Immanuel Kant 300 năm, Bài viết cho Kỷ yếu

by , under Uncategorized

IMMANUEL KANT 300 NĂM

 BÀI VIẾT CHO KỶ YẾU 

Nguyễn Xuân Xanh

Bài viết này được dành tặng cho học giả Bùi Văn Nam Sơn kính mến, người bạn của tôi từ thời du học Đức, mà tôi hay gọi là “nhà bách khoa thư của Việt Nam”, người đã miệt mài khai sáng phong trào sinh viên yêu nước ở Tây Đức và Tây Bá Linh trong những năm chiến tranh, và càng dấn thân hơn vào việc khai sáng trong giai đoạn xây dựng hòa bình của đất nước. Học thuật, Khai sáng, Đạo đức, Tính nhân hậu, Bình dị, Khoan dung, Cởi mở, chiếm lãnh tâm tư anh trọn vẹn và là kim chỉ nam cho đời sống tinh thần của anh. Trên anh là bầu trời triết học, trong anh là định luật đạo đức, nhân ái, tình bằng hữu để mượn ý tưởng của Immanuel Kant. Những ai một lần gặp anh đều bị tri thức bách khoa thư và trái tim nhân hậu của anh chinh phục. Các tác phẩm của anh là di sản vĩnh hằng trong kho tàng văn hóa học thuật của Việt Nam.

— Nguyễn Xuân Xanh

 

Lời nói đầu

Anh chị thân mến,

Như đã nói, dưới đây tôi xin đăng lại mục đầu [1] , và mục [8] Khai sáng là gì? của bài viết của tôi trong số Kỷ yếu, để cho gọn. Các mục [5] – [6] – [7] về triết học nhận thức luận dựa trên Einstein và những kết quả nghiên cứu bứt phá của ông trong vật lý là một chất liệu quan trọng giúp phát triển thêm triết lý của Kant, tuy rất thú vị, nhưng có nhiều chi tiết nên tôi xin dành cho các anh chị quan tâm đọc trong sách Kỷ yếu Kant.

Nguyễn Xuân Xanh

 

IMMANUEL KANT 300 NĂM

Bài viết gồm có:

Lời nói đầu

[1] Từ tình yêu bầu trời đầy sao

[2] Ánh sáng khai sáng của khoa học

[3] Từ bầu trời sao đến bầu trời triết học

[4] Kant và Phê phán lý tính thuần túy

[5] Einstein và nhận thức luận khoa học

[6] Quan hệ vật lý – triết học trong thế kỷ XX

[7] Bảo vệ lẽ sinh tồn của siêu hình học

[8] Khai sáng là gì? (Was ist Aufklärung?)

[9] Nhân loại là cứu cánh. Hòa bình vĩnh cửu

[10] “Hai điều chiếm ngự tâm tư … ”

[11] Thay lời kết

 

 Lời nói đầu (trong Kỷ yếu). Ngày 22, tháng 4, năm 2024, thế giới mừng sinh nhật thứ 300 của nhà khai sáng Đức vĩ đại thế kỷ XVIII, Immanuel Kant. Hai mươi năm trước đó, 2004, thế giới đã từng kỷ niệm lớn 200 năm ngày mất của ông. Đó là thời điểm xã hội Việt Nam sau 18 năm đổi mới đã bắt đầu có sự khởi sắc, người ta bắt đầu chú ý đến văn hóa, đến những thức ăn tinh thần. Lúc đó nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn cũng vừa dịch xong tác phẩm đầu tiên và quan trọng nhất của Kant Phê phán lý tính thuần túy sang tiếng Việt, công trình triết học đồ sộ của Kant đối với phong trào khai sáng thế kỷ XVIII. Công trình dịch thuật này đã đem lại cho nhà nghiên cứu Giải Văn hóa Phan Châu Trinh đầu tiên. Đức bắt đầu triển lãm du học tại khách sạn New World cho những đợt sinh viên đầu tiên muốn du học. Tôi bắt đầu viết tác phẩm đầu tay, Nước Đức Thế kỷ XIX, đưa ra những bài học của cuộc lội ngược dòng ngoạn mục của Đức để từ một quốc gia bại trận thành một cường quốc châu Âu, thú vị hơn cả trong bóng đá; và tiếp theo là Einstein nhân lễ kỷ niệm 100 “Năm thần kỳ” và Thuyết tương đối hẹp của Einstein vào năm 2005.

