức đa dạng và toàn diện về mọi thứ như vậy không phải được tìm thấy ở một học giả già nua đã dành nhiều năm chiêm nghiệm, mà ở một nàng công chúa trẻ tuổi, người mà vẻ đẹp và sự trẻ trung gợi nhớ đến một trong những nữ thần duyên dáng hơn là nữ thần Minerva mắt xám hay một nàng thơ nào, thì tôi không thể không sụp xuống trước sự ngưỡng mộ… cùng với phẩm giá hoàng gia của nàng, nàng thể hiện một lòng tốt và sự dịu dàng phi thường, mặc dù liên tục bị thử thách bởi những đòn giáng của số phận, nhưng chưa bao giờ trở nên cay đắng hay sụp đỗ. Tôi quá xúc động trước điều này, đến nỗi tôi cho rằng tuyên ngôn triết học này của tôi nên được dâng tặng cho nàng…” (Grayling, The Age of Genius, 137-138)

Những đam mê là một luận thuyết về sinh lý học, tâm lý học và đạo đức học, được viết theo sự thúc giục của Công chúa Elisabeth, người trong một bức thư ngày 6 tháng 5 năm 1643, đã nêu lên câu hỏi quan trọng “làm thế nào linh hồn con người, chỉ là một thực thể biết suy nghĩ, lại có thể điều khiển tinh thần thể xác thực hiện các hành động tự nguyện?” Tác phẩm triết học cuối cùng này được viết bằng tiếng Pháp, in ở Hà Lan và xuất bản tại Amsterdam và Paris năm 1649 với tựa đề Les Passions de I’âme. Descartes đề tặng tác phẩm cho Elisabeth, và tặng một bản in cho nữ hòang Christina của Thụy Điển. Nữ hoàng rất ấn tượng đến nỗi bà đã mời Descartes làm triết gia của triều đình, và cử một đô đốc cùng một chiến hạm đến đón ông từ Hà Lan.

Rất ít người hài lòng với lý thuyết của Descartes về sự tương tác giữa linh hồn và thể xác thông qua tuyến tùng trong não, nhưng tác phẩm Những đam mê vẫn cho chúng ta một bức tranh sống động về quan điểm của Descartes về bản chất con người — một hợp chất bí ẩn của hai thực thể không tương thích, tâm trí và thể xác. Tác phẩm cũng đề cập nhiều đến việc đạt được hạnh phúc — điều mà Descartes coi là thành quả quý giá nhất có thể thu hoạch được từ một hệ thống triết học đúng đắn. (Cottingham, Descartes. Selected Philosophical Writings, x)

Mẫu đối thoại dưới đây giữa Descartes và Công chúa Elizabeth cho thấy một tính cách mạnh mẽ của Descartes, một nhân sinh quan hướng về phía trước, mặc cho những khó khăn trong cuộc đời, mà bản thân ông cũng từng nếm trải. Descartes là người có vai trò cố vấn và người tâm sự riêng của Công chúa Elizabeth. Công chúa là người sống lưu vong khỏi quê hương Bohemia sau một cuộc biến động dẫn đến cuộc Chiến tranh Ba mươi năm. Bà còn được gọi là “Nữ hoàng mùa đông” (tiếng Đức: Die Winterkönigin) vì triều đại của chồng bà ở Bohemial chỉ kéo dài trong một mùa đông. Bà là một trí thức tài giỏi. Bà đã dành hai mươi năm cuối đời làm viện trưởng một tu viện Tin Lành ở Đức. Bà mất sau Descartes 12 năm. Descartes là một con người mạnh mẽ mà những nỗi buồn hay đâu khổ cá nhân không thể nào cầm tù ông được trên con đường dấn thân tìm chân lý, thể hiện một kiểu triết lý sống Khắc kỷ.

Công chúa Elisabeth của Bohemia (1618–1680), nổi tiếng nhất với những bức thư trao đổi triết học xuất sắc với René Descartes. Bà được lịch sử công nhận là nhà tư tưởng đầu tiên đưa ra lời phê bình sâu sắc đối với thuyết nhị nguyên tâm-thể (mind-body) của Descartes, nổi tiếng với câu hỏi làm thế nào một linh hồn phi vật chất có thể điều khiển được cơ thể vật chất. Nguồn ảnh: Kenny, The Rise of Modern Philosophy. Tấm ảnh này dường như là “đặc quyền” dành cho quyển sách.

