ĐẠI HỌC và VĂN HÓA
Nguyễn Xuân Xanh

Sự học không phải là một nhiệm vụ, mà là một tiếng gọi, ban cho chúng ta ánh sáng để nhìn xa hơn những người khác.
– Isaac Barrow (1630 -1652, thầy toán của Newton)
Lời nói đầu
Đại học và Văn hóa là một phần của bài viết qui mô hơn về nguồn cội của khoa học hiện đại phương Tây. Sự hình thành khoa học là chương hết sức đặc biệt của văn minh phương Tây không có ở các nền văn minh khác. Trong quá trình này, Kitô giáo có vai trò hết sức đặc biệt, vừa “tạo sinh” góp phần rất lớn cho sự hình thành, nhưng có giới hạn của nó mà các nhà khoa học cần phải nhận thức và phải vượt qua. Họ có hai công cụ đắc lực hỗ trợ trên cuộc hành trình khám phá: Toán học và Thí nghiệm. Toán học nằm trong cụm môn khai phóng quadrivium, trong khi Thí nghiệm nằm trong các hoạt động thực tiễn của giới lao động thủ công. Chính giới này xây dựng nền văn minh vật chất của phương Tây, năm thế kỷ trước cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên thế kỷ XVIII.
Mặt khác, sự phát triển khoa học không thể tách rời khỏi sự phát triển của giáo dục đại học. Với thời gian, mối liên hệ đó ngày càng mật thiết và rõ ràng. Giáo dục đại học cũng rất cần khoa học để tồn tại và phát triển. Không có khoa học, đúng hơn khoa học Hy lạp cổ đại, đại học không thể tồn tại lâu dài. Châu Âu đã cần cuộc dịch thuật kéo dài 200 năm các tác phẩm kinh điển của các nhà khoa học, triết học Hy lạp, để nuôi dưỡng và phát triển giáo dục đại học. Đại học Trung Hoa ra đời cũng khoảng cùng thời kỳ đã không thể trở thành đại học và tồn tại lâu dài bởi lý do thiếu khoa học. Rồi đại học phương Tây cũng dần dần rơi vào bế tắt kéo dài cho đến cuối thế kỷ XVIII, bởi sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện. Không có cái gì mới tiếp theo, cho đến đầu thế kỷ XIX Wilhelm von Humboldt đưa khoa học và học thuật, Wissenschaft, lại vào đời sống đại học. Nghiên cứu, khám phá là đặc trưng của đại học mới. Mô hình đại học này, cũng như sự ra đời của đại học Trung cổ là những giai đoạn đổi mới vĩ đại của học thuật phương Tây. Vào nửa sau của thế kỷ XIX, các college nhân văn, khai phóng nổi tiếng của Mỹ, cũng ‘lên đường”, biến đổi thành đại học nghiên cứu, lấy Wissenschaft làm nền tảng của nghiên cứu và giảng dạy.
Do không có đủ thòi gian, nên bài viết chưa thể hoàn thành. Tuy nhiên, hiện nay dư luận đang bàn luận về giáo dục đại học, cho nên tôi xin phép chia sẻ với độc giả.
Nguyễn Xuân Xanh
Học thuật phương Tây và phương Đông
Toàn bộ sự kế tiếp của loài người qua các thời đại… như một con người, luôn luôn sống và không ngừng học hỏi.
– Pascal (1623-1662)
Có một sự khác biệt cơ bản giữa học thuật phương Tây và phương Đông. Học thuật phương Tây đã cam kết với ý tưởng diễn ngôn công khai (public discourse), nghĩa là các quan điểm hoặc kết luận của học giả cần thiết phải được đưa ra tranh luận và kiểm chứng trên diễn đàn học thuật rộng rãi, sẵn sàng chấp nhận sự mổ xẻ và thách thức của công luận cũng như biết lắng nghe những bằng chứng và lập luận mới có thể trái chiều, nghĩa là chịu giám sát của critical thinking, tư duy phản biện. Không có những tính chất này, không thể có khoa học mà chỉ có “tri thức một chiều” hay “tri thức mệnh lệnh”. Trong khi đó, học thuật phương Đông thường đóng kín trước các tranh luận công khai, cũng không được khuyến khích, nhưng lại đòi hỏi tính phổ quát (universality) cho các quan điểm được đưa ra được xem là những chân lý bất di bất dịch.