Lúc đó tôi viết bài dưới đây, để tự kỷ niệm Kant cho mình. Rồi sau một thời gian dài, giữa lúc đại dịch co-vit, bài được bổ sung đáng kể. Tôi trình bày về những ý tưởng khai sáng của Kant nhiều hơn, là mối quan tâm trung tâm của Kant. Quá trình khai sáng và sapere aude đã diễn ra thế nào trên mảnh đất xứ sở buổi chiều, một đề tài rất thú vị?[1] Bên cạnh đó là phần nhận thức luận trong tác phẩm Phê phán, cũng như mối liên hệ nó với triết học nhận thức luận của các nhà vật lý lý thuyết đầu thế kỷ XX, đặc biệt của Einstein. Do những khám phá vĩ đại của Einstein, và những mối quan tâm đặc biệt của ông đối với triết học, Einstein được xem là đại biểu đã có nhiều ảnh hưởng đến triết học nhận thức luận hơn ai hết. Vì thế sự tương tác giữa khoa học và triết học là một hồ sơ rất thú vị cho những người nghiên cứu triết học cũng như khoa học tự nhiên.

Nếu Newton và Principia đã gây ra cuộc cách mạng tư duy ở thế kỷ XVIII mà Kant là hiện thân, thì các nhà vật lý của đầu thế kỷ XX, với cuộc cách mạng vật lý vĩ đại chưa từng thấy của họ tác động sâu rộng vào thế giới vĩ mô cũng như vi mô, đã làm một cuộc soi sáng và tinh chỉnh thêm quan hệ giữa triết học và khoa học, mà Einstein là đại biểu. Mối quan hệ tư tưởng giữa Kant và Einstein là đề tài được bàn luận nhiều nhất. Kant muốn khắc phục Hume, rồi sau đó Einstein muốn khắc phục cả hai. Làm sao có thể đi từ dữ kiện thực nghiệm hay cảm quan lên đến một lý thuyết phù hợp, đó là mối quan tâm hàng đầu của Kant lẫn Einstein. Bản chất của con đường tư duy đó ra sao? Như sự thật sẽ làm rõ, hai con đường của họ có những chỗ khác nhau căn bản.

Châu Âu là mảnh đất mà triết học và khoa học giao thoa lẫn nhau trở thành màu mở. Càng về sau, khoa học càng đóng vai trò tiên phỏng bởi sự tiếp cận trực tiếp giới tự nhiên của nó ngày càng sâu sắc. Khoa học không còn là siêu hình học hay tư biện thuần túy. Nhưng Einstein vẫn là người bảo vệ lý do tồn tại của siêu hình học như cái bể những giải pháp khả hữu của nó cho những bài toán thực tế.

Xét rằng Việt Nam là mảnh đất nơi triết học nói chung, khoa học và sự giao thoa của chúng còn khá khiêm tốn, tôi tin rằng phần nhận thức luận của Kant và Einstein được trình bày dưới đây là rất thú vị.

Tôi rất ngưỡng mộ Kant, mà khẩu hiệu tinh thần-đạo đức của ông như mãi mãi khắc sâu trong tôi qua câu nói bất hủ của ông tôi thường lập lại với chính mình: Hai điều chiếm ngự tâm tư với sự khâm phục và kính sợ ngày càng nhiều hơn, khi càng suy nghĩ nhiều hơn, lâu hơn về chúng: Bầu trời đầy sao trên tôi và quy luật đạo đức trong tôi.

Đã ngót 40 năm đổi mới. Các tác phẩm của Kant, thông qua các bản dịch công phu và sự truyền bá không mệt mỏi của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, có đánh dấu một thời kỳ phát triển của lý tính ở VN chăng? Tôi tin là có. Kant nằm trong tư duy tự phê phán và học hỏi của con người, lần mò để “ra khỏi sự không trưởng thành tự chuốc lấy” của con người theo phương thức “trial – error”. Giống như Adam Smith cũng nằm trong tư duy đổi mới kinh tế, giải phóng con người ra khỏi sự ràng buộc để họ tham gia vào thị trường từng bước nhiều tự do hơn. Việt Nam là “giao lộ” của hai cuộc khai sáng: Immanuel Kant và Adam Smith. Một cách không ý thức. Sự phát triển tiến tới phồn vinh luôn luôn đi kèm với hai loại khai sáng của Kant và Smith như một quy luật.

