Phan Châu Trinh về Bất như học/Chi bằng học

by , under Uncategorized

PHAN CHÂU TRINH

 

“Bất như học”

Phan Châu Trinh

(nguyên bản chữ Hán, trong bài “Hiện trạng vấn đề”, đăng trên tờ Đại Việt Tân Báo chữ Hán ngày 22/12/1907 số 135)

“Những sự giải thoát của chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ.”

— Nguyễn Văn Vĩnh,

(diễn giải “Bất như học” của Phan Châu Trinh trong bản tiếng Pháp “Réflexions sur le temps présent” [Nghĩ về thời hiện tại/ Hiện trạng vấn đề] ngày 29/12/1907 trên tờ Pionnier Indo-Chinois/Người Tiên phong Đông Dương)

“Chi bằng học”

— Huỳnh Thúc Kháng

(diễn giải thành chữ Quốc ngữ trong bài viết “Bài ‘Hiện trạng vấn-đề’ năm 1907”, đăng trên mục: “Một bài luận thời cuộc rất xuất sắc trên báo giới ta trước 25 năm nay” của báo Tiếng Dân số 613, ngày 9/8/1933 tại Huế.)

 

Tạp chí Xưa và Nay, cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, trong số kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Châu Trinh năm nay có đăng tải những bài rất giá trị. Bài nghiên cứu sau đây của tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến là công phu, tỉ mỉ, rất đáng đọc để hiểu thêm tầm quan trọng của cái học đối với xây dựng đất nước mà Phan Châu Trinh và những nhà ái quốc Việt Nam đã quan niệm đầu thế kỷ XX:

QUAN NIỆM “CHI BẰNG HỌC”
DẤU ẤN VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG

QUAN NIEM CHI BANG HOC…- NGUYEN QUANG TRUNG TIEN

(Cảm ơn Tạp chí đã cho phép đăng lại.)

BIA 1_TCXN_SO 586_Tháng 4-2026_PHAN CHÂU TRINH_21-4-2026AM

Cái học, nhất là học sâu, học rộng, học thực, và biến những điều học được thành thực tiễn kinh tế-xã hội, vẫn còn là món nợ rất lớn đối với chúng ta. Sức ỳ của Việt Nam vẫn còn rất lớn, cần có những định chế mạnh mẽ để phá vỡ, như Park Chung Hee từng phá vỡ sự thống trị tinh thần của giới quan lại-học giả yanbang để trở về thực học. Đối với các quốc gia muốn tiến lên thoát khỏi lạc hậu, bắt kịp các quốc gia đã phát triển, sự học là mệnh lệnh quốc gia, Ấn độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore … Ấn độ rất nổi tiếng với giải Nobel vật lý đầu tiên năm 1930 cho nhà vật lý Chandrasekhara Venkata Raman (1888-1970) trong khi quốc gia vẫn còn nằm dưới ách thống trị của Anh quốc cho đến tháng 8 năm 1947. Bứt phá kế tiếp là giải Nobel vật lý dành cho Hideki Yukawa (1907-1981), Nhật Bản, năm 1949, mở màn cho một thời kỳ thăng hoa học thuật của Nhật Bản kéo dài cho đến hôm nay. Việt Nam có Ngô Bảo Châu với Giải Fields Toán học năm 2010, tượng trưng cho tinh thần bứt phá, trên nền tảng kinh tế-học thuật còn thấp của Việt Nam. GS Ngô Bảo Châu đã thăng hoa trên nền tảng văn hóa của các quốc gia phát triển lâu đời, không như Raman hay Yukawa những người thăng hoa tại chỗ.

Mặt bằng sự học ở Việt Nam, sức đọc sách, sự hiểu biết thế giới, nhất là thực học, vẫn còn phải được cãi thiện rất nhiều. Một tâm lý từ xã hội đã xen vào, là dường như có cái gì đó làm cho con người đã đánh mất lý tưởng trọng sự học truyền thống, phần nào lại sợ học nhiều. Nhìn chung, sự học chưa đủ mạnh để “giải thoát” chúng ta khỏi sự lạc hậu, để mượn từ của nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh.

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đang bước vào thời kỳ tạm gọi Đổi Mới Lần Hai, đòi hỏi tinh thần học hỏi mạnh mẽ, thực dụng hơn, nhưng cũng nền tảng căn bản hơn, như một thách thức toàn diện chưa từng có trong lịch sử. 

