Nuôi dưỡng, Rồi thịnh vượng (Ha-Joon Chang)

by , under Uncategorized

NUÔI DƯỠNG, RỒI THỊNH VƯỢNG

Nurture, Then Prosper

Ha-Joon Chang

Đỗ Thị Thu Trà dịch

Nguyễn Xuân Xanh xem lại và giới thiệu

 

Trong khi thế giới ẩm thực của tôi (nước Anh) mở rộng với tốc độ chóng mặt, thì một thế giới khác của tôi – kinh tế học – lại đáng buồn thay, đang bị hút vào một hố đen. Cho đến những năm 1970, kinh tế học là nơi hội tụ của nhiều ‘trường phái’ đa dạng với những tầm nhìn và phương pháp nghiên cứu khác nhau – có thể kể đến các trường phái quan trọng nhất như kinh tế học cổ điển, Marx, tân cổ điển, Keynes, trường phái kiến tạo phát triển, Áo, Schumpeter, chủ nghĩa thể chế và chủ nghĩa hành vi, để kể vài trường phái quan trọng nhất. Kể từ thập niên 1980, kinh tế học đã trở nên giống như bức tranh ẩm thực tại Anh trước những năm 1990. Chỉ còn một truyền thống duy nhất – kinh tế học tân cổ điển – hiện diện trên thực đơn. Cũng như mọi trường phái khác, nó có những thế mạnh riêng, nhưng cũng tồn tại những hạn chế nghiêm trọng.

– Ha-Joon Chang

Ha-Joon Chang (sinh tại Seoul, ngày 7/10, 1963, 63t)

 

Dẫn nhập

Ha-Joon Chang là một nhà kinh tế học lỗi lạc, giáo sư nghiên cứu và tác giả có sách bán chạy, chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế học phát triển, chính sách công nghiệp, kinh tế học thể chế và kinh tế chính trị. Từng là giáo sư kinh tế học tại Đại học Cambridge trong suốt 32 năm, hiện nay ông đang giảng dạy tại SOAS (Trường Nghiên cứu Phương Đông và Châu Phi) thuộc Đại học London.

Ông đã viết nhiều bài báo khoa học và chương sách bao quát đa dạng các chủ đề, bao gồm lý thuyết về nhà nước, kinh tế học thể chế, tư nhân hóa, chính sách công nghiệp và kinh nghiệm phát triển của Đông Á. Ông cũng đã xuất bản 17 cuốn sách do chính mình viết (5 cuốn đồng tác giả) và 11 cuốn sách do ông biên soạn (7 cuốn đồng biên soạn).

Các ấn phẩm của ông đạt được thành công vang dội cả về mặt thương mại lẫn học thuật; trong đó, cuốn Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical Perspective (“Đạp bỏ chiếc thang: Chiến lược phát triển dưới góc nhìn lịch sử”, 2002) đã giành Giải thưởng Gunnar Myrdal vào năm 2003. Cuốn sách này được Joseph Stiglitz – nhà kinh tế học đoạt giải Nobel – đánh giá rất cao nhờ những góc nhìn mới mẻ và sự kết hợp hiệu quả giữa các trường hợp thực tiễn đương đại và lịch sử. Cũng qua công trình này, Chang được trao giải Wassily Leontief Prize (2005) cho việc mở rộng biên giới tư duy kinh tế nhờ những nghiên cứu sâu sắc của ông về vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển ở các nước nghèo hơn cũng như mối quan hệ đầy vấn đề giữa toàn cầu hóa kinh tế và các mục tiêu phát triển – những nội dung được làm nổi bật đặc biệt qua Đạp bỏ chiếc thang. Những người từng đoạt giải thưởng này bao gồm Amartya Sen, John Kenneth Galbraith, Albert Hirschman và Angus Deaton. Tạp chí Prospect cũng xếp Chang ở vị trí thứ chín trong cuộc bình chọn “Những nhà tư tưởng thế giới năm 2014” của họ.

Các tác phẩm khác của ông bao gồm Economics: The User’s Guide (2014), Bad Samaritans (2009) và 23 Things They Don’t Tell You About Capitalism (2012) – cuốn sách từng đứng đầu danh sách bán chạy quốc tế. Cuốn sách mới nhất của ông, Edible Economics – A Hungry Economist Explains the World (2022), sử dụng những câu chuyện lịch sử đa dạng đằng sau các món ăn quen thuộc để lý giải các lý thuyết kinh tế. Các tác phẩm của Ha-Joon Chang đã được dịch và xuất bản tại 46 quốc gia với 45 ngôn ngữ khác nhau, đạt tổng doanh số hơn 2 triệu bản trên toàn thế giới. Một số sách của ông đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam.

