VỀ GIÁO DỤC
On Education (1936)
Albert Einstein
(Từ một bài diễn văn trong Hội nghị lần thứ 72 của trường Đại học Tiểu bang New York, tại Chancellor Hall của Tòa nhà Giáo Dục Tiểu bang, thành phố Albany, New York, trong Lễ kỷ niệm 300 năm Giáo dục Đại học Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 10 năm 1936.)
Trong sách Albert Einstein, Từ những năm sau của đời tôi (2025)
Trường học phải phát triển trong những cá nhân trẻ tuổi những phẩm chất và năng lực có giá trị cho sự phát triển của cộng đồng. Trường học phải phát triển trong những cá nhân trẻ tuổi những phẩm chất và năng lực có giá trị cho sự phát triển của cộng đồng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cá nhân phải mất đi cá tính của mình, để trở thành một công cụ vô tri vô giác của cộng đồng, như con ong, con kiến. Bởi vì, một cộng đồng gồm những con người được tiêu chuẩn hóa không có tính cách và mục tiêu cá nhân sẽ là một cộng đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Ngược lại, mục tiêu phải là: đào tạo những cá nhân hành động tự chủ và tư duy độc lập, nhưng nhìn thấy nhiệm vụ cao cả nhất của cuộc đời mình trong phụng sự cộng đồng.
— Albert Einstein
Trường này (Aarau), bằng tinh thần khai phóng và sự nghiêm túc bình dị của những vị thầy không hề dựa lên quyền lực bề ngoài, đã để lại ở tôi một ấn tượng không phai; bằng sự so sánh với sáu năm giáo dục tại một trường gymnasium thực hành độc đoán, tôi trở nên ý thức sinh động rằng lối giáo dục để hành động tự do và tự trách nhiệm là hơn hẳn thế nào lối giáo dục dựa lên sự rèn luyện như trong quân đội, lên sự độc tài và tham vọng. Dân chủ đích thực không phải là lời sáo rỗng.
— Albert Einstein

Albert Einstein năm 17 tuổi. Một thanh niên đầy cá tính, nhưng luôn luôn nhắm đến mục tiêu tối hậu là khoa học.
Lời nói đầu
Giáo dục là nền tảng của phát triển. Nhưng có nhiều loại giáo dục với nhiều tác dụng khác nhau từ tích cực đến tiêu cực. Những trải nghiệm xấu lẫn tốt về giáo dục mà Einstein đã trải qua khiến ông lên tiếng. Một trong những đặc tính của giao dục mà Einstein thấy cần phải có là không gian tự do cho học sinh và tính nhân văn của nó, khuyến khích phát triển óc tò mò, có tư duy độc lập và theo đuổi những ý tưởng của mình một cách có phương pháp, điều ông đã trải nghiệm ở Thụy Sĩ, và là điều đã để lại dấu ấn sâu đậm ở ông, khác với giáo dục gò bó ở trường Đức mà ông đã tự ý bỏ ngang. Thụy Sĩ thời ông nổi tiếng là quốc gia phóng khoáng, khoan dung đối với người nước ngoài, đặc biệt vùng Zurich và Bern, nơi ông từng sống và học và thành công. Giáo dục gò ép quá sẽ làm cho học sinh dễ “biến chất” để trở thành “khuôn mẫu” cứng nhắc theo mong muốn của nhà trường, có thể xa lạ với bản chất thật của con người. Giáo dục cần tạo đam mê và lý tưởng, giúp học sinh sau này tiếp tục tự học, và học suốt đời. Đó mới là quãng đời dài lập thân của học sinh.
