LEO TOLSTOY COI ABRAHAM LINCOLN
LÀ NGƯỜI HÙNG VĨ ĐẠI NHẤT THẾ GIỚI

Chúng tôi không thể thốt lên hết những lời đau xót hay bàng hoàng, khi mà trái tim của cả hai thế giới (châu Âu và Hoa Kỳ) đang trào dâng bao cảm xúc. Ngay cả những kẻ nịnh hót—những kẻ ngày qua ngày, năm này qua năm khác, miệt mài với công việc vô vọng tựa như thần Sisyphus là mưu toan giết chết danh dự của Abraham Lincoln và nền Cộng hòa vĩ đại mà ông lãnh đạo—giờ đây cũng phải sững sờ trước làn sóng tình cảm dâng trào của công chúng toàn cầu, và đua nhau rải những đóa hoa ngôn từ lên ngôi mộ còn đang mở của ông. Cuối cùng thì họ cũng nhận ra rằng ông là một con người không hề bị khuất phục bởi nghịch cảnh hay say sưa trước thành công; một người kiên định tiến tới mục tiêu cao cả, không bao giờ làm tổn hại mục tiêu ấy vì sự vội vã mù quáng; một người chín chắn trong từng bước đi và không bao giờ quay đầu lại; không bị cuốn đi bởi sự tung hô nhất thời của đám đông, cũng chẳng nản lòng khi sự ủng hộ của công chúng có lúc chùng xuống; một người biết dung hòa những hành động cứng rắn bằng sự ấm áp của một trái tim nhân hậu, soi sáng những khung cảnh u tối bởi những cơn giận dữ bằng nụ cười hóm hỉnh; một người thực hiện sự nghiệp vĩ đại của mình với thái độ khiêm nhường và giản dị, trái ngược hẳn với cách những kẻ cai trị “được trời ban” thường làm những việc nhỏ nhặt bằng vẻ phô trương, hào nhoáng. Tóm lại, ông là một trong số hiếm hoi những người đạt được sự vĩ đại mà vẫn giữ trọn vẹn phẩm chất thiện. Sự khiêm nhường của con người vĩ đại và nhân hậu này lớn lao đến mức thế giới chỉ thực sự nhận ra ông là một người hùng sau khi ông đã ngã xuống như một vị tử vì đạo.
— Karl Marx, trong một bức thư đề ngày 13 tháng 5 năm 1865, gửi Tổng thống Andrew Johnson, một tháng sau cuộc ám sát Lincoln

Abraham Lincoln 9 tháng 2, 1864 trong thời gian nội chiến. Tác giả ảnh không được biết. Của Congress Libriary.

Chân dung của Leo Tolstoy (1828–1910) năm 1887 (Họa sỹ Ilya Yefimovich)
Câu chuyện kể:
Một năm trước khi qua đời, Leo Tolstoy đã kể câu chuyện này cho một phóng viên của tờ New York World:
“Có lần, khi đang đi du ngoạn ở vùng Caucasus,” ông kể, “tôi tình cờ trở thành khách của một vị thủ lĩnh người Circassia. Sống giữa chốn núi rừng tách biệt khỏi đời sống văn minh, ông chỉ có những hiểu biết rất sơ sài và ngây ngô về thế giới cũng như lịch sử nhân loại. Bàn tay của nền văn minh chưa bao giờ chạm tới ông hay bộ tộc của ông, và mọi sự sống bên ngoài những thung lũng quê hương đều là một bí ẩn mịt mờ.”
Tolstoy kể cho họ nghe về công việc của mình, cũng như về các ngành công nghiệp, những phát minh và trường học ở thế giới bên ngoài. Nhưng chỉ khi chuyển sang chủ đề về các chiến binh, tướng lĩnh và chính khách, ông mới khơi dậy được sự hứng thú ở người chủ nhà cao lớn với bộ râu xám bạc ấy. “Hãy đợi một chút,” vị thủ lĩnh nói. “Tôi muốn tất cả hàng xóm và các con trai của tôi cùng nghe ông nói.”