Với tư cách là một nhà kinh tế học hàng đầu, Ha-Joon Chang từng tư vấn cho nhiều tổ chức quốc tế, chính phủ các nước, các tổ chức xã hội dân sự cũng như các doanh nghiệp thuộc cả khu vực công và tư nhân. Một số tổ chức tiêu biểu mà ông từng hợp tác tư vấn bao gồm các cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (EIB) và tổ chức Oxfam.

Hiện tại, ông là thành viên của Ủy ban Chính sách Phát triển (CDP) – cơ quan tư vấn cấp cao nhất của Liên Hợp Quốc về các vấn đề phát triển.

Ông cũng là người được trao Giải thưởng Wassily Leontief năm 2005, giải thưởng ghi nhận những đóng góp xuất sắc cho các lý thuyết kinh tế nhằm giải quyết thực trạng đương đại và thúc đẩy xây dựng các xã hội công bằng, bền vững.

Ha-Joon Chang tốt nghiệp ngành Kinh tế học tại Đại học Quốc gia Seoul trước khi lấy bằng Thạc sĩ Triết học (MPhil) và Tiến sĩ tại Đại học Cambridge. Hiện ông đang sống tại London cùng vợ.

Tôi có ấn tượng mạnh, cũng như nhiều cảm tình vời nhà kinh tế Hàn Quốc Ha-Joon Chang, và tin tưởng rằng, ông ấy rất xứng đáng với một giải Nobel về kinh tế, cũng như tôi đã từng nghĩ về nhà kinh tế Joel Mokyr được trao giải Nobel năm 2025. Chang đã giải thích một cách ngoạn mục những đề tài kinh tế. Những tác phẩm được kể trên là bộ sách gối đầu giường để tra cứu cho những ai muốn hiểu lịch sử kinh tế. Chang đi học kinh tế vì lời nói của cha ông: Muốn hiểu được sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc của những thập niên 1960, 70, hãy đi học kinh tế. Đọc những quyển sách của Ha-Joon Chang, người đọc sẽ có bức tanh lớn về kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam.

Bài phỏng vấn Ha-Joon Chang dưới đây được đăng trên International Monetary Fund, F&D magazine, tháng 9, 2026. Người phỏng vấn: Bruce Edwards là thành viên ban biên tập tạp chí Finance & Development. Chúng tôi rất cảm ơn.

Nguyễn Xuân Xanh

✺✺✺

 

Nuôi dưỡng, Rồi thịnh vượng

Nurture, Then Prosper

Lời mở đầu của người phỏng vấn

Sống qua giai đoạn “phép màu kinh tế” của Hàn Quốc đã giúp Ha-Joon Chang rút ra một số bài học về bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ. Khi nhà kinh tế học Ha-Joon Chang chào đời năm 1963, Hàn Quốc đang ở trong tình trạng bất ổn. “Tuổi thọ trung bình khi đó là 53,” tác giả của những cuốn sách bán chạy nói với Bruce Edwards của Finance & Development trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Xét về mặt thống kê, lẽ ra tôi đã chết từ 10 năm trước.” Khi ấy, đất nước này rất nghèo, sống dựa vào xuất khẩu gạo, cá và rau quả.

Tuy nhiên, đầu những năm 1960 cũng đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc phát triển kinh tế Hàn Quốc, với những kế hoạch 5 năm tập trung vào chính sách công nghiệp và quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng. Chiến lược này đã đẩy tốc độ tăng trưởng lên mức hai chữ số và cuối cùng cải thiện đời sống của người dân. Nhưng đất nước vẫn nằm dưới một chế độ độc tài quân sự, và cùng với tăng trưởng kinh tế là đàn áp chính trị.

Lớn lên trong thời kỳ ấy, Chang chứng kiến tất cả những điều đó diễn ra trước mắt mình. “Tôi muốn hiểu cho ra lẽ. Làm thế nào mà tất cả những điều tốt đẹp và những điều tồi tệ ấy lại có thể xảy ra cùng một lúc? Vì thế, tôi quyết định học kinh tế để hiểu điều đó.”