Cụ thể: ở trường Aarau có ba vị thầy có ảnh hưởng lên Einstein về nhiều mặt. Người thứ nhất là Friedrich Mühlberg, giáo sư lịch sử tự nhiên, và đôi khi cả toán. Quan điểm của ông là mục đích của giáo dục khoa học tự nhiên là sự “tạo hình tinh thần tổng quát” (allgemeine Geistesbildung). Học sinh của ông phải học nhiều và thuộc lòng nhiều, nhưng phải áp dụng nguyên lý của ông “quan sát – suy nghĩ – nói ra” như để tập cho học trò tự lập và học để khám phá. Ông đã đề ra những cách thức mới cho giáo dục khoa học tự nhiên: Giáo dục khoa học tự nhiên cần phải dựa lên tư duy-bằng-hình-ảnh (Anschauung, visualization), và cơ bản thực hành qua quan sát, trầm tư về điều đã quan sát, và nói ra về những gì mình quan sát và suy nghĩ. Tư duy-bằng-hình-ảnh là một trong quan điểm giáo dục của Pestalozzi, và Einstein được biết cũng là người tuy duy bằng hình ảnh. Những phần quan trọng trong giáo dục là thực hành, như đi dã ngoại, và những chuyến đi nghiên cứu xa của trường. Bản thân ông cũng là nhà nghiên cứu không mệt mỏi và có những công trình được công bố về hệ thực vật của Aargau, về kỷ băng hà v.v. Thầy Mühlberg cũng cho học sinh của ông làm quen với ý tưởng của các nhà khoa học tự nhiên hiện đại đương thời, như Ludwig Büchner, Charles Darwin và Ernst Haeckel, và vì thế bị giới tôn giáo chính thống đã kích. Einstein có ấn tượng mạnh mẽ từ vị thầy Mühlberg, và sau này có nói một cách vui và thân mật: „Đó là một lão độc đáo và thú vị“.
Chúng ta tạm gác lại thầy thứ hai August Tuchschmid dạy về vật lý và thực nghiệm để nói đến thầy thứ ba, nhân vật quan trọng trong đời Einstein: Jost Winteler. Đó là người thầy khai sáng và dẫn dắt cho Albert Einstein. Ông là giáo sư về tiếng Hy Lạp và lịch sử tại trường Aarau một nhà ngôn ngữ học, một nhà ngữ văn học “được chú ý”, một nhà điểu học, một nhà báo, và một nhà thơ. Ông vừa là người hướng dẫn vừa đóng vai trò người cha đỡ đầu.
Einstein rất ý thức về những chỗ yếu của ông. Chẳng hạn ông nói:
Tôi là một người trẻ có ý chí riêng, nhưng khiêm tốn, người đã thu thập được những kiến thức quan trọng còn thiếu sót của mình chủ yếu thông qua tự-học. Mong muốn hiểu biết sâu hơn, nhưng lại ít có năng khiếu trong việc lĩnh hội, và lại có trí nhớ kém, nên việc học có vẻ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với tôi.
Cái gì đã giúp ông thành công? Như ông nói, đó là óc tò mò vô hạn và sự kiên nhẫn theo đuổi đến cùng những bài toán được đặt ra. Đó chính là bản tính của ông. Việt Nam muốn có Einstein? Điều kiện tiên quyết là hệ thống giáo dục cần nghĩ rằng trong các lớp học có những Einstein, hay Steve Jobs, những tâm hồn rất nhạy cảm, ngồi trong đó.
Quan điểm giáo dục của Einstein chắc chắn “không chính thống” như ta thường hiểu, nhưng rất đáng được tham khảo, nếu ta muốn có một nền giáo dục thực chất hơn, không chạy theo những khuôn mẫu cứng nhắc, chỉ tiêu, phong trào v.v.
Xem chi tiết về Einstein với giáo dục trong chương mới (11) của sách EINSTEIN khi nó được tái bản. Ở đó tôi sẽ trình bày The Einstein-Way, hay Con đường Einstein diễn ra trong những năm hình thành ở Zurich và Bern cho đến annus mirabilis diễn ra khi ông 26 tuổi. Lúc đó ông như đại bàng cất cánh từ cái tổ chật vật vô danh nằm bên lề bộ máy hàn lâm đã từng ruồng bỏ ông. Đó là điều không ai tưởng tượng nổi. Con đường Einstein vì thế lại càng hết sức thuyết phục về sự phấn đấu quyết tâm trì chí luôn luôn học hỏi một cách khôn ngoan có một không hai của cậu Einstein trẻ.