Một câu chuyện ở nước Mỹ. Sau Thế chiến II, tướng năm sao Dwight Eisenhower được bầu làm chủ tịch của Đại học Columbia (ĐH này đã đào tạo ra ba vị Tổng thống cho nước Mỹ, trong đó có Barack Obama). Vào lúc đó, đại học có một nhà vật lý hạt nổi tiếng, Isidor Rabi (1898-1988); ông cũng từng tham gia vào đề án chế tạo bom nguyên tử Manhattan; và có công trình khoa học được giải Nobel năm 1944 (Nuclear magnetic resonance). Trong một buổi lễ vinh danh cho Rabi, Eisenhower có đánh giá ban giảng huấn (faculty) là những người làm thuê (employees) của Đại học. Rabi tức thì ngăn lại: “Xin lỗi Ngài. Ban giảng huấn không phải là người làm thuê của đại học. Ban giảng huấn là Đại học!” Câu nói này trở nên nổi tiếng. Eisenhower, có lẽ tức, nhưng không giận, tỏ ra mình là nhà lãnh đạo. Và Rabi sau đó đã trở thành người bạn thân nhất của ông trong ban giảng huấn. Sau này khi làm Tổng thống, Eisenhower đã bổ nhiệm Rabi vào một số chức vụ quan trọng. Đó cũng là biểu hiện của Tự do hàn lâm ở phương Tây, và tính tự chủ của những nhà khoa học. Người phản biện đầu tiên ở phương Tây là Anaximander, người dám nói thầy mình, Thales, sai. Tiếp theo là hàng loạt sự “nổi dậy”. Thế kỷ XVII là minh chứng của sự “nỗi dậy” của các nhà khoa học, Descartes, Galilei, Newton, chống lại chủ nghĩa Aristotle quá đà và bị lạm dụng bởi quyền lực. Lý tính con người không cam chịu chấp nhận những gì phản lại nó. Từ đó trở đi, phản biện là thuộc tính không thể thiếu của các nhà khoa học. Einstein là biểu tượng của thế kỷ XX. 

Bởi vì khoa học cũng đem ra ánh sáng những giá trị đạo đức, nó dạy chúng ta trước nhất tính chân thật và sự tôn kính.

Một nền khoa học không có năng lực hay ý tướng tác động vượt khỏi khuôn khổ của dân tộc, thì không xứng đáng với cái tên của nó.

Tính không-mâu-thuẩn khoa học của vật lý hàm chứa trực tiếp yêu cầu có tính cách đạo đức của tính-đúng-thật, điều cũng có giá trị đối với tất cả các dân tộc văn hóa và cho mọi thời đại, và vì thế nó được quyển đòi hỏi vị trí hàng đầu và cao cả nhất của đức hạnh.

— Max Planck

Khoa học, cũng như nhà khoa học có tự hào riêng của mình. Như nhà khoa học và sử học giàu tính nhân văn Mỹ Jacob Bronowski viết “Tri thức là định mệnh của chúng ta”. Tò mò, hay dùng từ của Augustine, “sự không yên” của trái tim, luôn luôn muốn đi xa hơn, khám phá và chấp nhận thách thức, đó là “nét cơ bản của con người”. “Xã hội nào ngăn chặn, kềm hãm nó, sẽ suy thoái hay tiêu vong” (Edmund Phelps). Con người từng được tôn giáo nâng lên là “đồng tác giả” với Thượng đế để thực hiện “những tiềm năng mà Đấng sáng tạo đã dấu bên trong”. 

Khoa học không phải là cái máy có thể nhập về rồi sử dụng để cho ra sản phẩm nhanh như ta mong muốn. Khoa học là “một cơ thể sinh học” (organism), và, như những cơ thể khác, để phát triển tốt, nó cần một mảnh đất và thời tiết đặc biệt, một không khí đặc biệt” như người bác sĩ Đức Erwin von Bälz (1849- 1913) phát biểu năm 1900, người đã dạy y khoa 25 năm tại trường Đại học Tokyo từ 1876. Có thể ví nó như “cây khoa học”. Muốn cho cây phát triển và cho ra quả tốt, cần có một miếng đất tốt cho nó, một thể chế tốt, định chế tốt, sự trung thực với sự thật, và luôn luôn được chăm sóc, vun bồi. Bälz không muốn làm người ‘bán trái cây’ để bán quả cho các samurai, mà làm một “người làm vườn” chăm sóc miếng đất để người phương Tây có thể nhận ra được giống mãnh đất của họ. Chừng đó, ông tin quả mới ngon. Muốn chinh phục được khoa học, trước nhất cần phải giống nó, về tư duy theo lý tính, tinh thần khoa học, và đạo đức, bao gồm tính trung thực. Không có tính trung thực như điều kiện tiên quyết, không thể có khoa học.