Sau đó, Chang lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Cambridge, nơi ông giảng dạy hơn 30 năm trước khi chuyển sang SOAS University of London vào năm 2022. Ông là tác giả của 17 cuốn sách, được dịch sang 46 ngôn ngữ và đã bán hơn 3 triệu bản trên toàn thế giới. Tác phẩm mới nhất của ông là Edible Economics: A Hungry Economist Explains the World.

F&D: Trực tiếp chứng kiến sự chuyển mình ngoạn mục của Hàn Quốc là một trải nghiệm như thế nào?

HJC: Giống như được cưỡi trên một cỗ máy thời gian. Khi tôi viết cuốn sách dành cho công chúng rộng rãi đầu tiên của mình, Bad Samaritans, vào năm 2006, tôi đã thực hiện một phép tính sơ bộ. Sự biến đổi về vật chất mà tôi chứng kiến trong 43 năm đầu đời của tôi tương đương với những gì đã diễn ra ở nước Mỹ trong khoảng 150 năm, từ thời Abraham Lincoln đến đầu thế kỷ XXI. Đó là những biến đổi kinh tế khổng lồ. Một đất nước trước kia chỉ trồng lúa và rau quả, đột nhiên đã sản xuất ô tô, tàu biển và thép. Nhưng đồng thời, sự đàn áp cũng diễn ra khắp nơi.

Cha tôi vốn được đào tạo để trở thành luật sư, nhưng sau đó học kinh tế trong thời gian làm việc tại Bộ Tài chính, đã nói với tôi: “Nếu con muốn hiểu những điều này, con cần học kinh tế.” Ban đầu tôi thất vọng, bởi những gì chúng tôi được dạy ở trường đại học chủ yếu là lý thuyết cân bằng tổng thể tân cổ điển. Tôi không thể coi nó là nghiêm túc, bởi các giáo sư nói về trạng thái cân bằng trong khi bên ngoài xã hội lại đang diễn ra tất cả những biến động dữ dội ấy. Vì vậy, nhiều sinh viên chúng tôi bắt đầu nghiên cứu thứ có thể gọi là “kinh tế học thay thế” (alternative economics), được truyền cảm hứng bởi Marx, Hirschman, Kuznets và những nhà kinh tế học phát triển thời kỳ đầu khác.

F&D: Chủ nghĩa tư bản có vận hành tốt hơn nếu có nhiều người hơn hiểu biết về những nguyên lý kinh tế cơ bản hay không?

HJC: Có. Điều thiết yếu là những công dân bình thường phải biết ít nhất một phần kiến thức kinh tế, bởi trong một xã hội tư bản — đặc biệt là biến thể tân tự do, định hướng thị trường ngày nay — mọi thứ đều được cho là phải biện minh cho sự tồn tại của mình được đo lường bằng những đóng góp về kinh tế. Và ngày nay, hầu như mọi chính sách công đều do các nhà kinh tế xây dựng, hoặc ít nhất cũng được các nhà kinh tế sàng lọc và đánh giá. Trong một kiểu xã hội như vậy, nếu bạn không biết ít nhất một chút kinh tế học, thì lá phiếu của bạn chẳng có ý nghĩa gì. Mọi người đều phải biết ít nhất một phần kiến thức kinh tế để duy trì một nền dân chủ lành mạnh.

Ha-Joon Chang trong một bài giời thiệu tác phẩm Edible Economics (“Kinh tế ăn được”), báo The Guardian. Photograph: Stuart Simpson/Penguin Random House.

F&D: Phần lớn các tác phẩm đầu tiên của ông nói về lợi ích của thuế quan, đặc biệt đối với các nền kinh tế đang phát triển. Ông vẫn tin như vậy chứ?

HJC: Đó là chủ đề xuyên suốt trong công trình của tôi và cho đến nay vẫn vậy. Thuế quan, cũng như mọi công cụ chính sách khác, đều có thể bị sử dụng sai mục đích. Vì vậy, việc một số quốc gia đã làm sai khi áp dụng biện pháp bảo hộ quá mức không có nghĩa là bản thân biện pháp bảo hộ nhất thiết là điều xấu. Sau khi nghiên cứu lịch sử kinh tế của các nước giàu và thành tích gần đây của các quốc gia đang phát triển, tôi đi đến kết luận rằng các nước đang phát triển cần trải qua một giai đoạn bảo hộ trong thời kỳ đầu để giúp phát triển nền kinh tế. Thực ra đây là một ý tưởng của nước Mỹ (thật ra cũng của Adam Smith, ND). Người đưa ra nó là Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ, và hiện nay là nhân vật nổi tiếng trong một vở nhạc kịch hip-hop.