Vào tháng 5 năm 1645, Descartes viết thư cho bà, để nói rằng ông đã nghe tin bà đang bị sốt chậm (slow fever) và ho khan. Ông bày tỏ lời chia buồn và đưa ra lời khuyên. “Nguyên nhân phổ biến nhất của chứng sốt chậm,” ông nói với bà, “là nỗi buồn.” Nếu phương pháp điều trị mà ông sắp đề xuất có vẻ quá khắc khe, ông đã nói thêm một lời phủ nhận:

Tôi biết rõ rằng sẽ là thiếu khôn ngoan nếu tôi muốn thuyết phục ai đó hạnh phúc khi mỗi ngày số phận lại mang đến cho họ những nguồn phiền toái mới; và tôi không phải là một trong những nhà triết học tàn nhẫn muốn các bậc hiền triết của họ vô cảm.

Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề của Elizabeth rất rõ ràng:

Dường như sự khác biệt giữa những tâm hồn cao thượng và những tâm hồn tầm thường chủ yếu nằm ở chỗ những tâm hồn tầm thường buông thả bản thân theo dục vọng và chỉ hạnh phúc hay bất hạnh tùy thuộc vào những điều xảy ra với họ là dễ chịu hay khó chịu; ngược lại, những tâm hồn cao thượng lý trí một cách mạnh mẽ và thuyết phục đến nỗi, mặc dù họ cũng có dục vọng, và thực tế là những dục vọng của họ thường mãnh liệt hơn so với người bình thường, nhưng lý trí của họ vẫn luôn là chủ nhân, thậm chí còn khiến những đau khổ của họ phục vụ và góp phần vào hạnh phúc trọn vẹn mà họ tận hưởng trong cuộc sống này.

Elizabeth đáp lại để trấn an Descartes rằng không bác sĩ nào của bà kê đơn một phương thuốc có tác dụng tốt như vậy.2 Rõ ràng được khích lệ, Descartes trình bày vấn đề chi tiết hơn:

Hãy xem xét một người có mọi lý do để hạnh phúc nhưng lại liên tục chứng kiến ​​những bi kịch đầy rẫy những sự kiện thảm khốc diễn ra trước mắt mình, và dành toàn bộ thời gian để suy ngẫm về những điều buồn thảm và đáng thương. Giả sử rằng người đó biết rằng đó chỉ là những câu chuyện hư cấu, vì vậy dù chúng khiến người đó rơi nước mắt và lay động trí tưởng tượng, nhưng chúng hoàn toàn không tác động đến trí tuệ của người đó. Tôi nghĩ rằng chỉ riêng điều này thôi cũng đủ để dần dần khép chặt trái tim người đó và khiến người đó thở dài đến mức tuần hoàn máu trong cơ thể bị chậm lại… Mặt khác, có thể có một người có nhiều lý do chính đáng để đau khổ nhưng lại quá cố gắng hướng trí tưởng tượng của mình đến những điều đó, đến nỗi anh ta không bao giờ nghĩ đến chúng ngoại trừ khi bị ép buộc bởi một số nhu cầu thực tế, và dành phần lớn thời gian còn lại để suy nghĩ về những điều có thể mang lại sự mãn nguyện và niềm vui. Điều này sẽ giúp anh ta đánh giá một cách tỉnh táo hơn về những điều quan trọng vì anh ta sẽ nhìn nhận chúng mà không bị chi phối bởi cảm xúc. Hơn nữa, tôi không nghi ngờ gì rằng chính điều này sẽ có khả năng phục hồi sức khỏe cho anh ta, ngay cả khi lá lách và phổi của anh ta đã ở trong tình trạng kém do tính khí xấu của máu được tạo ra bởi nỗi buồn.

