RENÉ DESCARTES
về
SỰ HỌC (LEARNING)
Tuy nhiên, tôi vẫn luôn trân trọng những bài học được làm ở trường. Tôi biết rằng các ngôn ngữ (ý nói Latin, Hy Lạp, ND) học ở đó rất cần thiết để hiểu các tác phẩm của người xưa; rằng sức hấp dẫn của truyện ngụ ngôn đánh thức tâm trí, trong khi những chiến công đáng nhớ được kể trong sử sách nâng cao tinh thần và giúp mài giũa phán đoán nếu đọc một cách cẩn trọng; rằng đọc những cuốn sách hay giống như trò chuyện với những người lỗi lạc nhất của các thời đại trước – quả thực, một cuộc trò chuyện được chuẩn bị kỹ lưỡng, trong đó các tác giả chỉ tiết lộ cho chúng ta những suy nghĩ hay nhất của họ; rằng hùng biện có sức mạnh và vẻ đẹp vô song; rằng thơ ca có sự tinh tế và ngọt ngào quyến rũ; rằng toán học chứa đựng một số phương pháp rất tinh tế, vừa giúp thỏa mãn sự tò mò, vừa thúc đẩy tất cả các ngành nghệ thuật và giảm bớt công sức của con người; rằng các tác phẩm về đạo đức chứa đựng nhiều lời dạy và lời khuyên hữu ích về đức hạnh; rằng thần học hướng dẫn chúng ta cách lên thiên đường; rằng triết học cung cấp cho chúng ta phương tiện để nói một cách thuyết phục về bất kỳ chủ đề nào và giành được sự ngưỡng mộ của những người ít học; rằng luật học, y học, và các ngành khoa học khác mang lại vinh dự và giàu có cho những người trau dồi chúng, và cuối cùng, điều tốt là nên nghiên cứu tất cả các lĩnh vực này, ngay cả những lĩnh vực đầy mê tín và sai lầm, để biết giá trị thực sự của chúng và đề phòng bị chúng lừa dối.
— Descartes, từ Luận về phương pháp, Discourse on the Method (1637)

René Descartes (1596 ở La Haye-en-Touraine, Pháp-1650 ở Stockholm, Thụy Điển, ∼ 54t). Ảnh: Leonard de Selva/Corbis
Descartes gắn liền tên tuổi của mình với câu nói bất hủ mà ai cũng biết: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” (Cogito, ergo sum), mặc dù ngoài ý nghĩa nhận thức luận về sự tồn tại của mình một cách chắc chắn nó có ý nghĩa tôn giáo sâu sắc đối với Descartes để chứng minh sự tồn tại của Chúa, người đã để lại dấu ấn trên ông. Ông còn là người sáng tạo ra hình học giải tích, hệ thống tọa độ Cartesian (la tinh hóa của Descartes) và áp dụng toán học vào triết học của ông, để xây dựng triết học trên nền tảng của toán học cho vững chắc. Ông cũng nỗ lực, mặc dù có những sai lầm trong chi tiết, thiết kế thuyết vũ trụ học theo các nguyên lý cơ học, có thể được xem là tiền thân của Kant, người trong tác phẩm Allgemeine Naturgeschichte und Theorie des Himmels (1755) đã xây dựng một phát thảo của vũ trụ học dựa trên các nguyên lý vật lý cổ điển. Descartes là nhà tư tưởng lỗi lạc đầu tiên của thời hiện đại, người mà tác phẩm của ông, trái ngược với nhiều phương pháp triết học của thời Phục Hưng, đã trở thành yếu tố định hình cho nhận thức hiện đại.