Còn người Nhật thời Minh Trị, những người ra sức ráo riết xây dựng một quốc gia mới theo phong cách phương Tây vào những thập niên 1860-90 của thế kỷ XIX, họ có Kant hay không? Tìm lại trong những bài viết về chủ đề văn minh-khai sáng (bunmei kaika) của thời Minh Trị, hoặc trong Tạp chí Khai minh Nhật Bản Meiroku Zasshi, cơ quan ngôn luận của nhóm khai minh Nhật Bản hàng đầu lúc bấy giờ, tôi không thấy từ khóa Kant. Dường như họ không bàn về Kant. Bàn về Rousseau thì có, vì vấn đề giáo dục cấp bách. Họ bàn về Adam Smith, Friedrich List, dĩ nhiên, vì liên quan đến kinh tế. Hay về Darwin, vì ý thức sống còn của họ trong cuộc tiến hóa đang hồi khắc nghiệt kiểu “cá lớn nuốt cá bé” diễn ra. Nhưng dù có hay không, họ chính là những người hơn ai hết “dám biết”, Sapere aude!, “dám sử dụng cái đầu của mình mà không cần có sự dẫn dắt của người khác”, không sợ thành kiến, kiêng kỵ, đúng theo khẩu hiệu khai sáng của Kant. Ngay từ đầu họ đã ghi “Tri thức phải được tìm kiếm khắp nơi trên thế giới, để mở rộng và tăng cường quyền lực của đế chế” vào Năm điều thề ước 1868 của Hoàng Đế Minh Trị. Không những thế, họ biết cách thực hành khai sáng, biết làm gì để thay đổi tinh thần của một quốc gia nghìn năm chịu ảnh hưởng văn minh Trung Quốc sâu đậm để tiến lên thành một cường quốc như phương Tây, theo đúng giấc mơ họ.[2]

Tác phẩm của Kant là mênh mông bao gồm  rất nhiều chủ đề lớn. Ở đây tác giả chỉ muốn giới hạn vào hai đề tài được đề cập ở trên, cũng là hai đề tài tác giả quan tâm hàng đầu: nhận thức luận trong khoa học và khai sáng. Một vài trích dẫn chính còn thiếu nguồn gốc, bởi tác giả quên không ghi liền rồi sau đó tìm lại chưa ra, nhưng tính chính xác của chúng là được bảo đảm. Chắc chắn còn nhiều sơ sót không thể tránh khỏi. Xin độc giả đọc với sự rộng mở.

***

Hai điều chiếm ngự tâm tư với sự khâm phục và kính sợ ngày càng nhiều hơn, khi càng suy nghĩ nhiều hơn, lâu hơn về chúng: Bầu trời đầy sao trên tôi và quy luật đạo đức trong tôi.

Thời đại chúng ta là thời đại đích thực của phê phán (Kritik) mà tất cả phải chịu sự phục tùng.

— Immanuel Kant

Cái vĩnh hằng không thể hiểu được ở thế giới là tính chất hiểu được của nó./ Mối quan hệ hỗ tương giữa nhận thức luận và khoa học thuộc loại kỳ lạ. Chúng cần đến nhau. Nhận thức luận không tiếp xúc với khoa học trở thành sơ đồ rỗng (leeres Schema). Khoa học không có nhận thức luận – trong chừng mực tưởng tượng được – là thô thiển và lộn xộn.

— Albert Einstein

 

Immanuel Kant (1724 – 1804). Chân dung màu dầu (wikipedia)

[1]

Từ tình yêu bầu trời đầy sao

Immanuel Kant là một triết gia khai sáng lớn (Aufklärer) của châu Âu thế kỷ XVIII, in rất đậm dấu ấn lên thời đại của ông. Ông sinh ngày 22 tháng 4, năm 1724 tại Königsberg (nay là Kaliningrad của Nga) và mất tại đó ngày 12 tháng 2 năm 1804. Königsberg, một thành phố miệt cận Đông nơi vua Phổ đầu tiên đã từng tự đăng quang, cũng là nơi sinh trưởng của nhiều tên tuổi lớn khác của Đức: David Hilbert, Gustav Kirchhoff và Arnold Sommerfeld. Hilbert và Minkowski từng học Đại học Albertus ở đây.