Giới trí thức của hai nền văn hóa Đông và Tây đã phát triển mối quan hệ của họ với quyền lực chính trị hoàn toàn khác nhau. Ở Trung Quốc thời Minh, các học giả phải khẳng định lại thẩm quyền của các văn bản cổ xưa làm cơ sở nếu muốn có một sự phê phán chính phủ. Ở châu Âu thời kỳ cận đại, các học giả tìm đến thẩm quyền của quý tộc, hoàng tử, triều đình và vua chúa để hợp thức hóa kiến thức mới chưa được xác nhận trong các văn bản cổ. Các quý tộc Trung Quốc cũng am hiểu thế sự, có học thức và tò mò như những người đồng cấp châu Âu của họ, và với việc các tu sĩ Dòng Tên mang những khám phá của châu Âu đến cho họ và triều đình. Họ có nhiều cơ hội để dấn thân vào việc theo đuổi khoa học mới. Nhưng họ đã chọn sự trung thành với kinh điển Nho giáo để giữ được ảnh hưởng chính trị mà họ đã được ban cho. Ngược lại, học giả châu Âu đã đạt được những đột phá chưa từng có trong thiên văn học, vật lý, giải phẫu học và lịch sử tự nhiên với cái giá từ bỏ mối liên quan chính trị với quyền lực, và xây dựng một nền Cộng hòa Trí thức ảo phát triển mạnh mẽ. Kể từ đó, học thuật, cả nhân văn và khoa học, đều hướng đến việc tìm kiếm chân lý “khách quan” và tạo ra tri thức mới hơn là giữ gìn ‘nhân cách’. (McNeely/Wolverton)
Ngoài ra, nền giáo dục phương Tây còn có những đức tính như sự cởi mở, linh hoạt, khoan dung, nghiêm khắc với bản thân, đạo đức, sự khiêm nhường, và trách nhiệm xã hội, những đức tính cơ bản của lý tưởng văn minh nhằm giáo dục con người thành toàn diện, Bildung, hay paideia (tiếng Hy lạp), hay humanitas (tiếng La tinh). Đó là những lý tưởng giáo dục sâu sắc tập trung vào việc hình thành “con người toàn diện” – trau dồi trí tuệ, nhân cách, đạo đức và tinh thần, quan tâm đến giáo dục nhân văn chứ không chỉ thuần kỹ năng. (Xem bài Paideia của Werner Jaeger trong sách ĐẠI HỌC)
Thực tế, paideia và giáo dục khai phóng (liberal education) của thời Trung cổ có nhiều điểm chung quan trọng. Cả hai triết lý giáo dục đều nhấn mạnh cách tiếp cận toàn diện trong học tập, lấy con người làm trung tâm, xem trọng việc bồi dưỡng những cá nhân toàn diện và công dân có trách nhiệm, thay vì chỉ đào tạo nghề chuyên sâu. Trong suốt lịch sử của mình, người châu Âu luôn luôn thụ hưởng paideia và giáo dục khai phóng trên cùng một nền tảng, và nền giáo dục đó đã tạo ra những nhân cách vĩ đại.
Learning và Education
Những thập niên sau Thế chiến II, đại học Hoa Kỳ chứng kiến một sự phát triển bùng nổ chưa từng thấy dẫn đến một sự mâu thuẫn giữa học thuật và giáo dục nhân văn. Đó là giai đoạn đại học phát triển thành đa-đại học (multi-university, khái niệm của Clark Kerr) khổng lồ chưa từng có. Đó là giai đoạn của “cuộc cách mạng học thuật” (“the academic revolution”) như tên quyển sách xuất bản năm 1968 của hai học giả Harvard Christopher Jencks và David Riesman. Sự phát triển này đương nhiên đã mang lại sự hài lòng cho chính giới học thuật, và nó cũng hữu ích trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu chuyên môn của xã hội hiện đại. Nhưng nó lại không phù hợp lắm với nhu cầu của giáo dục đại học, vốn luôn được coi là nghĩa vụ hàng đầu của đại học. Coi kiến thức là mục đích tự thân, đại học đã đánh mất tầm nhìn về mục đích nhân văn rộng lớn hơn của nó. Nó đã mang lại những lợi ích quan trọng và đáp ứng những nhu cầu quan trọng, nhưng với một cái giá rất đắt: đó là sự hy sinh giáo dục như một nền giáo dục truyền thống (paideia). Nếu chỉ có learning, học cho nghề nghiệp (professions) mà thiếu đi phần education, giáo dục nhân văn theo tinh thần paideia, hay Bildung, thì cái giá phải trả có thể sẽ rất lớn cho văn hóa. (William J. Bouwsma)
Trong môi trường như vậy, việc bàn về sự cần thiết của một khoa học phê phán về con người nghe có vẻ lỗi thời và lạc hậu, “những điều thuộc về cảm xúc một cách chính đáng thì (lại bị) nằm ngoài phạm vi của khoa học” (Bertrand Russell). Chính sự phân chia giữa khoa học và “cảm xúc” này đã góp phần rất lớn vào cuộc khủng hoảng xã hội và văn hóa giữa thế kỷ XX, mà những biến động của thập niên 1960 trong trường đại học là một trong những phản ánh. “Cảm xúc,” bị loại bỏ khỏi khoa học, tìm nơi trú ẩn trong các hình thức chủ nghĩa cực đoan chính trị và văn hóa huyền bí (Christopher Lasch). Chằng phải chỉ chấp nhận những gì có lý tính và gạt bỏ những thứ còn lại là một sự thái quá mà Pascal đã từng nói hay sao? Bao lâu bị bỏ quên, thì sự phản kháng của con người là tất yếu.