Khoa học không phải hoàn toàn ‘trung tính’ để có thể dăm xuống những miếng đất lạ mà thành công ngay. Nó là một organism nên đòi hỏi một môi trường ‘sinh học’ phù hợp để phát triển. Nếu không, khoa học sẽ chết. Ở đâu khoa học chưa phát triển tốt, ở đó có vấn đề của môi trường cần xem xét lại. Hơn 100 năm qua, từ khẩu hiệu “Bất như học/Chi bằng học” năm 1907, sự học của người Việt Nam vẫn chưa đáp ứng cho một sự phát triển bứt phá, và điều đó diễn ra trên cái nền thế giới xa cũng như gần đang phát triển ngày càng vũ bão.

Một câu chuyện về Trung Quốc. Nếu ta so sánh trình độ phát triển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở những năm 1986 và 1979 là những cột mốc đổi mới của họ, thì GDP đầu người của hai quốc gia không chênh lệch nhau đáng kể. Tuy nhiên, nền tảng và tiềm lực để phát triển của họ là rất khác biệt. Cuộc công nghiệp hoá của Trung Hoa thực ra đã bắt đầu sớm hơn Nhật Bản. Từ 1861, trước Minh Trị (1868), đến 1893, đêm trước chiến tranh Nhật-Nga, Trung Hoa đã xây dựng một loạt 24 công xưởng chế tạo vũ khí và tàu chiến tập trung phía đông bắc. Hai cái lớn nhất là Giang Nam (Thượng Hải) và Phúc Châu. 1870 Giang Nam được xem là công xưởng lớn nhất Đông Á về chế tạo vũ khí, có ngân quỹ cao gấp ba lần ngân quỹ của công xưởng tàu lớn nhất Yokosuka của Nhật. Trong những năm cuối của Thế chiến I, những thợ có kỹ năng cao tại Phúc Châu đã có thể chế tạo chiếc phi cơ đầu tiên của Trung Hoa. Các kỹ sư thiết kế chính (như Ba Yu Cao hay Tsoo Wong) là những người đã tốt nghiệp từ MIT.

Những công xưởng này của nhà Thanh tổ chức dịch thuật sách khoa học, công nghệ nước ngoài tập trung và quy mô hơn và là những địa chỉ giáo dục tốt trong công nghệ và khoa học. Họ đào tạo nhân sự kỹ sư, kỹ thuật viên và kiến trúc sư cho các nhu cầu công nghiệp công cũng như tư ngày càng tăng vào đầu thế kỷ 20. John Fryer (1839-1928), nhà truyền giáo Tin lành người Anh tại Trung Hoa, và cũng là người cùng với một đồng nghiệp khác đưa toán vi tích phân khoảng giữa thế kỷ 19, có công rất nhiều trong việc dịch thuật các tác phẩm khoa học, được nhà Thanh tuyên dương công trạng hai lần, đã viết rằng “Công việc cung cấp tri thức hữu dụng của khoa học cho Trung Hoa vẫn còn cần để đánh đổ cả hệ thống học chỉ biết có Tứ thư và Ngũ kinh tại các trường thi.” 

Nhưng sự thức tỉnh lớn nhất bắt đầu tác động từ cuộc thất trận trong cuộc chiến tranh Nhật-Thanh 1895. Trí thức Trung Quốc mới nhận ra toàn diện sức mạnh của khoa học, công nghệ và thể chế phương Tây mà Nhật Bản đã áp dụng để tạo sức mạnh bứt phá. Khoa học hiện đại và cả giáo dục được truyền bá trực tiếp từ Nhật Bản. Các nhà khoa học của họ bắt đầu nghiên cứu khoa học, chứ không chỉ học để biết. Các nhà vật lý hiện đại của Trung Hoa đều học từ Nhật Bản, và họ đã đưa thuyết tương đối vào đất nước họ từ năm 1917. 