Trong một báo cáo trình Quốc hội năm 1791 về lĩnh vực sản xuất (Report on Manufactures), Hamilton cho rằng chính phủ các nước lạc hậu về kinh tế, chẳng hạn Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XVIII, cần bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ trước sự cạnh tranh của những ngành công nghiệp trưởng thành hơn từ nước ngoài — cũng giống như chúng ta bảo vệ và nuôi dưỡng con cái cho đến khi chúng lớn lên và có thể cạnh tranh trên thị trường lao động. Và công cụ quan trọng nhất mà ông đưa ra chính là thuế quan (tariffs).

Nhưng Hamilton còn đi xa hơn nhiều so với vấn đề thuế quan. Ông là một nhà tư tưởng có tầm nhìn. Ông đề cập đến trợ cấp của chính phủ, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống ngân hàng và thị trường trái phiếu chính phủ — thậm chí cả hệ thống bằng sáng chế.Tôi gọi bản báo cáo đó là kế hoạch phát triển kinh tế đầu tiên trong lịch sử. Nếu đi theo logic của việc bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ, thì trước hết chúng ta cần có một giai đoạn bảo vệ và nuôi dưỡng. Điều này đã diễn ra ở tất cả các nền kinh tế thành công trong suốt lịch sử.

Trong gần một trăm năm, Hoa Kỳ là nền kinh tế được bảo hộ nhiều nhất thế giới. Quê hương tôi là Hàn Quốc, cùng với một số nền kinh tế Đông Á khác, đã sử dụng bảo hộ thuế quan mạnh mẽ để tạo ra khoảng thời gian “thở” ban đầu cho các ngành công nghiệp mới đầu tư và nâng cao năng suất. Biện pháp này phát huy hiệu quả tốt nhất ở những quốc gia mà các đối tượng nhận được hỗ trợ của nhà nước được quản lý và thực hiện kỷ luật chặt chẽ.

Trong phần lớn lịch sử của chủ nghĩa tư bản, chính sách công nghiệp là một công cụ bình thường của chính phủ. Chỉ trong khoảng 40 năm trở lại đây, nó mới trở thành điều cấm kỵ.

F&D: Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến chính sách công nghiệp được sử dụng nhiều hơn, nói chung ở các nền kinh tế phát triển, nhưng đặc biệt là ở Mỹ. Ông nghĩ gì về điều này?

HJC: Trong phần lớn lịch sử của chủ nghĩa tư bản, chính sách công nghiệp là một công cụ bình thường của chính phủ. Chỉ trong khoảng 40 năm gần đây, hay khoảng đó, từ năm 1980 đến 2020, chính sách công nghiệp mới trở thành điều cấm kỵ. Thực tế, năm 2019, hai nhà kinh tế của IMF đã công bố một nghiên cứu nổi tiếng có tên “The Return of the Policy That Shall Not Be Named” — Sự trở lại của chính sách không được phép gọi tên. Nhưng giờ đây, chính sách công nghiệp đã trở lại thành mốt thời thượng.

Chính sách công nghiệp không hoàn toàn biến mất trong thời kỳ tân tự do. Người bạn của tôi, Mariana Mazzucato thuộc University College London, đã chỉ ra rằng gần như mọi công nghệ được sử dụng trong iPhone đều bắt nguồn từ các nghiên cứu do chính phủ Mỹ tài trợ. Chất bán dẫn ban đầu được Hải quân Mỹ tài trợ. Máy tính và internet được Lầu Năm Góc phát triển — và còn nhiều ví dụ khác nữa. Những chính sách này vẫn tiếp tục, nhưng người ta thực hiện chúng một cách kín đáo. (Xem Nhà nước đổi mới sáng tạo)

Sự phổ biến trở lại của chính sách công nghiệp bắt nguồn từ thực tế là nhiều nước giàu, đặc biệt là Mỹ, đã trải qua quá trình giải-công nghiệp hóa (deindustrialization). Họ lo ngại rằng Trung Quốc đang nhanh chóng bắt kịp và đã nhận ra rằng họ không thể duy trì vị thế của mình nếu không tiếp tục vươn lên trong những lĩnh vực mà họ vẫn còn giữ được lợi thế. Tuy nhiên, tôi lo ngại rằng phần lớn các chính sách công nghiệp mới, đặc biệt là ở Mỹ, được thiết kế kém và sẽ không hiệu quả. Tôi gọi đó là “phiên bản lão niên (geriatric) của chính sách bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ”.