Ông là người con thứ tư trong 9 người con trong một gia đình nghèo của một người thợ thủ công nghề đóng móng ngựa. Ông mất mẹ năm 13 tuổi và mất bố năm 22. Mẹ ông là người đã ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển con người ông:

Tôi không bao giờ quên được mẹ tôi. Bà đã gieo trồng và nuôi dưỡng hạt giống đầu tiên của cái thiện trong tôi, mở trái tim tôi trước những ấn tượng đầu tiên của tự nhiên; Bà đánh thức và mở rộng các khái nhiệm của tôi, và những bài dạy của Bà đã có một ảnh hưởng liên tục và tốt lành lên đời tôi.

Ông sớm có thiên hướng là một triết gia, lớn lên và được giáo dục trong trường phái Leibniz được diễn giải và hệ thống hóa bởi Christian Wolff, đồng thời tỏ ra có quan tâm lớn về khoa học. Năm 22 tuổi Kant đã khẳng định: “Tôi đã vạch ra con đường cho tôi mà tôi sẽ giữ lấy. Tôi sẽ đi con đường đó và không có gì có thể ngăn tôi tiếp tục đi trên đó.”

Königsberg với nhà của Kant bên tray trái và lâu đài ở phía sau

Kant là người muốn đi tìm những chân lý tuyệt đối, những định luật bao trùm, giống như Max Planck sau này, và muốn biến triết học thành hoàn toàn có tính khoa học, như khoa học của Newton đang có sức ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa châu Âu. Và Kant cũng muốn như thế đối với siêu hình học.

Tình yêu đầu tiên của ông là Khoa học Newton. Sự thành công của toán học và khoa học từ giữa thế kỷ XVII đã thu hút và truyền cảm hứng cho ông mãnh liệt, thôi thúc ông làm một cái gì tương tự với triết học: đạo đức học, nhận thức luận, và đặc biệt siêu hình học.

Kant có ảnh hưởng quan trọng trong triết học đặc biệt trong những lãnh vực nhận thức luận, đạo đức học, thần học, lý thuyết chính trị và mỹ học. Con người nhỏ nhắn này, suốt đời không gia đình, không rời xa thành phố mình quá 10 cây số, đã trở thành nhà tư tưởng của thế giới. Ông đã làm một cuộc cách mạng Copernic trong triết học, tương tự như cuộc cách mạng Copernic trong khoa học vật lý với Galilei Kepler và Newton.

Nửa cuộc đời đầu ông nghiên cứu về thiên văn vũ trụ. Năm 31 tuổi (1755) ông xuất bản tác phẩm quan trọng Lịch sử tổng quát về tự nhiên và lý thuyết về bầu trời (Allgemeine Naturgeschichte und Theorie des Himmels), trong đó – dựa vào Newton – ông tìm cách giải thích về sự hình thành và phát triển của cả vũ trụ một cách hệ thống. Ông đặt giả thuyết hệ thống mặt trời đã hình thành và tiến hoá từ một khối sương mù quay ban đầu, và giả thuyết rằng ngoài dảy ngân hà còn có nhiều thiên hà khác nữa. các tinh vân (nebula) chỉ là những thiên hà chứa đựng vô số vì sao như Ngân hà chúng ta. Đó là phần tình yêu của ông đối với thiên nhiên, phần “Bầu trời đầy sao trên tôi” (Der bestirnte Himmel über mir).

Nửa cuộc đời sau (từ năm 40 tuổi trở đi) ông chuyển hướng nghiên cứu sang đối tượng con người. “Tôi học tôn vinh con người” (Ich lerne die Menschen ehren). Các tác phẩm chính của giai đoạn quan trọng này là:

  1. Kritik der reinen Vernunft (Phê phán lý tính thuần túy, 1871)[3]
  2. Prolegomena zu einer jeden künftigen Metaphysik, die als Wissenschaft wird auftreten können (Sơ luận về bất cứ một siêu hình học tương lai nào có thể xuất hiện như khoa học, 1783) (Giải thích và tóm tắt của 1)
  3. Beantwortung der Frage: Was ist Aufklärung? (Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?, 1784)
  4. Kritik der praktischen Vernunft (Phê phán lý tính thực hành, 1788; 1789 Cách mạng Pháp)
  5. Kritik der Urteilskraft (Phê phán năng lực phán đoán, 1790)
  6. Religion innerhalb der Grenzen der blossen Vernunft (Tôn giáo trong những giới hạn của lý trí đơn thuần, 1793)
  7. Der Streit der Fakultäten (Sự tranh cãi giữa các phân khoa, 1798)
  8. Zum ewigen Frieden (Hướng đến Hoà bình vĩnh cửu, 1795)

 

Trang bìa của tác phẩm

“Kritik der reinen Vernunft” – Phê phán lý tính thuần túy, năm 1871.