Nền học thuật phương Tây (tiếp)
Trở lại nền học thuật phương Tây. Với tâm thế mở rộng tầm nhìn như các nhà thám hiểm phương Tây và sự “thám hiểm” của các nhà truyền giáo, phương Tây đã khám phá ra các truyền thống kinh điển của học thuật phương Đông, thay vì phương Đông chủ động tìm hiểu phương Tây. Và tương tự, nền giáo dục phương Tây đã tìm đến các nền văn minh phương Đông. Nói tóm lại, cả nền giáo dục và học thuật phương Tây đã tiến xa hơn trong việc nghiên cứu các nền văn hóa châu Á so với việc người châu Á nghiên cứu nền văn hóa phương Tây. Phương Tây buộc phải làm điều này, để thực hiện đúng bản chất và lẽ sinh tồn của nó. Phương Đông không cảm thấy nhu cầu tương tự. Nó không thiếu tính học thuật, nhưng hoạt động hướng vào bên trong, chứ không phải hướng ra bên ngoài để thử thách và mở rộng.
Văn hóa là yếu tố quan trọng, vừa là “bản sắc”, vừa có vai trò tích cực nhưng cũng có thể tác dụng kềm hãm sự phát triển quốc gia trên đường đi lên hiện đại. Phủ nhận văn hóa của mình là xóa bỏ bản sắc và cắt đứt nguồn sức mạnh của bản thân, là điều không nên. Nhưng đóng kín cũng không phải là giải pháp tốt. Trung Quốc thời cách mạng đã không mang lại nhiều thay đổi có tính xây dựng. Các phong trào cách mạng liên tiếp trong thế kỷ XX chỉ làm trầm trọng thêm sự cô lập với thế giới. Trong khi đó, Nhật Bản là quốc gia tuy cũng thuộc khu vực ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng lại có khả năng thích nghi và đồng hóa văn hóa của các nền văn hóa khác đáng kinh ngạc và vì thế đã thay đổi mình nhanh chóng. Họ đã làm như thế đối với văn hóa Trung Quốc nghìn năm trước, và với phương Tây sau này. Một câu hỏi: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam là những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của nho giáo, nhưng tại sao con đường phát triển của họ lại rất khác nhau? Ở ba quốc gia đầu, “chủ nghĩa tư bản nho giáo” (Wang Hui) lần lược đã thành công, nhưng ở quốc gia thứ tư thì phải còn chờ đợi.
Châu Âu cũng rất đặc biệt, với văn hóa có gốc rễ Trung cổ, nhưng cuối cùng châu Âu đã thoát khỏi sự ràng buộc tiêu cực của văn hóa để có bước phát triển rực rỡ sau đó, hay nói cách khác, có năng lực tự lột xác. Chính tính chất chấp nhận “phê bình” và “tự phê bình”, “tư duy phản biện” trước công luận mà học thuật phương Tây khám phá ra chân lý, có động lực để ít bị “định kiến văn hóa” chi phối. Nói chung, học hỏi từ các nền văn hóa khác trong tinh thần học thuật, dưới ánh sáng của tự-phê bình của học thuật phương Tây, chính là phương tiện tốt nhất để vượt qua những định kiến văn hóa. Chỉ có loại học thuật như vậy mới có thể giúp chúng ta bớt bị ràng buộc bởi văn hóa truyền thống để thực hiện đổi mới khi cần thiết cho phù hợp với nhu cầu sinh tồn của tiến hóa.
Chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi quá khứ cho đến khi hiểu sâu sắc hơn về nó, cho đến khi chúng ta chịu mở lại lịch sử và nền văn minh của chính mình để xem xét và nhận thức được những bóng ma từ quá khứ vẫn còn ám ảnh hiện tại, ngay cả khi chúng ta có thể đang ở đỉnh cao của vinh quang hay quyền lực. (William Theodore de Bary)
Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam đã từng đóng khung văn hóa mình lại trước mọi ảnh hưởng của phương Tây, bởi họ vẫn tin vào vai trò trung tâm thế giới bất di bất dịch của văn hóa Trung Hoa mà không biết rằng trung tâm đó đã chuyển dịch sang phương Tây từ lâu cho đến khi chuốc lấy những thất bại chua cay mới chịu thức tỉnh.
***
Trong cuốn “Một nghiên cứu lịch sử”, nhà sử học lớn người Anh Arnold Toynbee lập luận rằng các nền văn minh, giống như các cá nhân, phát triển mạnh khi họ thành công trong việc giải quyết các thách thức bằng những giải pháp khôn ngoan và sáng tạo. Đối mặt với dân số ngày càng tăng và phương tiện sinh sống hạn chế, Athens cổ đại đã từng tránh được cuộc cách mạng bằng cách phát triển thương mại và các thể chế dân chủ. Nhưng bánh xe tiến bộ sẽ trật ra khỏi trục khi một nền văn minh ngừng phản ứng một cách sáng tạo trước những thách thức mới. Sau những xáo trộn của Chiến tranh Peloponnese, nền dân chủ Athens không thể tìm ra câu trả lời cho sự trỗi dậy của Macedonia, và Athens không còn là một cường quốc độc lập nữa. Không có sự đổi mới, một xã hội sẽ suy tàn và cuối cùng sụp đổ.
Lập luận của Toynbee là, sự suy tàn, về bản chất, là một sự thất bại về văn hóa—một sự trì trệ tự chuốc lấy mà ông gọi là “sự sáng tạo bị bóp nghẹt”. Lịch sử đầy rẫy những hóa thạch của các xã hội—giống như khủng long hay chim dodo — vì không thể thích nghi với thời thế, zeitgeist. Tiếp nối những lời cảnh báo của Toynbee, nhà sử học Jared Diamond mô tả cách các xã hội như các khu định cư của người Viking ở Greenland đã bám víu vào các thói quen văn hóa khi đối mặt với biến đổi khí hậu thảm khốc. Bất chấp những mùa đông khắc nghiệt, họ đã không thể tự đổi mới, và để bản thân cuối cùng chìm vào sự quên lãng của lịch sử khảo cổ.