Xin tham khảo thêm:
A. Einstein: Tấm gương lớn của Tư duy độc lập (2021)
Về Giáo dục (1936)
Một ngày kỷ niệm như hôm nay thường được dành để nhìn lại quá khứ, đặc biệt là để tưởng nhớ những cá nhân đã có đóng góp đặc biệt cho sự phát triển đời sống văn hóa của đất nước. Sự tri ân đối với các tiền nhân của chúng ta cũng không thể bị bỏ qua, vì sự tưởng nhớ những con người tốt đẹp nhất trong quá khứ có thể khích lệ những người thiện chí ngày nay nỗ lực một cách dũng cảm. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện bởi những người từ thời trai trẻ của mình đã gắn bó với Tiểu bang này[1] và quen thuộc với quá khứ của nó, chứ không phải bởi một người như tôi, một kẻ du mục đã lang thang và tích lũy kinh nghiệm ở các quốc gia khác nhau.
Vì vậy, khi cố gắng đáp lại lời mời ân cần và vinh dự của các bạn, tôi không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát biểu về những vấn đề luôn luôn, đã và sẽ, liên quan đến ngành giáo dục một cách độc lập với không gian và thời gian. Trong nỗ lực này, tôi không thể tự cho mình là có thẩm quyền, nhất là khi những người thông thái và thiện chí của mọi thời đại đã nghiên cứu và chắc chắn đã nhiều lần đưa ra những quan điểm hợp lý về chủ đề này. Làm sao tôi, một kẻ “bán chuyên” trong lĩnh vực sư phạm, có thể có đủ can đảm để trình bày trước quý vị những luận điểm chỉ dựa trên kinh nghiệm và niềm tin cá nhân?
Nếu đây là một chủ đề thực sự mang tính khoa học, những cân nhắc trên có thể khiến người ta phải im lặng. Tuy nhiên, đối với những vấn đề của cuộc sống và hành động thì lại khác. Ở đây, nhận thức về chân lý chỉ một lần là không đủ; nó phải được không ngừng làm cho sống lại và giành lại, nếu không muốn nó mất đi. Nó giống một pho tượng cẩm thạch đứng giữa sa mạc và luôn bị đe dọa chôn vùi bởi gió cát. Những bàn tay phục vụ phải luôn làm việc, để cho cẩm thạch luôn tỏa sáng bền lâu dưới ánh mặt trời. Hai bàn tay tôi cũng xin góp sức với những bàn tay ấy.
Trường học luôn luôn là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao sự phong phú của các truyền thống từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Ngày nay, điều này còn đúng hơn so với thời xưa. Bởi vì, sự phát triển hiện đại của đời sống kinh tế đã làm suy yếu vai trò của gia đình với tư cách là người gìn giữ truyền thống và giáo dục. Do đó, sự tồn tại lâu dài và phát triển lành mạnh của xã hội loài người ngày nay càng phụ thuộc vào trường học hơn trước đây.
Người ta đôi khi chỉ nhìn trường học như một phương tiện để truyền đạt một lượng kiến thức tối đa nhất có thể cho thế hệ đang lớn lên. Nhưng thực tế không phải vậy. Kiến thức là chết, trong khi trường học là người phục vụ cho cuộc sống. Trường học phải phát triển trong những cá nhân trẻ tuổi những phẩm chất và năng lực có giá trị cho sự phát triển của cộng đồng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cá nhân phải mất đi cá tính của mình, để trở thành một công cụ vô tri vô giác của cộng đồng, như con ong, con kiến. Bởi vì, một cộng đồng gồm những con người được tiêu chuẩn hóa không có tính cách và mục tiêu cá nhân sẽ là một cộng đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Ngược lại, mục tiêu phải là: đào tạo những cá nhân hành động tự chủ và tư duy độc lập, nhưng nhìn thấy nhiệm vụ cao cả nhất của cuộc đời mình trong phụng sự cộng đồng. Theo như tôi có thể đánh giá, trường học Anh gần với sự hiện thực hóa lý tưởng này nhất.