 

[8] 

Khai sáng là gì? (Was ist Aufklärung?)

Phiên bản năm 1799 của Was ist Aufklärung? (Wikimedia)

Khai sáng là gì? là một tiểu luận của Kant được công bố tháng 12 năm 1784 trên tạp chí xuất bản hàng tháng Berlinische Monatsschrift, trang 481-494, để trả lời câu hỏi của mục sư Johann Friedrich Zöllner Khai sáng là gì? xuất hiện trên cùng tờ báo một năm trước. Zöllner nhận thấy đạo đức đang bị suy thoái, và từ “khai sáng” đang “làm rối trí óc và trái tim” của con người. Vì thế ông đưa ra từ khóa “Khai sáng là gì?” để mong nó được làm sáng tỏ. Trong tiểu luận này Kant cung cấp cho độc giả định nghĩa cho đến hôm nay vẫn còn là kinh điển về khai sáng. Với câu hỏi của linh mục sư Zöllner, cuộc bàn cãi về đề tài khai sáng bắt đầu ở Phổ. Hai tháng trước đó, nhà ngữ học Moses Mendelssohn đã cung cấp một tiểu luận với cái tựa Khai sáng có nghĩa là gì? Bài tiểu luận ra đời vào lúc phong trào Khai sáng châu Âu đã làm gần hết công việc của họ, nhưng nó đã tạo được dấu ấn đặc biệt, đến hôm nay không bao giờ mất đi tính thời sự của nó.

Kant nêu định nghĩa của khai sáng, như chúng ta thấy ngay trong những dòng đầu dưới đây, rất ấn tượng, rồi chỉ ra những lý do khiến con người gặp nhiều khó khăn trong việc tự khai sáng, như tính lười biếng, hèn nhát, hay bị các thế lực giám sát cố tình làm cho sợ hãi và nản lòng. Khai sáng cần tự do như con người cần khí trời, và Kant tin rằng, nếu có tự do đầy đủ, không bị cầm giữ một cách giả tạo, con người sẽ tự khai sáng được. Đó là lộ trình phát triển tất yếu của con người.

 

Kant trong một buổi ăn trưa với các bạn (Wikimedia). Ông là giáo sư ở Đại học Königsberg, một đại học ở cận đông của Phổ nhưng rất nổi tiếng. Ông có một người hầu tên Lampe, một cựu quân nhân. Ông Lampe thường kể cho Kant nghe những chuyện chết chóc ghê gớm của chiến tranh, có thể đã góp phần vào tác phẩm “Về hòa bình vĩnh cữu” của Kant.

Ý thức tình hình phong trào khai sáng tuy đang lên mạnh mẽ nhưng có thể bị đàn áp ở nhiều nơi trên nước Đức, Kant đưa ra định nghĩa của Khai sáng một cách thận trọng, khuyên độc giả của mình nên khai sáng một cách hòa bình, cách mạng tức thời không thay đổi được lề lối tư duy cũ bằng một cuộc cải cách về tư duy. Người ta gọi ông là “nhà khai sáng ôn hòa”. Nhưng câu trả lời của Kant trên Berlinische Monatsschrift lại được coi là câu trả lời nổi tiếng nhất cho câu hỏi của tờ báo. Dưới đây là một số đoạn ấn tượng, cũng là phần chính của bài trả lời.