Các trường cao đẳng và đại học hiện đại là một trong những biểu hiện đầy đủ nhất của nền văn hóa nhân loại từng nở rộ. Là mảnh đất màu mỡ để trau dồi trí tuệ, chúng không có đối thủ; là những vườn ươm tri thức, chúng không có gì sánh bằng. Có lẽ chúng là những thể chế hiệu quả nhất cho sự tiến bộ trí tuệ mà nhân loại từng phát triển. Tuy nhiên, nếu các trường cao đẳng và đại học không thể đáp ứng một cách sáng tạo những đòi hỏi của thách thức mới mà họ phải đối mặt, chúng cũng sẽ tàn lụi và sẽ mất hết ý nghĩa tốt đẹp của chúng. (Joseph E. Aoun)
Nhiệm vụ của đại học
Người ta chờ đợi ở các trường đại học những nhiệm vụ quan trọng nào? Thứ nhất, các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học nghiên cứu, có năng lực đáp ứng nhiều thách thức ảnh hưởng đến khả năng duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, cạnh tranh, đồng thời đảm bảo an ninh và cơ hội đầy đủ cho tất cả công dân. Vấn đề thứ hai mang tính chất đạo đức, là tạo một ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm công dân, nhận thức đạo đức và sự quan tâm đến lợi ích của người khác, đặc biệt trong giới lãnh đạo ở mọi tổ chức. Vấn đề này thuộc phạm vi giáo dục paideia.
Từ báo cáo nổi tiếng của Vannevar Bush đệ trình lên tổng thống năm 1946, người Mỹ đã đặt niềm tin lớn vào khả năng của nghiên cứu cơ bản trong việc xây dựng một xã hội mạnh mẽ, thịnh vượng và an toàn hơn. Việc tạo ra công nghệ mới phục vụ an ninh quốc gia, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phúc lợi xã hội sẽ là những hệ quả đương nhiên.
Cho đến thế kỷ XX các nhà giáo dục ở châu Âu và châu Mỹ không chỉ tìm cách xây dựng nhân cách cho học sinh; họ còn coi nhiệm vụ này là mối quan tâm hàng đầu. Như Plato đã nhận xét: “Nếu bạn hỏi giáo dục có ích lợi gì, câu trả lời rất đơn giản – đó là giáo dục tạo ra những người tốt, và những người tốt hành động cao thượng”, hay theo lời của Thomas Jefferson, giáo dục là để tạo ra “một tầng lớp quý tộc tài năng và đức hạnh” để “hình thành nên các chính khách, nhà lập pháp và thẩm phán, những người mà sự thịnh vượng của công chúng và hạnh phúc cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào họ.” Hiệu trưởng Francis Wayland của Đại học Brown đã lặp lại cảm xúc của nhiều nhà giáo dục hàng đầu thời ông (thế kỷ XIX) khi ông nhận xét: “Mục tiêu quan trọng nhất cần đạt được trong giáo dục thanh thiếu niên là phẩm chất đạo đức.” (Derek Bok)
Học giả Daniel Bell đưa ra dự đoán táo bạo rằng, trường đại học sẽ trở thành định chế thống trị của các xã hội hậu hiện đại. Điều này sẽ xảy ra bởi vì trường đại học là nơi theo đuổi kiến thức lý thuyết, điều mà Bell coi là chìa khóa cho tương lai: “Có lẽ không quá lời khi nói rằng nếu doanh nghiệp là thể chế chủ chốt của trăm năm qua, vì vai trò của nó trong việc tổ chức sản xuất để tạo ra hàng loạt sản phẩm, thì trường đại học sẽ trở thành thể chế trung tâm của trăm năm tới vì vai trò của nó như là nguồn gốc của sự đổi mới và tri thức.” Đại học sẽ có vị trí đặc biệt, sẽ trở thành một nguồn sức mạnh quan trọng và định hướng xã hội.
Nhưng đại học cũng là những sáng tạo rất dễ vỡ hay bị vô hiệu hóa. Nếu đại học không có tự chủ, tự do học thuật, được đầu tư đúng mức, hay giới hàn lâm của nó không có tinh thần học thuật, thì đại học cũng chỉ làm công việc lập lại tri thức quá khứ, sẽ không đóng góp gì quan trọng cho đổi mới sáng tạo quốc gia. Đại học nghiên cứu Humboldt giả định một điều: Các nhà hàn lâm của nó đều là những nhà nghiên cứu và khám phá hàng đầu của quốc gia. Họ không phải là các “học giả bánh mì” mà là “cái đầu triết học” như Friedrich Schiller gọi những nhà nghiên cứu đích thực đêm trước của Đại học Humboldt. Sự ra đời của đại học này thúc đẩy văn hóa nghiên cứu khoa học và học thuật (Wissenschaft) mạnh mẽ.