“Chẳng bao lâu, ông quay lại,” Tolstoy kể tiếp, “cùng với khoảng hai mươi kỵ sĩ có vẻ ngoài hoang dã… và… những đứa con của núi rừng hoang dã ấy ngồi vây quanh tôi trên sàn nhà, chăm chú nhìn tôi như thể đang khao khát tri thức. Ban đầu, tôi nói về các Sa hoàng và những chiến công của họ; sau đó, tôi nói về những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại nhất. Câu chuyện của tôi dường như đã gây ấn tượng mạnh mẽ với họ. Câu chuyện về Napoleon cuốn hút họ đến mức tôi phải kể tường tận từng chi tiết: chẳng hạn như đôi tay ông trông ra sao, ông cao bao nhiêu, ai là người chế tạo súng trường và súng ngắn cho ông, hay màu lông con ngựa của ông là gì. Thật khó để làm họ thỏa mãn và đáp ứng được cách nhìn nhận của họ, nhưng tôi đã cố gắng hết sức mình.”
Khi Tolstoy dứt lời, vị thủ lĩnh giơ tay lên. “Nhưng ông vẫn chưa kể cho chúng tôi nghe dù chỉ một lời về vị tướng lĩnh vĩ đại nhất và nhà cai trị vĩ đại nhất thế giới,” ông nói với vẻ nghiêm trang. “Chúng tôi muốn biết đôi điều về ông ấy. Ông ấy là một người hùng. Giọng nói của ông vang rền như sấm; tiếng cười của ông rạng rỡ tựa bình minh, còn những việc ông làm thì vững chãi như bàn thạch và ngọt ngào như mùi hương hoa hồng. Các thiên thần đã hiện ra trước mẹ ông và báo tin rằng người con trai bà sắp sinh ra sẽ trở thành vĩ nhân lỗi lạc nhất mà các vì sao từng chứng kiến. Ông vĩ đại đến mức sẵn sàng tha thứ cho cả những kẻ thù nguy hiểm nhất, và bắt tay thân mật như huynh đệ với những kẻ từng âm mưu hãm hại mình. Tên ông là Lincoln và đất nước nơi ông sống là nước Mỹ—một nơi xa xôi đến nỗi nếu một chàng trai trẻ lên đường tới đó, thì khi đặt chân đến nơi, anh ta đã trở thành một ông lão. Hãy kể cho chúng tôi nghe về con người ấy.”
“Xin hãy kể cho chúng tôi nghe,” một người trong nhóm reo lên, “và chúng tôi sẽ tặng ông con ngựa tốt nhất trong đàn của mình.”
“Tôi nhìn họ,” Tolstoy kể lại, “và thấy gương mặt họ bừng sáng, đôi mắt rực lên như cháy bỏng… Tôi kể cho họ nghe về Lincoln và trí tuệ của ông, về cuộc sống gia đình và thời niên thiếu của ông. Cứ mỗi câu tôi trả lời được thì họ lại hỏi dồn dập đến mười câu khác. Họ muốn biết tường tận về thói quen, tầm ảnh hưởng của ông đối với người dân và cả sức mạnh thể chất của ông nữa. Nhưng họ vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng Lincoln trông rất vụng về trên lưng ngựa, và có một lối sống vô cùng giản dị.”
Sau khi kể hết những gì mình biết, Tolstoy nói rằng ông nghĩ mình có thể kiếm được một tấm ảnh của Lincoln. Ông cưỡi ngựa đến thị trấn gần nhất cùng với một trong những chàng trai trẻ. Ông tìm được một tấm ảnh và trao nó cho anh ta.
“Thật đáng nhớ,” Tolstoy nói, “khi chứng kiến vẻ nghiêm trang trên gương mặt và đôi tay run rẩy của anh ấy lúc nhận món quà của tôi. Anh ấy lặng lẽ ngắm nhìn tấm ảnh suốt vài phút, tựa như đang thành kính cầu nguyện; đôi mắt anh đẫm lệ. Anh ấy vô cùng xúc động, và tôi hỏi tại sao anh lại buồn đến thế.”