Nhưng làm cách nào để có thể đến gần hơn với lý tưởng này? Có nên cố gắng thực hiện mục tiêu này bằng việc thuyết giảng đạo đức? Chắc chắn là không! Ngôn từ chỉ là những âm thanh rỗng, và con đường đi đến địa ngục luôn đi kèm với việc tôn thờ lý tưởng bằng những lời đầu môi chót lưỡi. Nhân cách không hình thành bởi những gì được nghe và nói, mà thông qua lao động và hành động.
Phương tiện giáo dục quan trọng nhất luôn là việc khuyến khích học sinh đạt được thành tích. Điều này đúng với những nỗ lực tập viết đầu tiên của một em học sinh tiểu học, cũng như với luận văn tiến sĩ của một nghiên cứu sinh, hay với việc học thuộc lòng một bài thơ, viết một bài văn, diễn giải hoặc dịch một văn bản, giải một bài toán hay tập luyện một môn thể thao.
Đằng sau mỗi thành tích là động lực cảm xúc, yếu tố cơ bản tạo ra thành tích đó, và theo chiều ngược lại, yếu tố này được củng cố và nuôi dưỡng qua việc hoàn thành thành tích. Ở đây có những khác biệt lớn nhất, và chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với giá trị giáo dục của trường học. Cùng một thành tích có thể được tạo ra từ sự sợ hãi và ép buộc, từ nhu cầu tham vọng muốn được công nhận và tôn vinh; hoặc sự quan tâm yêu thương đối với sự vật, hay nhu cầu nắm bắt chân lý và sự hiểu biết, tức là sự tò mò thiêng liêng mà mọi đứa trẻ lành mạnh đều mang trong mình, nhưng thường sớm bị mai một. Ảnh hưởng giáo dục mà học sinh nhận được khi đạt được cùng một thành tích có thể rất khác nhau, tùy thuộc vào việc thành tích đó xuất phát từ nỗi sợ đau đớn, đam mê vị kỷ, hay sự khao khát niềm vui và sự thỏa mãn. Và không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của hệ thống nhà trường và hành vi của giáo viên đến quá trình phát triển tâm lý của học sinh.
Đối với tôi, có lẽ điều tồi tệ nhất là khi một trường học hoạt động chủ yếu với các biện pháp của sợ hãi, ép buộc và quyền lực giả tạo. Cách hành xử như vậy tiêu diệt các cảm xúc lành mạnh, sự chân thành và lòng tự tin của học sinh. Nó tạo ra “những thần dân” phục tùng. Không có gì ngạc nhiên khi các trường như vậy là chuẩn mực ở Đức và Nga. Tôi biết rằng các trường học ở đất nước này (Hoa Kỳ) đã tránh được điều tồi tệ nhất đó; cũng tương tự ở Thụy Sĩ và có lẽ ở tất cả các quốc gia có nền dân chủ. Cách tương đối đơn giản để giữ cho nhà trường tránh khỏi điều tồi tệ nhất này là: Trang 32 trao cho giáo viên ít biện pháp cưỡng chế nhất có thể, để nguồn gốc duy nhất của sự kính trọng của học sinh dành cho giáo viên là phẩm chất nhân văn và trí tuệ của họ.