Trích đoạn:

Khai sáng là sự thoát ra (giải phóng) của con người khỏi sự chưa trưởng thành tự chuốc lấy của mình. Sự chưa trưởng thành là sự bất lực sử dụng trí năng của mình mà không có sự dẫn dắt của một người khác. Sự chưa trưởng thành là tự chuốc lấy khi nguyên nhân của nó không nằm trong trí năng, mà nằm ở sự thiếu quyết tâm và can đảm để sử dụng trí óc mình mà không cần sự dẫn dắt bởi một người khác. Sapere aude! Hãy có can đảm để sử dụng trí óc của riêng bạn mà không cần sự dẫn dắt của người khác! do đó là phương châm của Khai sáng.

Lười biếng và hèn nhát là những nguyên nhân tại sao một bộ phận rất lớn con người vẫn muốn không trưởng thành suốt đời, sau khi họ được tự nhiên giải phóng khỏi sự dẫn dắt từ bên ngoài; và đó là lý do tại sao người khác dễ dàng đóng giả vai làm người giám hộ của họ. Không trưởng thành là một điều thoải mái. Nếu tôi có một cuốn sách nghĩ dùm cho tôi, một mục sư hành động dùm cho lương tâm tôi, một bác sĩ kê toa cho chế độ ăn uống của tôi, v.v., thì tôi không cần phải tự nỗ lực gì cả. Tôi không phải suy nghĩ nếu tôi đơn giản có thể trả tiền; những người khác sẽ đảm nhận công việc gây phiền nhiễu cho tôi. Thực tế là đại đa số mọi người (bao gồm cả giới đẹp) coi bước tiến trưởng thành, ngoài khó khăn, là còn rất nguy hiểm: những người giám hộ, những người có nhiệm vụ chăm sóc tốt cho họ, thực tế đã lo cho điều đó an bày rồi. […]

Do đó, rất khó cho mỗi cá nhân tự lao động để thoát khỏi tình trạng chưa trưởng thành, cái đã gần như trở thành bản tính thứ hai của anh ta. Anh ta thậm chí còn yêu thích nó, và thực sự không thể sử dụng lý trí của mình vì anh ta không bao giờ được phép thử nó. Các quy định và giáo điều, những công cụ cơ học được thiết kế cho việc sử dụng hợp lý hoặc sự lạm dụng những năng khiếu tự nhiên của anh ta, là những gông cùm của một sự không trưởng thành vĩnh viễn. Bất cứ ai dù vất bỏ chúng vẫn phải thực hiện một cú nhảy không an toàn qua cái hố hẹp nhất, bởi vì anh ta không quen với việc di chuyển tự do như thế. Do đó, chỉ có một số ít người thành công, bằng cách vun xới đầu óc họ, thoát ra khỏi sự không trưởng thành và bước đi một cách vững chắc.

Một công chúng có thể tự khai sáng, đó là điều có thể; vâng, nếu người ta chỉ để cho họ có tự do, thì khai sáng gần như là điều không thể tránh khỏi. Bởi vì sẽ luôn có một số người tư duy độc lập, ngay trong số những người giám hộ của đám đông, sau khi vứt bỏ ách thống trị của sự không trưởng thành, sẽ truyền bá tinh thần của một sự đánh gía hợp lý giá trị của bản thân và thiên chức của mỗi con người là tự suy nghĩ. Điều đặc biệt ở đây là công chúng, những người trước đó đã bị họ đưa vào ách thống trị, sau đó lại buộc chính họ phải tiếp tục chịu ách thống trị đó, khi một số người bảo vệ của họ, những người không có khả năng khai sáng, đã kích động họ làm như vậy; việc gieo rắc định kiến là rất có hại, vì cuối cùng chúng sẽ trả thù những người đã gieo rắc chúng, hoặc tiền thân của họ. Cho nên một công chúng chỉ có thể từ từ đạt đến khai sáng. Bằng một cuộc cách mạng, một chế độ chuyên chính cá nhân có thể biến mất, cũng như sự đàn áp bức có tính hám lợi hay tham quyền, nhưng không bao giờ có một cuộc cải cách đích thực về lề lối tư duy. Những định kiến mới sẽ phục vụ những nguyên tắc chủ đạo của đám đông không suy nghĩ, cũng giống như những cái cũ đã từng làm.