Sự tiến hóa của giáo dục Hoa Kỳ
Nếu ở phương Đông, Nhật Bản là một tấm gương cầu học nước ngoài để canh tân quốc gia, thì ở phương Tây, Hoa Kỳ cũng đã cung cấp một tấm gương ấn tượng không kém. Cuộc cách mạng công nghiệp Hoa Kỳ diễn ra trong hai giai đoạn: Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, và Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai phát triển sau cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861-65). Tuy nhiên, đến những năm 1850, Hoa Kỳ vẫn chủ yếu là nông thôn, sống về kinh tế nông nghiệp, thủ công, một ít công nghiệp, và dân cư ít học, tình hình giống như Anh quốc đêm trước cuộc cách mạng công nghiệp. Nhu cầu về giáo dục đại học không cao hơn những gì được cung cấp bởi một số ít trường cao đẳng (college) thuộc địa, chuyên cung cấp cái mà Hồng y John Henry Newman, nhà thần học và trí thức thế kỷ XIX, gọi là “kiến thức khai phóng”, mục đích là chuẩn bị cho con người “đảm nhiệm bất kỳ chức vụ nào một cách xuất sắc và nắm vững bất kỳ môn học nào một cách dễ dàng”. Giáo dục ở các colleges Mỹ từ 1636 của Harvard đến 1850, nghĩa là 214 năm, cũng vẫn có mục đích chủ yếu chuẩn bị cho con người trở thành những quý ông thành đạt trong một nền kinh tế và xã hội không đòi hỏi nhiều về công nghệ nhưng lại giàu có về văn hóa.
Nhưng tình hình sắp tới sẽ thay đổi căn bản. Giữa lúc cuộc nội chiến còn tàn phá, Đạo luật Morrill năm 1862, cấp đất công để tài trợ cho các trường đại học nhằm đào tạo một thế hệ chuyên gia công nghệ mới ra đời. Các trường đại học cấp đất mới đã phát triển vượt ra khỏi chương trình giảng dạy nghệ thuật khai phóng cũ để tập trung vào các ngôn ngữ phi-cổ điển, lĩnh vực khoa học xã hội mới nổi và các khám phá khoa học và công nghệ. Thay vì giảng dạy kiến thức có từ thời Hy Lạp và La Mã, giáo dục đại học bắt đầu dành năng lượng của mình cho việc chủ động tạo ra kiến thức mới. Thay vì chỉ đơn thuần bồi dưỡng cá nhân, các trường đại học đã đảm nhận công việc thúc đẩy tiến bộ kinh tế và xã hội. Tiến bộ đòi hỏi sự tham gia của cá nhân, vì vậy cá nhân cần được giáo dục phù hợp. Ngay từ những năm 1830, các nhà giáo dục ở Hoa Kỳ đã nhìn sang nước ngoài, cụ thể là nước Phổ, để tìm ý tưởng về cách chính thức hóa một hệ thống giáo dục cho trẻ em trong nước. Các nhà cải cách như Horace Mann đã ủng hộ một hình thức giáo dục miễn phí, phổ cập, không phân biệt tôn giáo và dạy trẻ em cách trở thành công dân tốt và người tham gia vào một nền cộng hòa hiện đại. Vào những năm 1840, Mann đã giới thiệu mô hình giáo dục Phổ “phi đẳng cấp” này mà tác giả là Wilhelm von Humboldt đến Massachusetts, đặt nền tảng cho phần lớn hệ thống giáo dục K-12 vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Hàng loạt colleges cũ và mới đã biến thành đại học nghiên cứu theo mô hình đại học Humboldt Đức, mà bắt đầu là Johns Hopkins, sau đó là các Đại học Chicago, Stanford, Clark, Yale, Columbia, Princeton. Nhiều nhà lãnh đạo của thế hệ đại học mới là những người từng học ở Đức, hay nghiên cứu mô hình đại học nghiên cứu Đức. Khi Johns Hopkins khai giảng đầu tiên (1876), toàn bộ ban giảng huấn đều là những người từng học ở Đức. Các nhà giáo dục Mỹ đã nhận thức sâu sắc vai trò của đại học nghiên cứu Đức. Hoặc đại học tiến lên một đẳng cấp mới, hoặc đại học dậm chân tại chỗ.
Người Mỹ nhìn giáo dục đại học Đức
Sẽ là điều rất bổ ích nếu chúng ta lắng nghe ý kiến của một vài nhà cải cách giáo dục đại học Mỹ theo định hướng giáo dục đại học Đức. Đây là một chương rất thú vị để biết các nhà lãnh đạo giáo dục đại học Mỹ đánh giá thế nào mô hình đại học nghiên cứu Đức, và cách họ đã biến đổi các college hàng đầu của họ thời định cư tính từ Harvard 1636 hay các college mới thành lập thành đại học nghiên cứu chỉ trong vòng khoảng ba thập niên.