Trên con đường tìm về nguồn gốc của khoa học (tự nhiên) chúng ta không thể không gặp René Descartes, một nhà tư tưởng rất đặc biệt. Ông sinh ra cuối thế kỷ XVI và sống nửa đầu thế kỷ XVII, một con người đứng giữa thế giới chiếm ngự bởi đức tin, và thế giới sắp sửa chiếm ngự bởi khoa học hiện đại, với cái đầu duy lý hướng đến thế giới sau, trong khi trái tim vẫn nằm trong thế giới trước. Ông sống giữa Galilei và Newton, đúng vào trào lưu đang dâng lên không cưỡng được hướng về khoa học hiện đại. Thế kỷ XVII là bản lề. Nhân tố mạnh mẽ nhất là lý tính, được truyền lại từ Hy Lạp cổ đại và truyền bá mạnh mẽ vào các đại học Trung cổ. Lý tính là yếu tố làm cho con người khác biệt với muôn loài. Alfred North Whitehead cho rằng, không có lý tính, phương Tây sẽ không có khoa học (tự nhiên). Có lẽ không sai. Lý tính và tư duy logic là những yếu tố định hướng con người. Nếu không có con người sẽ lạc lối trong mê cung.
Descartes là con người rất chân thật với chính mình. Ông thuộc dòng quý tộc, được đào tạo tại trường Dòng Tên nổi tiếng ở La Frèche. Ông được dạy đầy đủ với những gì được xem là nội dung cao cấp nhất của nền giáo dục thời bấy giờ. Ông được đào tạo để trở thành nhà thông thái của nền văn minh. Nhưng rồi, khi học xong, khi có khoảng cách, ông nhìn lại sự học với con mắt trung thực của một “người quan sát khách quan” trong tinh thần phê phán. Triết học và khoa học hiện ra dưới mắt ông không phải toàn màu hồng như truyền thống quan niệm. Ông viết trong tác phẩm Luận về phương pháp (Discourse on Method):
Về triết học, tôi sẽ không nói gì thêm, ngoại trừ việc khi tôi thấy nó đã được trau dồi qua nhiều thế kỷ bởi những người lỗi lạc nhất, và vẫn không có một vấn đề nào trong phạm vi của nó mà không còn gây tranh cãi, và do đó không có gì là không thể nghi ngờ, tôi không dám dự đoán rằng thành công của mình trong đó sẽ lớn hơn người khác, và hơn nữa, khi tôi xem xét số lượng các ý kiến trái chiều về một vấn đề duy nhất có thể được các học giả ủng hộ, trong khi chỉ có thể có một chân lý, tôi coi hầu hết những gì chỉ được xem là có thể là gần như sai lầm.
Đối với các ngành khoa học khác, trong chừng mực chúng vay mượn nguyên lý từ triết học, tôi quyết định rằng bất cứ điều gì vững chắc không thể được xây dựng trên nền tảng lung lay như vậy. Cả danh vọng lẫn của cải mà chúng hứa hẹn đều không đủ để thuyết phục tôi học chúng. Bởi vì hoàn cảnh của tôi, tạ ơn Chúa, không bắt buộc tôi phải gia tăng tài sản bằng cách biến khoa học thành nghề nghiệp; và mặc dù tôi không tự nhận là khinh thường vinh quang, như một người theo chủ nghĩa Cynic, nhưng tôi lại đánh giá rất thấp vinh quang mà tôi chỉ có thể hy vọng đạt được từ những lời giả dối. Cuối cùng, đối với các ngành khoa học giả tạo, tôi nghĩ rằng tôi đã biết rõ giá trị của chúng đến mức không dễ bị lừa bởi những lời hứa hẹn của một nhà giả kim thuật hay những lời tiên đoán của một nhà chiêm tinh, những mánh khóe của một ảo thuật gia hay những trò lừa bịp và khoe khoang của những người tự xưng là biết nhiều hơn thực tế.
Dưới mắt ông, triết học và khoa học của quá khứ đã đổ vỡ và cần được làm mới lại. Chủ nghĩa Aristotle vốn là cột trụ của tôn giáo cần phải bị phá bỏ để khoa học tiến lên. Thái độ hoài nghi này là khởi đầu của một thái độ được gọi là Cartesian doubt (hoài nghi của Descartes). Nó là đặc trưng của toàn bộ các tác phẩm của ông. Trong “Nguyên lý triết học“, Principles of Philosophy, một tác phẩm nền tảng của triết học duy lý và vật lý cơ học của Descartes (1644), tại mục đầu tiên hết, ông khẳng định:
- Người đi tìm kiếm chân lý, một lần trong đời mình, phải đặt dấu hỏi cho mọi thứ, trong chừng mực có thể.
Đó có thể tạm gọi là Nguyên lý Cartesian, tiên quyết, của những người đi tìm chân lý.