Chàng trai trẻ đáp lại bằng một câu hỏi: “Ông có thấy không,” anh ấy nói, “khi nhìn vào bức ảnh này, đôi mắt ông ấy như chứa đầy lệ và đôi môi mang nét buồn của một nỗi niềm thầm kín?”
Lời bạt
Ở Abraham Lincoln, quả thực có một nỗi đau tột cùng song hành cùng những thành tựu vĩ đại của ông. Đó là một câu chuyện dài của lịch sử về đời ông. Người đời thường chỉ biết khen ngợi ông, nhưng ít khi hiểu được những nổi đau, u sầu, trầm cảm đã theo đuổi ông suốt đời . Cả hai thái cực đã hòa quyện nhau làm nên sự vĩ đại ông, như một đồng tiền. Đau khổ hoạt động như lớp humus nuôi dưỡng những thành tựu vĩ đại. Thiếu cái thứ nhất, không dễ có một Lincoln như chúng ta thấy. Lincoln là người “không bình thường” theo nghĩa của người phàm trần, về đau khổ cũng như về sự vĩ đại của ông.
Các nhà nghiên cứu hiện đại đã xác định tình trạng mắc một hoặc nhiều chứng rối loạn tâm trạng nghiêm trọng ở John Quincy Adams, Charles Darwin, Emily Dickinson, Benjamin Disraeli, William James, William Tecumseh Sherman, Robert Schumann, Leo Tolstoy, Nữ hoàng Victoria và nhiều nhân vật khác. Người ta có thể gọi những tên tuổi lỗi lạc này là người “mắc bệnh tâm thần” (“mentally ill”) – một cách gọi có một giá trị nhất định về mặt khoa học trong chừng mực nó phản ánh chiều sâu, mức độ nghiêm trọng và bản chất những vấn đề mà họ phải đối mặt. Tuy nhiên, nếu chỉ chăm chăm vào cái nhãn dán này, ta có thể bỏ lỡ khía cạnh hấp dẫn cốt lõi của nó: đó là cách mà bệnh tật có thể cùng tồn tại với một trạng thái “khỏe mạnh tinh thần” tuyệt vời. Nhà viết kịch Eugene O’Neill từng viết: “Con người sinh ra đã mang trong mình những khiếm khuyết. Họ sống bằng cách hàn gắn những khiếm khuyết ấy. Và ân điển của Chúa chính là chất keo gắn kết!” Nhiều câu chuyện thế tục về chứng trầm cảm đã có thể kết thúc bằng một sự thức tỉnh về mặt tâm linh; điển hình là cuốn hồi ký Lời thú tội của tôi (My Confession hay Meine Beichte, 1882) của Leo Tolstoy, kể lại hành trình một cuộc khủng hoảng tinh thần cuối cùng được chuyển hóa thành cuộc khủng hoảng đức tin, và cách ông tìm thấy lối thoát nhờ tìm đến với Kitô giáo. (Joshua W. Shenk)
Cái chết của Willie ở tuổi 11, đứa con thứ ba và mang nhiều nét giống Licoln nhất, là nỗi đau tột cùng của Lincoln, diễn ra ngay trong thời gian Nội chiến, tháng 2, 1862. Ông nói rằng cậu bé là một đứa trẻ quá đỗi thánh thiện, không thuộc về chốn trần gian này. “Thật đau đớn, đau đớn biết bao khi con ra đi,” ông nói, giọng nghẹn ngào trong tiếng nấc. “Ông gục đầu vào hai bàn tay, thân hình cao lớn run lên vì xúc động. Tôi đứng ở cuối giường, mắt đẫm lệ, lặng lẽ dõi theo ông với nỗi bàng hoàng và lòng kính nể. Nỗi đau đớn tột cùng đã khiến ông suy sụp, biến ông thành một đứa trẻ yếu đuối và bất lực.” (Elizabeth Keckly)
Có lúc Lincoln từng rơi vào trạng thái trầm cảm nặng nề đến mức suýt nữa đã tự kết liễu đời mình; khi ấy, Joshua Speed – người bạn luôn lo lắng cho ông – đã nói rằng ông buộc phải vực dậy tinh thần nếu không muốn chết. Lincoln đáp rằng ông đã sẵn sàng đón nhận cái chết, nhưng thâm tâm ông vẫn “khao khát được sống” để làm một điều gì đó ý nghĩa, mang lại lợi ích cho đồng loại. Giờ đây, khi nhắc đến Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, Lincoln bộc bạch: “Tôi tin rằng biện pháp này sẽ giúp hiện thực hóa những ước vọng tha thiết nhất của mình.” Ông đã hoàn thành được giấc mơ đời mình – điều mà theo lời chiêm nghiệm của Speed, “hiếm có ai sống đủ lâu để thực hiện được.”