Wilhelm von Humboldt (22 tháng 6, 1767 – 8 tháng 4, 1835)
Một trong những câu hỏi quan trọng và khó khăn là có thể nào đại học lập ra mà chỉ có mục đích đơn thuần là phục vụ những yêu cầu của nhà nước không? Humboldt đã từng trà lời không, vâng không nên, mà nên để cho đại học tự do trong nghiên cứu khoa học, lợi ích của đại học mang lại cho nhà nước sẽ không nhỏ mà còn lớn hơn nhiều. Friedrich Schelling, một trong những nhà triết học, cũng là nhà giáo dục, thời Hegel đã diễn giả quan điểm của ông rất hùng biện:
Nhà nước chắc chắn có quyền bãi bỏ hoàn toàn các học viện hoặc chuyển đổi chúng thành các trường công nghiệp và các trường khác có mục tiêu tương tự; nhưng nhà nước không thể có ý định thứ nhất mà không đồng thời mong muốn sự sống động của tư tưởng và sự vận động khoa học tự do nhất, việc phủ nhận điều đó, vì những lý do nhỏ nhặt chủ yếu chỉ nhằm bảo vệ sự bình yên của những người bất tài, sẽ bóp nghẹt thiên tài và làm tê liệt tài năng. Quan điểm phổ biến về các trường đại học là: “chúng được dùng để đào tạo những người phục vụ nhà nước thành những công cụ hoàn hảo cho mục tiêu của nhà nước.” Tuy nhiên, những công cụ này chắc chắn phải được đào tạo thông qua khoa học. Do đó, nếu người ta mong muốn mục đích giáo dục đó, người ta cũng phải mong muốn có khoa học. Nhưng khoa học sẽ không còn là khoa học nữa ngay khi nó bị giản lược thành một phương tiện đơn thuần và không đồng thời được thúc đẩy vì chính bản thân nó. (Schelling, trong Vorlesungen über die Méthode des akademischcn Studiums, Bài giảng thứ hai. Xem thêm ý kiến của ông về đại học nghiên cứu trong sách ĐẠI HỌC)
Sự nâng cấp giáo dục đại học đồng nghĩa với sự nâng cấp của xã hội, văn hóa và kinh tế. Cuối thế kỷ XIX Hoa Kỳ có dân số khoảng 79 triệu, nhưng đã có khoảng 16 đại học nghiên cứu. Đại học công: Michigan, Wisconsin, Minnesota, Illinois và California. Đại học chuyển đổi từ các college: Harvard, Yale, Columbia, Princeton và Pennsyvania. Đại học mới từ luật giao đất: MIT, Cornell, Johns Hopkins, Stanford và Chicago. Hiện có khoảng 262 đại học nghiên cứu.
Trước thềm kỷ niệm 200 năm sự ra đời mô hình đại học nghiên cứu Humboldt (2010-1810), Hiệu trưởng Robert J. Zimmer của Đại học Chicago đã phát biểu tại lễ tốt nghiệp của Đại học Chicago vào tháng 10 năm 2009, tóm tắt di sản đại học Đức cũng như đặt Chicago vào truyền thống Đức như sau:
Năm 1810, tức 600 năm sau khi các trường đại học ở Bologna, Paris, Oxford và Cambridge được thành lập, … Đại học Berlin được thành lập dưới sự lãnh đạo của Wilhelm von Humboldt. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi một số luồng tư tưởng sinh động về các trường đại học ở Đức thời bấy giờ, đặc biệt là tư tưởng của triết gia và nhà thần học Friedrich Schleiermacher. Chính tại trường đại học của Humboldt, tinh thần của trường đại học hiện đại đã ra đời, theo mô hình được gọi là mô hình Đức. Điều này bao gồm ba ý tưởng chính: thứ nhất, mục tiêu của giáo dục là dạy sinh viên tư duy, chứ không chỉ đơn thuần là thành thạo một nghề; thứ hai, nghiên cứu sẽ đóng vai trò trung tâm và việc dạy sinh viên cách tư duy sẽ được thực hiện thông qua việc kết hợp nghiên cứu và giảng dạy; và thứ ba, trường đại học nên độc lập và không phục vụ trực tiếp cho nhà nước. Như chúng ta có thể hình dung, nỗ lực xây dựng và áp dụng một hệ thống mới đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các giảng viên đầu tư vào các phương pháp khác, đặc biệt là những phương pháp không chú trọng đến nghiên cứu và tư duy độc lập. Tuy nhiên, mô hình này đã mang lại kết quả mạnh mẽ và không chỉ trở thành mô hình thống trị ở Đức mà còn dần lan tỏa ảnh hưởng khắp châu Âu trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Nếu Đạo luật Morrill năm 1862 ra đời trong lúc chiến tranh còn tiếp diễn để phát triển giáo dục đại học thì một đạo luật khác cũng ra đời trước khi chiến tranh vẫn chưa chấm dứt: Đạo luật G.I., được quốc hội phê duyệt ngày 22 tháng 6 năm 1944, khi quân đội Mỹ vẫn còn đang chiến đấu ác liệt tại bãi biển Omaha trong Ngày-D (6/6/1944) cùng với Đồng Minh ở Normandy nhằm giải phóng Pháp. Đạo luật có mục đích đáp ứng nhu cầu hội nhập của hàng triệu chiến