Sau đó, sau khi bình luận thêm về phương án chữa trị cho tình trạng của Elizabeth, ông chuyển sang nói về chính mình, trong lần duy nhất đề cập đến thời thơ ấu của mình mà theo như chúng ta biết, ông từng viết trong thư từ của mình:

Hơn nữa, tôi xin phép được nói thêm rằng, qua kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy rằng phương pháp điều trị mà tôi đã đề xuất đã chữa khỏi một căn bệnh gần như giống hệt, và thậm chí có thể còn nguy hiểm hơn. Mẹ tôi qua đời vài ngày sau khi tôi chào đời vì một căn bệnh về phổi do căng thẳng gây ra. Từ bà, tôi thừa hưởng chứng ho khan và da xanh xao, tình trạng này kéo dài cho đến khi tôi hơn hai mươi tuổi, đến nỗi tất cả các bác sĩ đã khám cho tôi trước đó đều cho rằng tôi sẽ chết trẻ. Nhưng tôi luôn có khuynh hướng nhìn mọi việc từ góc độ thuận lợi nhất và để hạnh phúc chính của mình phụ thuộc vào bản thân, và tôi nghĩ khuynh hướng này đã khiến chứng khó chịu, vốn gần như là một phần bản chất của tôi, dần dần biến mất. (Gaukroger, An intellectual Biography, 15-16)

Đam mê của linh hồn, đôi khi còn được gọi là Dục vọng. Luận văn này liên quan đến thuyết nhị nguyên trước đó của ông, sự phân biệt giữa thể xác và linh hồn: linh hồn suy nghĩ (res cogitans) nhưng không có hình thể, trong khi thể xác có hình dạng vật chất (res extensa) nhưng không suy nghĩ và chủ yếu được định nghĩa bởi hình thức và chuyển động của nó.

Trong cuốn Đam mê, Descartes định nghĩa đam mê là “những nhận thức, cảm giác hoặc sự xáo trộn của tâm hồn mà chúng ta liên hệ đặc biệt với tâm hồn và được gây ra, duy trì và củng cố bởi một số chuyển động của tinh thần” (Điều 27). “Tinh thần” được đề cập trong định nghĩa này là “tinh thần động vật” (animal spirits), một khái niệm trọng tâm để hiểu sinh lý học của Descartes. Những tinh thần này hoạt động với khả năng tương tự như hệ thần kinh của y học hiện đại. Descartes giải thích rằng những tinh thần động vật này được sản sinh trong máu và chịu trách nhiệm cho sự kích thích vật lý khiến cơ thể chuyển động. Ví dụ, khi tác động đến cơ bắp, tinh thần động vật “làm cho cơ thể chuyển động theo tất cả các cách khác nhau mà nó có khả năng” (Những Đam mê của tâm hồn, Điều 10).

Trọng tâm của tác phẩm cuối cùng là bất kỳ ai cũng có thể đạt được sự làm chủ hoàn toàn các đam mê. Đam mê và lý tính có thể bổ sung nhau, nhưng cũng có thể đối nghịch nhau. Nếu chúng ta luôn dựa vào cảm xúc (đam mê), thì sự tồn tại của chúng ta về mặt này sẽ có xu hướng trở nên thấp kém hơn con người. Trong trường hợp như vậy, chỉ có cảm xúc mới cho chúng ta biết phải làm gì, dẫn dắt chúng ta theo con đường này chứ không phải con đường khác. Nhưng hành động bị chi phối bởi cảm xúc không phải là hành động được lý tính định hướng một cách có chủ đích. Do đó, hành động như vậy không bao giờ có thể là hành động tự chủ, ngay cả khi nó hướng tới một mức độ hạnh phúc nào đó. Chỉ khi đam mê được lý tính điều khiển, chúng ta mới có thể tin tưởng để chúng dẫn dắt mình. Một khi được lý trí dẫn dắt, chúng ta có thể tin tưởng đam mê dẫn dắt mình mà không gây nguy hiểm cho sự tự chủ hay hạnh phúc của chúng ta.