Để giữ cho tinh thần được ổn định, Lincoln đã tìm đến những phương cách quen thuộc, trước hết là thơ ca. Ông thường xuyên ngâm nga bài thơ mình yêu thích: “Ôi, cớ sao linh hồn kẻ phàm trần lại kiêu hãnh đến thế.” Những vở bi kịch của Shakespeare cũng là người bạn đồng hành thường xuyên của ông. Có lần, trong một cơn u sầu, ông rung chuông gọi thư ký mang đến tập thơ của Thomas Hood. “Khi tập thơ được mang tới,” O. H. Browning kể lại, “ông đã đọc cho tôi nghe vài bài thơ buồn bã, đầy bi cảm ấy—có lẽ vì chúng phản ánh chân thực những trải nghiệm và cảm xúc của chính bản thân ông. Tôi đã ở lại cùng ông khoảng một tiếng rưỡi và ra về với tinh thần phấn chấn, tâm trạng vô cùng vui tươi; thế nhưng, như chính ông đã nói, một đám đông đang xôn xao ngoài cửa tựa như bầy ong, chực chờ ùa vào ngay khi tôi rời đi để kéo ông trở lại với thực tại đầy rẫy những phiền toái và quấy rầy gắn liền với cương vị của mình.”
Nếu chọn dùng thuốc phiện liều cao, có lẽ ông đã vơi bớt nỗi đau, nhưng cái giá phải trả là sự suy giảm nghiêm trọng về sinh lực (energy). Nếu phó mặc bản thân cho một guru tâm linh hay một thầy thuốc—dành hàng tháng trời mỗi năm để trị liệu bằng thủy liệu pháp hay đặt mình dưới sự dẫn dắt của một nhà thôi miên tài ba—có thể ông đã tìm thấy sự an ủi trong những phác đồ do người khác định sẵn; song cái giá phải trả lại là việc đánh mất tầm nhìn mà ông đã thấu hiểu: khát vọng thực hiện một điều gì đó đầy ý nghĩa cho hậu thế. Mặc cho khổ đau, thất vọng và u sầu, Lincoln vẫn kiên trì giữ lấy những ước mơ song hành cùng nỗi sợ hãi:
“Hy vọng và tuyệt vọng, niềm vui và nỗi đau,
Hòa quyện vào nhau trong nắng ấm và mưa giông”
như hai câu thơ của nhà thơ người Scotland William Knox trong bài thơ Mortality của ông (1882).
Bài viết “Tolstoy coi Lincoln là người hùng vĩ đại nhất thế giới” được Bá tước S. Stakelberg thực hiện dành riêng cho tờ New York World, được đăng chỉ vài ngày trước lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Abraham Lincoln. Ngày đăng chính xác của bài phỏng vấn trên báo đó là 7 tháng 2 năm 1909. Nó được đăng lại trong tậpThe Lincoln Anthology: Great Writers on His Life and Legacy from 1860 to Now năm 2008/9, dày 964 trang, của Library of America, cũng như được in lại trong quyển sách Lincoln’s Melancholy năm 2005 của tác giả Joshua W. Shenk.
Xem thêm:
- Cuộc ám sát Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (Ngày 14/4/1865) 23 Tháng Tám, 2026