Luận về Phương pháp là một tác phẩm tự truyện, “duyên dáng về văn chương, hấp dẫn về con người, và sáng tỏ về triết học”. Descartes viết tác phẩm bằng tiếng Pháp. Ông muốn nhắm đến một giai tầng xã hội mới, đó là những quý ông, bác sĩ và luật sư có tư tưởng triết học, những người có địa vị ngày càng cao trong thế kỷ đó, lấn át giới giáo sĩ. Xa hơn, Descartes có lẽ muốn hướng đến các triết gia đời sau, đặc biệt của thế kỷ XVIII.
Descartes ủng hô thuyết nhật tâm của Copernice như Galilei làm, và đó là lý do khiến Galilei bị trừng phạt. Vì thế ông không công bố tác phẩm Le Monde (Thế giới) của ông. Không khí của thế kỷ XVII và trước đó là ngột ngạt. Giáo hội đã yêu cầu, dưới sự đe dọa trừng phạt, rằng các nghiên cứu khoa học không được đưa ra kết quả trái ngược với giáo lý chính thống. Nhưng khuynh hướng tiến về một nền khoa học thuần túy không chịu ảnh hưởng của tôn giáo là không đảo ngược.
Descartes ảnh hưởng lên nhiều nhà triết học sau ông. Nicolas Malebranche là một học trò sáng giá sinh ra mười hai năm trước khi ông mất. Ông là một tu sĩ dòng Oratory. Ông đã tỏ ra rất ‘thầm thường’ cho đến khi đọc được tác phẩm Traité de L’Homme (Luận về con người) của Descartes. Từ thời điểm này trở đi, Malebranche đã thay đổi hoàn toàn, và đi lên như vì sao, say mê nghiên cứu triết học tự nhiên, triết học Descartes và toán học. Ông cảm thấy đây chính là triết học đích thực, được xây dựng vững chắc trên những ý tưởng rõ ràng và mạch lạc, cung cấp những lập luận chứng minh với tất cả sự chặt chẽ của các chứng minh toán học.
Triết học của Malebranche tìm cách tổng hợp chủ nghĩa Descartes – chủ nghĩa cơ học – với tư tưởng của Thánh Augustinô, giữa chủ nghĩa duy lý và đức tin. Những nhà khoa học vĩ đại của thế kỷ XVII, kể cả Newton, không ai là vô thần, họ vẫn có trái tim mộ đạo, họ chỉ muốn biết Trời vận hành ra sao, bên cạnh con đường lên Trời là nhiệm vụ chỉ dẫn của tôn giáo. Họ muốn hiểu tác phẩm của Chúa.
Malebranche rất đáng yêu, rất thánh thiện. Đối với ông, lý tính thôi chưa đủ, mà cần phải có linh hồn biết “nhìn (mọi thứ) trong Chúa” (“Vision in God”) như Người sáng tạo ra vạn vật, thì mới đầy đủ. Lúc đó, con người mới trọn vẹn là tác phẩm của Chúa, được tạo ra theo hình ảnh của Chúa. Đối với Malebranche, cũng như đối với Augustine, mọi tri thức đều là mặc khải (revelation).
Ảnh hưởng của Descartes lên tư duy triết học của nước Pháp là rất lớn. Descartes đã thiết lập “bản sắc trí thức Pháp” (French intellectual character) ở tầm quốc gia. Lịch sử triết học Pháp, từ Descartes cho đến những năm 1890 tức cuối thế kỷ XIX, thể hiện những đặc điểm cụ thể liên quan đến tính cách dân tộc và đời sống trí thức Pháp. Điều quan trọng nhất là nhiều triết gia Pháp bắt đầu sự nghiệp học tập của mình từ toán học hoặc khoa học tự nhiên, điều Descartes đã khởi xướng mạnh mẽ và thuyết phục.