Descartes tin tưởng, “không có linh hồn nào yếu đuối đến mức không thể, nếu được điều khiển tốt, có được quyền lực tuyệt đối đối với đam mê của mình” (Điều 50). Descartes coi hoạt động (activity) đồng nghĩa với tự do, và thụ động đồng nghĩa với sự trói buộc. Đối vói Descartes, “một người hoạt động khi hành vi của người đó là sự thể hiện suy nghĩ của người đó, và nếu không thì người đó là thụ động.” Điều đó hàm ý rằng “hành vi của con người không thực sự tự do trừ khi nó thể hiện suy nghĩ.” Tổng quát hơn, “không hành động nào có thể được coi là của con người trừ khi chúng phụ thuộc vào lý tính.” Chịu đựng các đam mê là thụ động, là bị ràng buộc; điều khiển các đam mê thông qua lý tính là hoạt động, là tự do. (Schouls, Descartes and the Enlightenment)

Có những chuyển động nhất định của các linh hồn động vật khiến chúng ta phụ thuộc vào đam mê của mình; tương tự, có những chuyển động nhất định của các linh hồn động vật cho phép chúng ta làm chủ đam mê của mình. Trong trường hợp đầu tiên, thân thể ảnh hưởng đến tâm hồn, trong khi ở trường hợp thứ hai, tâm hồn ảnh hưởng đến thân thể. Trong trường hợp thứ nhất, “hành động” của chúng ta chỉ là phản xạ tự nhiên, và chúng ta bị cuốn vào guồng máy của tự nhiên. Trong trường hợp thứ hai, chúng ta có thể trải nghiệm sự tự do của mình.

Descartes đã để tác phẩm Đam mê của linh hồn của mình kết thúc bằng Điều 212 với nội dung như sau:

Mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống này đều phụ thuộc hoàn toàn vào dục vọng, và mọi điều xấu xa cũng vậy.

Linh hồn có thể có những niềm vui riêng. Nhưng những niềm vui mà nó chia sẻ với thể xác lại hoàn toàn phụ thuộc vào dục vọng, vì vậy những người mà dục vọng có thể tác động sâu sắc nhất mới có khả năng tận hưởng những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống này. Đúng là họ cũng có thể trải nghiệm nỗi cay đắng nhất khi không biết cách sử dụng những dục vọng đó một cách tốt đẹp và khi vận mệnh chống lại họ. Nhưng công dụng chính của trí tuệ (wisdom) nằm ở chỗ nó dạy chúng ta cách làm chủ và kiểm soát chúng một cách khéo léo đến nỗi những điều xấu xa mà chúng gây ra hoàn toàn có thể chịu đựng được, và thậm chí trở thành nguồn vui.

Mỗi người trong chúng ta có thể đọc phần nào những trải nghiệm của mình trong đó.

 

XV

THAY LỜI KẾT

“Tôi chỉ mong muốn sự bình yên và thư thái.” (René Descartes)

Như John Cottingham, một học giả và triết gia hàng đầu, người đồng dịch và đồng biên tập bộ sách ba tập mang tính kinh điển “Các tác phẩm triết học của Descartes”, viết:

Có rất nhiều điều trong hệ thống của Descartes mà theo tôi là rất có vấn đề. Nhưng tôi nghĩ rằng ngay cả khi sai lầm, Descartes vẫn là một nhà tư tưởng có sức ảnh hưởng và tầm ảnh hưởng to lớn, và những ý tưởng của ông vẫn xứng đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng, không chỉ bởi các chuyên gia thế kỷ XVII mà còn bởi các sinh viên đương đại của rất nhiều ngành triết học chính hiện nay, bao gồm siêu hình học, triết học tâm trí (philosophy of mind), nhận thức luận, triết học khoa học, triết học tôn giáo và đạo đức học. Có lẽ quan trọng nhất, hệ thống Cartesian cung cấp một ví dụ vô cùng mạnh mẽ về điều mà tôi coi là nhiệm vụ quan trọng nhất của triết học, đó là nỗ lực tìm ra mức độ mà các lĩnh vực khác nhau trong cảnh quan khái niệm của chúng ta có thể được tích hợp thành một thế giới quan mạch lạc. Nếu chúng ta trở thành những sinh vật chuyên biệt đến mức nhiệm vụ đó không còn thu hút chúng ta nữa, thì triết học sẽ tự phân chia dẫn đến sự tuyệt chủng: dòng sông tri thức vĩ đại một thời sẽ phân nhánh thành rất nhiều dòng suối nhỏ biệt lập đến nỗi cuối cùng sẽ chẳng còn gì ngoài một vùng đồng bằng sa mạc. (Cartesian Reflections, Preface)