Sự chuyển mình về nhận thức trong giới trí thức Trung Quốc đạt tới cao điểm trong Phong trào Ngũ Tứ năm 1919. Thời kỳ này rất sôi nổi đối với trí thức Trung Hoa, được gọi là “Thời kỳ Văn hóa Mới”, và sẽ có ảnh hưởng lâu dài lên lịch sử hiện đại của Trung Hoa. Phong trào này kéo dài từ 1917- 1921. Đó là phong trào khai sáng quan trọng nhất của Trung Hoa có những nét giống như cuộc cải cách của Nhật Bản Minh Trị xét về mặt nhận thức. Nó có tính chất ‘radical’, ‘tả’ hơn, bởi tình hình của Trung Hoa đã quá tồi tệ, đó là điều dễ hiểu. Trí thức Trung Hoa gần như cuồng nhiệt tin tưởng khoa học dân chủ sẽ đổi đời đất nước. Đại học Bắc Kinh, được thành lập cuối thế kỷ XIX, trở thành trung tâm của những tư tưởng đổi mới. Các học giả nổi tiếng phương Tây như John Dewey và Bertrand Russell đã đến thăm Trung Quốc vào thời điểm trọng đại Ngũ Tứ. Einstein cũng được hiệu trưởng Thái Nguyên Bồi ghé diễn thuyết trên đường thăm Nhật Bản năm 1922. Nếu Nghiêm Phục (Yan Fu) đã dịch tác phẩm Phồn vinh của các quốc gia của Adam Smith năm 1901, thì tác phẩm Thuyết tương đối hẹp và rộng của Einstein được dịch vào năm 1922, chỉ một năm sau Nhật Bản (Việt Nam phải đợi tới 2018)

Nhận thức về vai trò khoa học không chỉ giới hạn vào giới trí thức nồng cốt. Thực tế, đất nước đã bắt đầu phổ biến khoa học đại chúng, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, mạnh mẽ dưới thời Quốc dân đảng (KMT) 1928-1949. Nhà trung quốc học Joseph Needham có ấn tượng rất mạnh về những hoạt động đó, đặc biệt các hoạt động của Viện Giáo dục Khoa học Cam Túc (Guansu Science Education Institute).

Một ấn phẩm về khoa học phổ thông được trưng bày bên ngoài Viện Giáo dục Khoa học Cam Túc. Ảnh do Viện Nghiên cứu Needham cung cấp.

Tuy giới trí thức, khoa học Trung Quốc có thể bị kiệt quệ về đời sống, xúc phạm về nhân phẩm trong giai đoạn Cách mạng văn hóa, nhưng niềm tin của Ngũ Tứ vào sức mạnh cứu rỗi đất nước bằng khoa học, dân chủ vẫn tiếp tục sống tiếp trong tim họ, để rồi phục hồi vào năm 1979. Năm này, cũng là năm kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Einstein, họ đã tổ chức một lễ kỷ niệm lớn, để gửi đi thông điệp đến thế giới rằng, tinh thần khoa học đã trở lại ở Trung Quốc. Chính niềm tin đổi đời bằng khoa học được khắc sâu vào trái tim khối óc con người là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ sự đổi mới đất nước, như nhà kinh tế học giải Nobel Joel Mokyr nhận định. 

Trong khi đó, phong trào đổi mới cùng thời ở Việt Nam chưa đủ mạnh về lực cũng như nhận thức. Phong trào Tự lực văn đoàn là một đổi mới đáng trân trọng, có thể xem như tương ứng với phong trào Văn hóa mới của Trung Quốc, nhưng chỉ dừng tại đó. Ngọn gió mạnh cuộc canh tân vĩ đại của Nhật Bản, thổi qua Trung Hoa, được truyền đạt qua những nhà cải cách lớn Trung Quốc như Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu trong phong trào Ngũ Tứ, thổi đến Việt Nam qua dạng Tân thư, làm lay động mạnh mẽ các sĩ phu Việt Nam, được cụ Phan ghi lại như sau: “Một hôm, bỗng nhiên chợt tỉnh cơn mê, như vén mây mù trông thấy trời xanh, như vừa ra khỏi buồng tối nhìn thấy mặt trời hay mặt trăng. Niềm vui đó nói sao cho hết.” Nhưng không may, như cố học giả Vĩnh Sính viết: “Tuy nhiên, trên thực tế ‘người thông hiểu thì ít mà kẻ ngoan cố lại nhiều’ và độc hại do sự sai lầm của các nhà bát cổ (nho sĩ) cố gây ra vẫn còn đầy rẫy.” Nửa thế kỷ trước, thời Nguyễn Trường Tộ, đã có tân văn, gồm hai quyển sách quan trọng Danh hoàn chí lược của Từ Kế Dư (1842, khái lược về địa lý) và Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên (1842), cả hai viết về tình hình thế giới, có ảnh hưởng lên những sĩ phu thức thời. Nhưng những nổ lực đó cũng dừng chân. 