Động lực thứ hai được đề cập, đó là tham vọng, hay nói nhẹ nhàng hơn, là khao khát được công nhận và tôn trọng, đã ăn sâu vào bản chất của con người. Nếu thiếu những động lực cảm xúc như vậy, sự hợp tác của con người sẽ hoàn toàn không thể xảy ra; khao khát được đồng loại chấp nhận chắc chắn là một trong những sức mạnh kết nối quan trọng nhất của xã hội. Trong phức hợp cảm xúc này, các lực lượng xây dựng và hủy hoại tồn tại rất gần nhau. Khao khát được chấp nhận và công nhận là một động cơ lành mạnh. Tuy nhiên, khao khát được công nhận là giỏi hơn, mạnh mẽ hơn hoặc thông minh hơn người khác dễ dẫn đến một thái độ vị kỷ thái quá, điều có thể trở nên nguy hại cho cá nhân và cộng đồng. Vì vậy, trường học và giáo viên cần cẩn trọng tránh sử dụng phương pháp dễ dàng kích thích tham vọng cá nhân để thúc đẩy học sinh nỗ lực.
Một số người đã viện dẫn học thuyết đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên của Darwin để biện minh cho việc khơi dậy tinh thần cạnh tranh. Thậm chí, họ còn cố gắng biện minh cho một hệ thống cạnh tranh vô chính phủ trong kinh tế một cách giả khoa học. Tuy nhiên, điều này là sai lầm, vì con người có được sức mạnh trong cuộc đấu tranh sinh tồn nhờ vào thực tế rằng, chúng ta là một loài động vật có tính xã hội. Sự cạnh tranh giữa các cá nhân trong xã hội loài người cũng ít, hoặc không quan trọng đối với quá trình chọn lọc như những cuộc chiến giữa các con kiến riêng lẻ trong một tổ kiến vậy.
Vì vậy, người ta nên cảnh giác với việc rao giảng sự thành công theo nghĩa thông thường như một mục tiêu sống cho thanh niên. Bởi vì, một người thành công trong hầu hết các trường hợp, là người nhận được rất nhiều từ người khác, thường là nhiều hơn rất nhiều những gì anh ta đã làm cho đồng loại của mình. Nhưng giá trị của một người nên được nhìn nhận qua những thứ anh ta cho đi, chứ không phải qua những thứ anh ta có thể nhận được.
Động cơ quan trọng nhất cho thành tựu ở trường học và cuộc sống là niềm vui trong công việc, vui với kết quả của nó, và ý thức về giá trị của kết quả đó đối với cộng đồng. Trong việc đánh thức và củng cố những sức mạnh tâm lý này ở người trẻ tuổi tôi nhìn thấy nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục học đường. Chỉ riêng một nền tảng tâm lý như vậy mới dẫn tới sự phấn đấu hân hoan hướng về những thứ cao quý nhất của con người: Tri thức và Sáng tạo nghệ thuật.
Việc đánh thức các sức mạnh tâm lý sáng tạo này chắc chắn khó khăn hơn việc ép buộc hay khơi dậy tham vọng cá nhân, nhưng vì thế, nó lại càng có giá trị hơn. Mục tiêu là phát triển bản năng vui chơi và khát khao tìm hiểu ở trẻ em, và hướng chúng sang những lĩnh vực quan trọng đối với xã hội; đó chính là nền giáo dục chủ yếu dựa trên mong muốn đạt được thành công trong công việc và sự hiểu biết. Nếu trường học có thể làm việc hiệu quả theo những quan điểm này, họ sẽ được thế hệ trẻ đánh giá cao và những bài tập nhà trường giao sẽ được tiếp nhận như một món quà. Tôi đã gặp những đứa trẻ thích đi học hơn nghỉ ở nhà.