binh vào nền kinh tế khi được giải ngũ bằng cách cung cấp học phí và chi phí sinh hoạt cho việc theo học đại học. Chưa bao giờ có sự mở rộng mạnh mẽ đến vậy về cơ hội tiếp cận giáo dục đại học kể từ phong trào cấp đất những năm 1860. Các cựu chiến binh trở về ồ ạt đổ vào, nhanh chóng chiếm hơn 50% dân số sinh viên đại học của cả nước. Đến năm 1956, Đạo luật G.I. đã giúp hơn 2,2 triệu người Mỹ theo học đại học. Để đáp ứng số lượng sinh viên mới khổng lồ này, giáo dục đại học cần phải mở rộng mạnh mẽ, và điều này được tạo điều kiện thuận lợi bởi một khoản đầu tư lớn để mở rộng hệ thống giáo dục đại học công lập của các tiểu bang, bao gồm cả việc tạo ra một loại trường học mới: trường cao đẳng cộng đồng. (Joseph E. Aoun)
Sự sáng tạo của Hoa Kỳ chưa hết. Thế chiến II không chỉ làm thay đổi nhân khẩu học và văn hóa trong các lớp học đại học, mà còn thay đổi cách thức vận hành các phòng thí nghiệm và viện nghiên cứu của họ. Khi Đức xâm lược Pháp năm 1940, Vannevar Bush, lúc đó là người đứng đầu Viện Carnegie, đã tiếp cận Tổng thống Franklin D. Roosevelt với một đề xuất ngắn gọn, chỉ một trang giấy, về việc thành lập Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng. Ý tưởng của ông là phối hợp nghiên cứu giữa các quan chức quân sự và giới học thuật, từ đó tăng cường vai trò của các trường đại học trong nỗ lực chiến tranh bằng cách huy động toàn bộ nguồn lực của họ vào việc khám phá khoa học và công nghệ. Thế chiến II và người Đức đã cho thấy một điều: Sự can dự quyết định của yếu tố khoa học, công nghệ vào chiến tranh ở mức độ và quy mô chưa từng có. Điều này cũng mở ra nguồn tiền khổng lồ từ chính phủ liên bang. Những số tiền này đã khởi động các phòng thí nghiệm thời chiến tại các trường đại học như Viện Công nghệ Massachusetts M.I.T., Caltech, Đại học California tại Berkeley và Đại học Chicago.

Clark Kerr (1911- 2003)
(Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học California, Berkeley, và là Chủ tịch thứ mười hai của Đại học California. Nhà lãnh đạo giáo dục đại học hàng đầu của Hoa Kỳ; xem thêm trong sách ĐẠI HỌC)
Sự hợp tác giữa quân đội và giới học thuật đạt đến đỉnh cao nổi tiếng nhất ở Dự án Manhattan, nhưng việc chấm dứt chiến sự không có nghĩa là kết thúc nghiên cứu do chính phủ tài trợ. Trong suốt Chiến tranh lạnh và sau đó, nguồn tài trợ của chính phủ tiếp tục đổ vào các trường đại học, cũng theo đề nghị của Bush lên tổng thống, thúc đẩy việc tạo ra kiến thức khoa học và công nghệ. Vào những năm 1960, nguồn tài trợ liên bang chiếm 73% ngân sách nghiên cứu và phát triển của các trường đại học. Đến năm 2021, con số này giảm xuống còn khoảng 54%, nhưng vẫn lên tới khoảng 50 tỷ đô la mỗi năm. Hơn bao giờ hết, các trường đại học đã trở thành trung tâm của sự sáng tạo của con người. (Joseph E. Aoun)
Học hỏi, thay đổi, để sống sót trong cuộc tiến hóa sinh tồn
Để sống sót trước thách thức, không phải sức mạnh, mà năng lực học hỏi và thích nghi mới là yếu tố sống còn, theo định luật tiến hóa của Darwin. Muốn thoát khỏi định kiến văn hóa, cần phải phát triển học thuật và học hỏi các nền văn hóa khác. Mọi sự trì trệ về văn hóa sau những thành công nhất thời, sẽ có tác dụng tạo ra sự xa lạ đối với quá khứ. Sau một loạt chiến thắng của Phổ trước Áo, Pháp, thì nhà triết học Nietzsche đã tiên đoán, văn hóa Đức sẽ bắt đầu đi xuống.
Tại buổi hội thảo Matinée tiêu đề “Wilhelm von Humboldt – Một người đương thời hiện đại” tháng 11, 2017 để kỷ niệm sinh nhật thứ 250 của Wilhelm von Humboldt, Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier đã viết:
Humboldt tin chắc rằng: “Chỉ có thay đổi mới đem lại sự tốt lành.” Điều đó có nghĩa là: Những người chấp nhận thay đổi, những người luôn luôn cởi mở với sự chuyển mình, sẽ phát triển tốt hơn. Giáo dục, Bildung, không chỉ đòi hỏi sự tò mò, mà còn cả lòng can đảm để tiếp xúc với những điều chưa biết, dám thử những điều mới mẻ, mạo hiểm bước vào những lĩnh vực khó khăn, và thậm chí là chấp nhận rủi ro. Nó nảy sinh từ sự nỗ lực, từ sự nghi ngờ, và đôi khi thậm chí từ những thất bại tạm thời. Đây chính xác là những gì Wilhelm von Humboldt đã làm gương cho chúng ta, và đây vẫn là di sản bất diệt của ông.