Niềm hy vọng và cũng là tham vọng của Descartes đối với triết học của chính ông là đạt được những mục tiêu do người tiền nhiệm theo trường phái kinh viện Eustachius đặt ra: “mục đích của một hệ thống triết học hoàn chỉnh là hạnh phúc của con người”. Để siêu hình học hữu thần của ông là chìa khóa đạt được mục tiêu này, ông đi theo truyền thống Aquinas, người cho rằng sapientia, đức tính trí tuệ cao nhất (highest intellectual virtues), hoạt động đúng đắn khi nó hướng tới tri thức về nguyên nhân cao cả và thiêng liêng nhất, tức là Thượng đế. Descartes thường được nhìn qua lăng kính scientia (khoa học, tri thức) của ông, nhưng đó chỉ là phần quan trọng của câu chuyện, trong khi toàn bộ câu chuyện cho thấy cam kết còn quan trọng hơn của ông đối với sapientia, ơn khôn ngoan, với hàm ý tôn giáo rộng hơn mà khái niệm đó mang lại cho một người được nuôi dạy như ông.

Trong của cuốn sổ tay đầu tiên được ông ghi chép trên giấy da trong khoảng thời gian 1619 đến năm 1622, phần Praeambula tức Lời mở đầu được khắc câu Thánh vịnh như phương châm của Descartes: “Sự kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan” (‘Initium sapientiae timor Domini’, Psalm 111:10) Và ông đã sống như con người triết học như thế. (Cottingham, Cartesian reflections, 291)

Hơn nửa thế kỷ trước, Alexandre Koyré, một nhà triết học và sử học khoa học người Pháp (gốc Nga) có ảnh hưởng lớn, đã có đánh giá như sau về tình hợp thời của tư tưởng Descartes:

Ba thế kỷ đã ngăn cách chúng ta với Descartes: ba thế kỷ tiến bộ không ngừng và ngày càng nhanh chóng, đã hoàn toàn biến đổi khuôn khổ và điều kiện tồn tại của con người.

Ba thế kỷ, đặc biệt là ba thế kỷ tiến bộ, là một khoảng thời gian dài – đủ dài để đẩy lùi vào quá khứ hầu hết các chủ đề và một số vấn đề đã khuấy động tâm trí của tổ tiên chúng ta ba trăm năm trước. Tuy nhiên, khi đọc Descartes, không ai cảm thấy rằng người đó đang đọc những văn bản đã lỗi thời. Ngược lại: chúng vẫn sống động và lấp lánh; chúng ta vẫn có thể thưởng thức sự đơn giản có vẻ không tin được và sự nhẹ nhàng rõ ràng của Luận về Phương pháp về các vấn đề tôn giáo­; chúng ta vẫn có thể học được điều gì đó có giá trị từ sự sâu sắc được ẩn giấu cẩn thận của Suy niệm. Sự tiến bộ triết học không làm cho chúng trở nên lỗi thời, không như sự tiến bộ khoa học đã làm cho tác phẩm Sao băng (Meteors) của Descartes và phần lớn tác phẩm Khúc xạ (Dioptrics) của ông trở nên lỗi thời.(Koyré, trong Introduction của sách Elizabeth Anscombe et el (ed), Descartes. Philosophical Writings.)

Descartes càng quan trọng hơn khi mà thời nào và ở đâu lý tính bị bóp méo hay chối bỏ. Cartesian doubt và tư duy độc lập giống như liều thuốc vắc-xin giúp tăng cường sức đề kháng, hay sự đánh thức con người để vượt qua những nghịch cảnh. Điều kiện tiên quyết của mọi sự đổi mới sáng tạo, giúp vượt qua những chướng ngại vật, dường như nằm ở sự tự do tư tưởng để sáng tạo, thời nào, xã hội nào cũng thế.

Nguyên: Ông Descartes ơi, tôi muốn chào ông!

Descartes: Chào ông Nguyên. Ông khỏe mạnh chứ?

Nguyên: Cảm ơn ông. Viết xong bài, nhiều cảm xúc và suy nghĩ khiến tôi có nhu cầu muốn trò chuyện với ông. Nhưng bây giờ tôi chưa thể nói nhiều.

Descartes: Vâng lúc nào có thể, ông Nguyên trở lại nhé.