Một điều rất ngạc nhiên là khái niệm vật chất (material) và sự mở rộng (extension) đối với Descartes là gắn bó với nhau: Không gian là sự mở rộng của vật chất. Cả hai đều tồn tại hay biến mất cùng lúc. Điều này, gần ba trăm năm sau, được Thuyết tương đối rộng của Einstein xác nhận tuyệt vời. Nếu tất cả vật chất đều biến mất, thì không gian cũng biến mất theo. Không có không gian rỗng. Và Nguyên lý Cartesian của Descartes đã không xa lại với “Nguyên lý Einstein” qua câu nói đặc trưng của ông: “Điều quan trọng là người ta không ngừng hỏi” (Wichtig ist, dass man nicht aufhört zu fragen.) Đặt câu hỏi trước sự vĩ đại huyền bí của vũ trụ, hay trước những chân lý đã có sẵn. Einstein rất yêu khoa học, nhưng yêu với tình yêu Cartesian, để không chỉ thuần lập lại dù đó là chân lý được công nhận, mà dám xem xét lại khi cần để có thêm khoa học mới và đổi mới sáng tạo.
Tuy mô hình vận hành của vũ trụ bằng chuyển động xoáy nước (vortex) khổng lồ, gồm một khối vật chất vô hình đang quay xung quanh mặt trời kéo các hành tinh chuyển động theo như những chiếc lá trong một vòng xoáy, không đáp ứng được thực thế như Newton đã chỉ ra, nhưng ông là người tự mình biết đi tìm sự thật. Lớn lên được bao bọc bởi một nền văn hóa, giáo dục mang tính kinh viện dưới sức ép giáo điều của Giáo hội, ông vẫn nhận thức được giới hạn của hệ thống và thoát ra được để xây dựng một triết học và Weltanschauung độc lập đượm màu khoa học và toán học trong khi vẫn giữ được trái tim mộ đạo. Phê phán là nét đặc trưng của tư duy ông.
Thế kỷ XVII là thế kỷ của phê phán, critique, gồm những người như ông, Bacon, Galilei, phê phán cái di sản của quá khứ mặc cho những đong góp tích cực của nó, để mở đường cho một thời đại mới của khoa học. Hơn một thế kỷ sau, Immanuel Kant là người tiếp tục con đường này quy mô hơn, muốn xét lại tất cả những giá trị hiện hữu bằng một cuộc tổng kiểm tra của lý tính, Vernunft. “Thời đại của chúng ta là thời đại đích thực của sự phê phán mà mọi thứ đều phải phục tùng”, ông viết trong Phê phán lý tính thuần túy. (Xem Hội thảo kỷ niệm Immanuel Kant 300 năm/)
Một học giả Pháp đã viết:
Chúng ta càng thấy rõ hơn rằng ông đã khởi xướng một phương pháp triết học mới. Hegel gọi ông là anh hùng, và sự cường điệu này ở một khía cạnh nào đó có thể được biện minh. Quả thực, Descartes không có thiên hướng tử vì đạo. Nhưng tự nhiên đã ban cho ông lòng dũng cảm cao cả, đó là tình yêu chân lý và sự tận tâm với khoa học; và nếu danh hiệu anh hùng dành cho những người có nỗ lực mở ra những con đường mới cho tư tưởng nhân loại, thì Descartes chắc chắn xứng đáng với danh hiệu đó.
— Lucien Lévy-Bruhl
Sự đặc biệt của Descartes, cũng như của rất nhiều nhà khoa học tài năng khác, sẽ được nổi bật hơn, nếu được đặt trong khuôn khổ thế kỷ. Tất nhiên đã có những kỷ nguyên khác rất đặc biệt, như thế kỷ XIII của Trung cổ chẳng hạn, nhưng thế kỷ XVII có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không kỷ nguyên nào thay đổi quan điểm của nhân loại về vũ trụ một cách mạnh mẽ, triệt để như vậy. Thiên tài, Genius, cũng xuất hiện trên khắp các lãnh vực, văn học, triết học, khoa học, nghệ thuật. Sự thay đổi này xảy ra giữa lúc châu Âu đang bị chia rẽ, giúp giải phóng nguồn năng lượng sáng tạo có dịp tuôn trào.
Mời anh chị đón xem thêm chi tiết trong bài “René Descartes một thoáng” sắp tới.
Nguyễn Xuân Xanh
Xin xem thêm hai bài gần nhất:
Steve Jobs, Thiền, Trực giác và Cuộc cách mạng máy tính (có bổ sung)
Khoa học – Biên giới vô tận (Vannevar Bush)