Steinmeier cũng nói tiếp về tri thức và trách nhiệm xã hội:
Nhận thức bản thân và trở thành chính mình – đó là mục tiêu mà Humboldt đã dốc toàn bộ nỗ lực trong những năm tháng này. Nhưng chủ nghĩa cá nhân triệt để của ông còn có một khía cạnh khác: nó không chỉ tập trung vào “tri thức và lời nói”, mà còn vào “tính cách và hành động”, vào việc gánh vác trách nhiệm. Wilhelm von Humboldt cũng muốn thay đổi thế giới – mặc dù bằng những phương tiện khác với phái Jacobin ở Paris.
Chẳng phải đó là loại văn hóa khám phá mang tính giáo dục paideia hay sao?
Thay lời kết
Kề từ buổi bình minh cùa nền văn minh, khoáng 5.000 năm trước, tầng lởp nông dân trên thế giới dã mang gánh nặng cùa nền văn minh trên lưng mà không nhận được bất kỳ phần đáng kề nào trong lợi ích cùa nền văn minh. […] Trong thời đại cùa chúng ta, công nghệ nằm trong tầm nhìn có thể tạo ra đù lợi ích vật chất cùa nền văn minh đề cung cấp cho toàn bộ loài người. Cuối cùng, đa số đang rũ bỏ chù nghĩa định mệnh đã làm tê liệt nó kể từ buổi dầu của lịch sử. Chân lý dang trờ nên sống động với sự thật rằng một sự cải thiện số phận của nó bây giờ là có thể. Hơn thế nữa, con người đang nhận ra rằng nó có thề làm điều gì đó hướng tởi mục tiêu này bằng những nỗ lực cùa chính mình, để cho toàn bộ loài người đời này qua đời khác, có thể được coi là cùng một con người, sống từ thời đại này sang thời đại khác và không ngừng học hỏi từ kinh nghiệm của mình, cách tạo ra một nền văn minh hài hòa và sáng tạo hơn.”
— Arnold J. Toynbee (1889-1975)
Năm 2027, Newton sẽ trở lại hỏi các bạn trẻ hôm nay: Các bạn khai sáng mình bằng gì, hoạt động nghiên cứu của các bạn diễn ra dưới ánh sáng của niềm tin nào? Các bạn có hoạt động cho niềm tin đó trở thành sự thật hay không? Joel Mokyr, Giải Nobel kinh tế 2025, lý giải rằng chính niềm tin vào năng lực đổi đời của công nghệ và khoa học là sức mạnh để con người kiên trì cuối cũng giành được phồn vinh, phúc lợi. Dĩ nhiên điều này phải diễn ra trong “hệ thống tự do tự nhiên” của Adam Smith liên quan đến thể chế bao gồm tự do cạnh tranh và bình đẳng, không có sự can thiệp của các nhóm lợi ích lũng đoạn, được bảo đảm bởi luật pháp chặt chẽ như người quan sát khách quan, impartial spectator.
Newton nói tiếp: Không phải châu Âu chỉ tiến bộ vì có những phát minh to lớn liên tục thay đổi bộ mặt xã hội liên tục. Đó là một châu lục luôn luôn học hỏi, thử nghiệm hàng loạt ý tưởng mới, mà bắt đầu là triết học ở Hy Lạp. Họ có lý thuyết thuần túy như Plato, nhưng cũng có khoa học xuất phát từ quan sát, thí nghiệm như Aristotle. Họ luôn luôn học hỏi sôi động, tranh luận, viết các ý tưởng xuống thành văn bản cho đời sau. Vào đầu thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, chữ viết đã trở thành phương tiện chính của văn hóa Địa Trung Hải, văn hóa theo đó dựa trên văn bản mà Alexandria là thư viện vĩ đại để lưu trữ tất cả các tri thức có được ở dạng văn bản.
Bài viết Ảnh hưởng của Isaac Newton lên Adam Smith sẽ cho thấy không khí khai sáng sôi nổi đã diễn ra như thế nào, lấy khoa học Isaac Newton làm trung tâm. Thực tế, các dân tộc của Xứ sở buổi chiều đã làm theo khẩu hiện sapere aude – dám biết và cả dám làm – của Kant đưa ra một thế kỷ sau. Họ rất can đảm, sáng tạo và say mê khoa học, và hơn thế nữa, từ lúc có Principia, khi bầu trời không còn tối sầm mà trở nên sáng sủa được cấu trúc rất rõ ràng như ban ngày – nhờ ánh sáng của Isaac Newton.
Nguyễn Xuân Xanh
Xem thêm những đề tài liên quan:
- Tự do học thuật của các đại học Đức (Hermann von Helmholtz) 3 Tháng Năm, 2026
- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Charles W. Eliot (Harvard) 18 Tháng Tư, 2026
- Đại học Hoa Kỳ: Từ Hỗn độn hoàn hảo đến Ngọn hải đăng thế giới 20 Tháng Tư, 2024
- Về College Hoa Kỳ 20 Tháng Tư, 2024
- Cần một văn hóa khoa học để phát triển 19 Tháng Mười Một, 2022
- Giới thiệu sách ĐẠI HỌC của Nguyễn Xuân Xanh 18 Tháng Một, 2019
- Tại sao cần giáo dục khai phóng? 26 Tháng Một, 2018
- Lời tựa cho Cuộc Cạnh Tranh Chất Xám Vĩ Đại 25 Tháng Mười Một, 2017
- Giáo dục nào cho tương lai? 25 Tháng Mười Một, 2016