Cũng như thế, nếu muốn so sánh Việt Nam với Hàn Quốc những năm 1960, chúng ta cần biết các nền tảng lịch sử, văn hóa mà trên đó hai quốc gia phát triển. Họ có những cái giống nhau nhưng cũng có những cái rất khác biệt. Lịch sử thường là người thầy giúp chúng ta hiểu rõ bức tranh không khô cứng mà “bằng xương bằng thịt” sinh động, như Joel Mokyr nói. Càng nghiên cứu sâu, sự khác biệt giữa các quốc gia/dân tộc càng lộ rõ ra. Yêu nước là cần nhìn vào sự thật, đúng như nó hiện ra dưới ánh sáng của nghiên cứu. Chuẩn đúng bệnh mới chữa được bệnh. 

Isaac Newton. Năm 2027 kỷ niệm ngày mất thứ 300 của nhà khoa học vĩ đại Isaac Newton (1727-2027). Thế giới hay tổ chức kỷ niệm lớn vào những dịp sinh nhật hay ngày mất như thế. Đó sẽ là “phép thử” hay “thước đo” cho văn hóa khoa học của Việt Nam. Newton đã được thế giới ngưỡng mộ và biết ơn hơn 300 năm qua như “ông tổ” của khoa học hiện đại, và toán vi tích phân, nhà khai sáng. Việt Nam sẽ làm gì để bày tỏ nhận thức và sự ngưỡng mộ của mình đối với ông và khoa học tại thời điểm khoa học đã được nhìn nhận như quốc sách để phát triển kinh tế. Newton xuất thân từ gia đình nông dân, không phải tri thức hay quý tộc. Bố ông, Isaac Newton Senior, là một nhà nông có đất đai, nhưng không được học hành, ông thậm chí không biết ký tên mình thế nào. Nhưng Newton được đối xử như một vĩ nhân, và khi mất, ông được chôn cất trong tu viện Westminster, Luân đôn, nơi cho đến lúc đó chỉ dành cho giới hoàng gia. Giai cấp cầm quyền biết rằng, họ có nhiệm vụ quản lý đất nước cho tốt, nhưng tạo ra các thiên tài là công việc của Chúa. Đầu thế kỷ XVIII, đã có người (Dr. Johnson) nói: “Một người, nếu sống ở Hy Lạp cổ đại, hẳn sẽ được tôn thờ như một vị thần linh”, ám chỉ Newton. Nhà kinh tế học John Maynard Keynes nhận định:

Newton không phải là người thứ nhất của thời đại lý tính. Ông là người cuối cùng của những thuật sĩ (magician), người cuối cùng của những người Babylon và Sumer, bộ óc vĩ đại cuối cùng nhìn vào thế giới hữu hình và trí tuệ với cùng con mắt như những người đã bắt đầu xây dựng di sản trí tuệ chúng ta sau 10.000 năm trước. Isaac Newton, một đứa trẻ được sinh ra mồ côi vào ngày lễ Giáng sinh năm 1642, là đứa trẻ kỳ diệu cuối cùng mà các đạo sĩ có thể bày tỏ lòng tôn kính chân thành và thích đáng. […] Ông coi vũ trụ như một mật mã do Đấng Toàn Năng đặt ra – giống như chính ông đã dùng mật mã để giải thích việc phát hiện ra phép tính vi phân và tích phân khi trao đổi với Leibniz. Ông tin rằng, bằng tư duy thuần túy, bằng sự tập trung tâm trí, bí ẩn sẽ được hé lộ cho người khai tâm.

Khoa học Newton đúng là một mặc khải (revelation). Tại lễ mừng sinh nhật 300 năm của Newton, diễn ra năm 1946, thay vì 1942 bị trễ do chiến tranh, một học giả tại buổi lễ trong phần khai mạc đã phát biểu:

Ngày nay, khoa học tự nhiên là môn học phổ quát duy nhất; ngôn ngữ khoa học được những người am hiểu ở mọi nơi trên thế giới hiểu rõ, và các nhà lãnh đạo vĩ đại của khoa học được những người có tư duy sâu sắc tôn kính ở bất cứ nơi nào việc theo đuổi tri thức được coi là đáng mong muốn. Trong suốt cuộc đời mình, những thành tựu của Newton đã được ca ngợi khắp châu Âu văn minh; hôm nay, chúng ta thấy có mặt trong căn phòng này những học giả đến từ năm châu lục, cùng nhau tụ họp để tôn vinh tên tuổi ông.