F&D: Tôi từng nghe ông nói rằng ông không phải là một nhà kinh tế học ủng hộ thương mại tự do, nhưng ông có nhìn thấy giá trị nào của thương mại và chủ nghĩa tư bản như một phương tiện cải thiện đời sống hay không?

HJC: Chắc chắn rồi! Có nhiều kiểu chủ nghĩa tư bản khác nhau. Thuế suất thuế thu nhập cao nhất ở Mỹ trong khoảng từ cuối những năm 1940 đến giữa những năm 1960 là bao nhiêu? 91%. Một người Mỹ sống ở thế kỷ XIX nếu nhìn vào nước Mỹ khi ấy có thể nghĩ rằng nó giống một xã hội cộng sản. Bạn không được phép sở hữu nô lệ. Bạn không được thuê trẻ em. Có một chế độ độc quyền tiền tệ của nhà nước gọi là Cục Dự trữ Liên bang (Federal Reserve). Có đủ loại quy định về môi trường và lao động. Điểm tôi muốn nói là có nhiều cách khác nhau để quản lý chủ nghĩa tư bản. Việc quyết định cách nào là tốt nhất phụ thuộc vào các giá trị và quan điểm chính trị của bạn.

Chủ nghĩa tư bản — nói lại theo cách Winston Churchill từng nói về nền dân chủ — là hệ thống kinh tế tồi tệ nhất, ngoại trừ tất cả những hệ thống khác.Không có một giải pháp thay thế nào thực sự đáng tin cậy. Đó là tin xấu đối với những người muốn xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. Nhưng tin tốt là có những cách để làm cho chủ nghĩa tư bản hiệu quả hơn, nhân đạo hơn và bền vững hơn.

Hãy lấy thương mại làm ví dụ. Theo quan điểm của tôi, không có phát triển kinh tế nếu không có thương mại. Nhưng thủ thuật lớn nhất của các nhà kinh tế học ủng hộ thương mại tự do là nói với mọi người rằng hình thức tốt nhất là thương mại tự do. Không phải vậy! Hình thức tốt nhất là thứ mà một số người gọi là “thương mại có quản lý” (managed trade).

Bên cạnh việc bảo hộ các ngành công nghiệp mới, các nền kinh tế đang phát triển cần xây dựng năng lực xuất khẩu. Những nước như Hàn Quốc và Đài Loan đã trợ cấp mạnh cho các ngành xuất khẩu của mình bởi họ biết rằng họ cần ngoại tệ để nhập khẩu những máy móc và công nghệ mới nhất.

F&D: Tiếp tục với chủ đề trong cuốn sách mới nhất của ông, Edible Economics, công thức của ông cho phát triển bền vững là gì?

HJC: Tính bền vững không nên chỉ được hiểu là vấn đề môi trường. Nó phải có một phương diện kinh tế. Nó cũng cần có tính bền vững về chính trị, bởi ngay cả những tốc độ tăng trưởng tốt cũng không thể duy trì được nếu chúng được xây dựng trên những thực tiễn lao động bóc lột, những công việc bấp bênh hoặc tình trạng bất bình đẳng gia tăng nhanh chóng — tất cả những điều đó đều có thể khiến nhiều người bất mãn. Và bạn cần có sự đồng thuận xã hội. Bạn không thể tạo ra sự đồng thuận ấy nếu không có hiểu biết kinh tế rộng rãi trong toàn xã hội và những người có một mức độ hiểu biết nhất định về cách nền kinh tế vận hành.

───

Lưu ý của tòa soạn: Cuộc phỏng vấn này đã được biên tập về độ dài và độ rõ ràng. Truy cập imf.org/podcasts để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn.

– Hết –

Xem thêm một quyển sách rất hữu ích cho sự hiểu biết kinh tế:

Kỷ yếu Adam Smith 300 năm (1723-2023) ra mắt (2025)