Nguyên: Tôi thấy ông giống như một tu sĩ khoát áo thế tục, một “nhà thần học” nhưng với triết lý hiện đại, weltanschauung duy lý. Ông không màng danh vọng, mà chỉ quan tâm đến một thời đại mới được khai sáng. Ông không chỉ quan tâm đến thế giới mà cả con người. Ông tin tưởng vào năng lực con người, dù “linh hồn có yếu đuối đến mức nào”, cũng có cơ hội chế ngự những cám dỗ, miễn là họ biết sử dụng ý chí tự do của họ và một số hiểu biết.

Descartes: Vâng, tôi có tâm sự chút ít về những điều đó trong Luận về phương pháp như những lời tự bạch, và trong Đam mê của linh hồn, tác phẩm được viết ra từ những phản biện và câu hỏi tò mò của người đẹp Elisabeth.

Nguyên: Điểm đặc biệt, ông xuất hiện vào lúc thế giới đang khủng hoảng về tư tưởng và có khoảng trống cần được lấp. Phải chăng triết học xuất hiện khi hệ thống niềm tin bắt đầu sụp đổ, hoặc khi bạn bắt đầu lung lay nó và nhận ra rằng nó bất ổn hơn nhiều so với bạn tưởng?

Descartes: Vâng, có lẽ như thế. Chúng tôi sống trong thời kỳ khủng hoảng. Không chỉ tôi, mà nhiều nhà khoa học khác cũng cảm nhận như thế.

Nguyên: Cảm ơn ông. Tôi rất vui khi nói được đôi lời với ông. Tôi sẽ trở lại ông khi có thể. Xin chào ông.

Descartes: Vâng, hẹn gặp lại ông sau.

Quỹ thời gian đã cạn nên tôi phải dừng lại đây. Xin cảm ơn bạn đọc đã theo dõi.

Nguyễn Xuân Xanh

Lời cảm ơn. Tác giả trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ hệt sức quý báu của T.M.K. (Berlin) trong việc cung cấp tư liệu bổ ích và phong phú rất nhiệt tình. Anh ấy như một “pháp sư” đã làm cho Điều 2 trong Bộ Đạo đức của giới Hacker – “Tất cả thông tin cần được tự do” – của lý tưởng văn hóa đối lập của vùng vịnh San Francisco thời 1980 trở thành hiện thực.

Tham khảo:

[1] DESCARTES. Selected Philosophical Writings. Translated by John Cottingham, Robert Stoothoff, Dugald Murdoch. Cambridge University Press 1988.

[2] The Philosophical Writings of Descartes. Volume I. Translated by JOHN COTTINGHAM, ROBERT STOOTHOFF, DƯGALD MURDOCH. Cambridge University Press, 1985.

[3] John Cottingham, Cartesian Reflections. Essays on Descartes’s Philosophy. Oxford University Press, 2008.

[4] Wilson, Margaret Dauler, Descartes. Ego Cogito, Ergo Sum. Routledge, 1978.

[5] Needham, Joseph (ed.), Science, Religion and Reality. The Macmillan Company, 1928.

[6] Gilson, Etienne, The Spirit of Mediaeval Philosophy. The University of Notre Dame Press, reprint 2009.

[7] Gregory, Richard (ed.). The Oxford companion to The Mind. The Oxford University Press, 1987.

[8] Pyle, Andrew, Malebranche. Routledge, 2013.

[9] Peppers-Bates, Susan, Nicolas Malebranche. Freedom in an Occasionalist World. Continuum International Publishing Group, 2009.

[10] Michael Wheeler, God’s Machines: Descartes on the Mechanization of Mind. Trong Husbands, P., Holland, O. and Wheeler, M., eds., The Mechanical Mind in History. MIT Press, Cambridge, Mass.. 2008, pp.307-330. Hay https://dspace.stir.ac.uk/bitstream/1893/657/1/wheeler_gods_machines_STORRE.pdf

[11] Freeman, David, Deconstructing Descartes: An Analysis of the Mathematical
Influences on Descartes’ Philosophy (của Hiệp hội toán học Mỹ, MAA): https://old.maa.org/sites/default/files/images/upload_library/46/HOMSIGMAA/2024-David_Freeman.pdf

[12] Burtt, Edwin Arthur, The Metaphysical Foundations of Modern Physical Science: A Historical and Critical Essay. Dover Publications, 2003.