Sở dĩ tác giả nói “châu Âu văn minh” là vì còn phần châu Âu gây tội ác chiến tranh. Ban tổ chức chỉ chấp nhận vị khách duy nhất từ Đức, đó là Max Planck.

Bức chân dung của Sir Isaac Newton do Sir Godfrey Kneller vẽ năm 1702.

Einstein, trong Ghi chú tự truyện (1949), sau khi lực hấp dẫn của Newton cuối cùng được thay thế bằng thuyết hấp dẫn Einstein thông qua khái niệm độ cong (curvature) hình học, thay cho lực hấp dẫn, đã phát biểu: “”Newton, xin hãy tha thứ cho tôi; ông đã tìm ra con đường duy nhất mà, trong thời đại của ông, một người có tư tưởng và sức sáng tạo phi thường, có thể thực hiện được.” 

Năm 2027 Việt Nam sẽ có hội thảo, chiếu phim truyền hình về cuộc đời Newton, xuất bản sách về ông? Một cơ hội tốt để nâng cao vị thế của khoa học? Tác phẩm Principia của Newton sẽ được dịch sang tiếng Việt? Sẽ có những người Việt Nam, sinh viên, nhà khoa học, doanh nhân, nhà chính trị, nghiên cứu lịch sử, đến mộ ông trong Westminster để tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ? 

Hay sẽ có người đi hành hương về trang viên Woolsthorpe, nơi sinh của Isaac Newton. Chính nơi đây, năm thần kỳ của Newton đã bùng nổ,  khi năm 1665 ông về đó để lánh nạn Đại dịch hạch bắt đầu tấn công London và lan rộng khắp cả nước. Các nghiên cứu của Newton tại Woolsthorpe trong hai năm sau đó đã chứng kiến sự phát triển các lý thuyết của ông về vi tích phân, quang học và định luật hấp dẫn. “Tất cả điều này là trong hai năm bệnh dịch 1665-1666. Vì trong những ngày đó, tôi đang ở độ tuổi phát triển và sáng suốt về Toán học & Triết học hơn bất cứ lúc nào kể từ đó.” Lúc đó Newton 24 tuổi.

Khi Newton qua đời năm 1727, Woolsthorpe được thừa kế bởi John Newton, chắt của chú ông. Ông này đã phung phí gia sản của mình “bằng cách chọi gà, đua ngựa, rượu chè và những trò dại dột” và phải bán tài sản đi và sau đó nó được bán tiếp nhiều lần. Năm 1942, trang viên này được Hội Hoàng gia mua lại với sự hỗ trợ của Quỹ Pilgrim Trust, sau đó quỹ này đã trao tặng cho Quỹ Quốc gia để bảo tồn. Quỹ đã khôi phục lại một số khu vực của ngôi nhà và mở một Trung tâm Khoa học, nơi thế hệ các nhà khoa học tương lai có thể bắt đầu thực hiện những khám phá của riêng mình.

Câu chuyện cây táo

Vườn cây ăn trái của trang viên Woolsthorpe có một cây táo. Người ta kể rằng đây chính là cây mà từ đó một quả táo rơi xuống và khiến Newton, trong Năm thần kỳ, đặt câu hỏi tại sao táo lại luôn luôn rơi thẳng xuống đất. Câu chuyện về quả táo là một truyền thuyết khoa học nhưng được người đời cho là phần lớn là đúng nếu biết rằng Newton luôn được truyền cảm hứng từ thế giới tự nhiên xung quanh, và có thể Newton đã đưa ra giả thuyết rằng mọi thứ đều bị hút bởi mọi thứ khác và chính lực hút này liên kết vũ trụ lại với nhau, sức hút quả táo làm nó rơi xuống đất cũng là sức hút giữa các hành tinh trên trời.

Steve Jobs là người được truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi câu chuyện trái táo rơi của Newton khi ông phát thảo logo đầu tiên cho Apple computer là hình cây táo, trái táo và Newton:

 

Xem thêm:

Phan Châu Trinh – Sinh nhật thứ 150 (2022)

Sức ỳ của ý thức khoa học Việt Nam (2019)

 

Nguyễn Xuân Xanh