Một trường học như vậy đòi hỏi giáo viên phải là một nghệ sĩ trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Làm cách nào để hiện thực hóa được tinh thần này trong trường học? Không có một giải pháp chung nào cho việc đó, cũng như không có phương thuốc chung nào để một cá nhân sống khỏe mạnh. Nhưng có những điều kiện tiên quyết nhất định có thể đáp ứng. Đầu tiên, các giáo viên phải được trưởng thành trong các trường học như vậy. Thứ hai, giáo viên cần được trao quyền tự do rộng rãi trong việc lựa chọn các tài liệu giảng dạy và phương pháp giảng dạy mà họ áp dụng. Bởi vì, điều cũng đúng đối với anh ta là, niềm vui trong việc sáng tạo công việc của mình sẽ bị giết chết bởi sự ép buộc và áp lực bên ngoài.
Nếu các bạn đã chăm chú theo dõi những suy nghĩ của tôi cho đến lúc này, chắc chắn các bạn sẽ ngạc nhiên về một điều: tôi đã trình bày chi tiết về tinh thần, mà theo tôi, tuổi trẻ nên được giáo dục ở trường. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa nói gì về việc lựa chọn các môn học, hay phương pháp giảng dạy. Ngôn ngữ hay giáo dục khoa học tự nhiên nên được ưu tiên?
Tôi xin trả lời câu hỏi này: theo tôi, tất cả những điều này là thứ yếu. Khi một người trẻ tuổi luyện cơ bắp và sự dẻo dai của mình bằng các môn thể dục dụng cụ và đi bộ dường dài, sau này anh ta sẽ phù hợp với bất kỳ công việc thể chất nào. Điều này cũng tương tự với việc rèn luyện trí óc và luyện tập kỹ năng khéo léo của giác quan và đôi tay. Do đó, một người hóm hỉnh không sai khi định nghĩa giáo dục như sau: giáo dục là những gì còn đọng lại sau khi người ta quên hết những gì đã được học ở trường. Vì vậy, tôi thấy không nhất thiết phải đứng về phe nào trong cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ nền giáo dục cổ điển theo hướng ngữ văn – lịch sử và những người ủng hộ nền giáo dục thiên về khoa học tự nhiên.
Mặt khác, tôi muốn phản bác lại quan điểm cho rằng trường học phải dạy trực tiếp kiến thức chuyên biệt và những kỹ năng mà người ta sẽ trực tiếp sử dụng sau này trong cuộc sống. Những đòi hỏi của cuộc sống là quá sức đa dạng để cho phép một sự đào tạo chuyên biệt như vậy ở trường học khả thi. Hơn nữa, đối với tôi, thật là một điều đáng trách nếu đối xử với một cá nhân như một công cụ vô tri vô giác. Trường học luôn hướng tới mục tiêu để một người trẻ tuổi khi rời khỏi đó là một nhân cách hài hòa, chứ không phải là một chuyên gia. Điều này theo tôi, và trong một nghĩa nào đó, cũng đúng đối với trường chuyên ngành mà những người tốt nghiệp từ đó sẽ tham gia vào những ngành nghề cụ thể. Phát triển các khả năng tổng quát cho tư duy độc lập, phán đoán và lao động phải luôn được đặt lên hàng đầu, chứ không phải việc tiếp thu kiến thức chuyên biệt. Nếu một người nắm vững những kiến thức cơ bản của ngành chuyên môn của mình và học được cách tư duy và làm việc độc lập, anh ta chắc chắn sẽ tìm được con đường của mình, và hơn thế nữa, có thể thích nghi với những tiến bộ và biến động một cách tốt hơn so với người được đào tạo chủ yếu hướng đến việc tiếp thu kiến thức chi tiết.
Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, những gì được trình bày ở đây một phần nào mang tính khẳng định, không có ý nghĩa gì hơn ngoài quan điểm cá nhân của một người, được hình thành chỉ dựa trên những trải nghiệm cá nhân mà anh ta đã thu thập được với tư cách là một học sinh và một giáo viên. Tôi cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội để trình bày những ý kiến này trước một cuộc họp quan trọng như vậy.
Albert Einstein
[1] Tiểu bang New York