[13] Moorman, R. H., The Influence of Mathematics on the Philosophy of Descartes. National Mathematics Magazine (MAA),Vol. 17, No. 7 (Apr., 1943), pp. 296-307.

[14] Koyré, Alexandre, Introduction trong Descartes. Philosophical Writings. A selection translated and edited by Elizabeth Anscombe, Peter Thomas Geach. Nelson, 1964.

[15] Lévy-Bruhl, Lucien, History of Modern Philosophy in France. The Open Court Publishing Company. Chicago, 1899.

[16] Donohue, Christopher R., Lucien Lévy-Bruhl: “The Course of French Philosophy and the Primitive Mind”. https://etherwave.wordpress.com/2009/11/17/lucien-levy-bruhl-the-course-of-french-philosophy-and-the-primitive-mind/

[17] (Có thể bỏ) Lévy-Bruhl, Lucien, Nicolas Malebranche. A Sketch in the History of Philosophy. The Open Court: Vol. 1898: Iss. 9, Article 2.
Available at: https://opensiuc.lib.siu.edu/ocj/vol1898/iss9/2

[18] Vrooman, Jack Rockford, Rene Descartes. A Biography. G. P. Putnam’s Sons, 1970.

[19] Kearney, Hugh, Science and Change 1500-1700. McGraw-Hill Book Company, 1981

[20] Kearney, Hugh, The Origins of the Scientific Revolution. Longmans, 1966.

[21] Freely, John, Aladdin’s lamp. Vintage Books, 2009.

[22] Kline, Morris, Mathematics. The Loss of Certainty. Oxford University Press, 1980.

[23] Gaukroger, Stephen, Descartes. An intellectual biography. Clarendon Press, Oxford, 1995.

[24] Grayling, A. C., The Age of Genius. The Seventeenth Century & The Birth of the Modern Mind. Bloomsbury, 2016.

[25] Willey, Basil, The Seventeenth Century Background. A Doubleday Anchor Books. 1953.

[26] Gillispie, Charles C., The Edge of Objectivity. An Essay in the History of Scientific Ideas. Princeton University Press, 1960.

[27] Gribbin, John, The Scientists. A History of Science Told Through the Lives of Its Greatest Inventors. Random House, 2004.

[28] Randall, John H. Jr., The Making of The Modern Mind. Columbia University Press, 1976.

[29] Strathern, Paul, Dark Brilliance. The Age of Reason. From Descartes to Peter the Great. Atlantic Books, 2024.

[30] Crowther, James G. , The Social Relations of Science. The Macmillan Company, 1941.

[31] Israel, Jonathan I., Radical Enlightenment. Philosophy and the Making of Modernity 1650-1750. Oxford University Press, 2001.

[32] Descartes, presented by Paul Valéry trong Series The Living Thought. Cassell and Company, 1948.

[33] Kline, Morris (người giới thiệu), Mathematics in the Modern World. Readings from Scientific American. H. Freeman and Company, 1968.

[34] Cottingham, John (ed.), The Cambridge Companion to Descartes. Cambridge University Press, 1992

[35] Clarke, Desmond M., DESCARTES. A Biography. Cambridge University Press, 2006

[36] Henry, John, A Short History of Scientific Thought. Palgrave MacMillan, 2012.

[37] Grayling, A.C., The Age of Genius. The Seventeenth Century & The Birth of the Modern Mind. Bloomsbury, 2016.

[38] Kenny, Anthony, The Rise of Modern Philosophy. Clarendon Press, Oxford, 2006.

[39] Cottingham, John (ed.), Descartes. Meditations on First Philosophy. With an introductory essay by Bernard Williams and a new introduction for this edition by John Cottingham. Revised edition. Cambridge University Press, 1996.

[40] Schouls, Peter A., Descartes and the Enlightenment. Edinburgh University Press, 1989.

[41] Carl B. Boyer revised by Uta C. Merzbach, History of Mathematics. John Wiley & Sons, 1991.

[42] Bell, E. T., Men of Mathematics. A Touchstone Book Published by SIMON & SCHUSTER, 1986.

[43] Descartes, René. Passions of the Soul. Translated by Jonathan Bennett.

[44] Rée, Jonathan. Descartes. London, 1974.

[45] René Descartes. Tự điển bách khoa Britannica, Stanford, Wikipedia, MacTutor-St. Andrews