Khai sáng không đòi hỏi gì khác hơn là Tự do; là loại vô hại nhất trong tất cả những gì có thể có nghĩa là “tự do”, cụ thể là: sự Sử dụng công khai lý tính của mình trong tất cả các vấn đề. Nhưng giờ tôi nghe thấy tiếng kêu từ mọi phía: đừng cãi lý! Viên sĩ quan nói: đừng lý luận, hãy rèn luyện! Nhà thu thuế bảo: đừng lý luận, hãy nộp tiền! Vị linh mục kêu: đừng lý luận, mà hãy tin! (Chỉ có một ông vua trên thế giới bảo: tranh luận nhiều như ngươi muốn và về những gì ngươi muốn; nhưng hãy nghe lời!) Ở đây có sự hạn chế tự do ở khắp mọi nơi. Nhưng loại hạn chế nào có hại cho khai sáng? Và loại nào thì không, thậm chí còn thúc đẩy nó phát triển? – Tôi trả lời: việc sử dụng công khai lý tính của anh ta phải luôn luôn được tự do, và nội điều đó có thể mang lại khai sáng cho con người. […]

Nếu câu hỏi bây giờ là: Có phải chúng ta đang sống trong một thời đại đã được khai sáng hay không? thì câu trả lời là: Không, nhưng trong một thời đại của khai sáng. Như tình hình hiện nay cho thấy, nhìn chung, con người còn lâu mới có năng lực sử dụng lý tính của mình trong những đề tài tôn giáo một cách tự tin và chính xác mà không cần sự dẫn dắt của người khác. Nhưng, chúng ta có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng môi trường đã mở ra, để họ hoạt động tự do trong đó, và rằng các trở ngại cho cuộc khai sáng chung, hay của sự thoát ra của họ khỏi sự chưa trưởng thành tự chuốc lấy đã dần dần giảm đi. Theo cách nhìn này thì thời đại chúng ta là thời đại của khai sáng, hay là thế kỷ của Friedrich (Đại đế).

Một quân vương, nếu không tự thấy không xứng đáng với phẩm cách của mình khi nói rằng ông ta xem nhiệm vụ của mình là không ra lệnh điều gì cho dân chúng trong những vấn đề tôn giáo, mà là dành cho họ hoàn toàn tự do, do đó ông ta từ chối ngay cả cái tên kiêu ngạo của khoan dung, thì ông chính là người đã được khai sáng, và xứng đáng được thế giới biết ơn và hậu thế ca ngợi là người đầu tiên giải phóng nhân loại ra khỏi tình trạng chưa trưởng thành, ít nhất từ phía chính quyền, và để mỗi người được tự do sử dụng lý tính mình trong tất cả những vấn đề lương tâm của anh ta. Dưới triều của ông, các mục sư đáng kính, với tư cách là học giả, và độc lập với nhiệm vụ của họ trong chức vụ, được phép trình bày tự do và công khai các ý kiến và nhận thức của họ chệch khỏi khuôn khổ giáo điều trước thế giới để kiểm tra; và điều này cũng đúng cho các cá nhân khác, những người không bị ràng buộc bởi chức vụ. Tinh thần tự do này lan tỏa ra ngoài (phạm vi nước Phổ), ngay cả ở những nơi nó phải chiến đấu với những trở ngại bên ngoài từ những chính quyền không thông hiểu. Đối với một chính quyền như thế có một tấm gương chiếu sáng (Phổ của Friedrich) nói rằng, tự do không gây ra chút lo lắng nào về trật tự công cộng và sự thống nhất của cộng đồng. Con người tự lao động để đưa mình dần dần ra khỏi tình trạng thô thiển, nếu người ta không cố ý ngăn cản một cách giả tạo để giữ họ lại trong đó.

Tôi nhấn mạnh quan điểm chính của khai sáng – của sự thoát ra của con người khỏi tình trạng chưa trưởng thành tự chuốc lấy – đặc biệt trong các vấn đề tôn giáo: bởi vì, theo quan điểm của nghệ thuật và khoa học, các nhà cai trị của chúng ta không quan tâm đóng vai trò người giám hộ đối với các thần dân của họ. Trên hết, sự giám hộ trong tôn giáo không chỉ là tai hại nhất, mà còn đáng hổ thẹn nhất. Nhưng cách nghĩ của một nguyên thủ quốc gia, người ủng hộ tự do trong khoa học và nghệ thuật, thậm chí còn đi xa hơn: vị ấy nhận ra rằng ngay cả trong quan điểm về lập pháp của mình, không có gì nguy hiểm khi cho phép các thần dân của mình sử dụng công khai lý tính của họ, và trình bày các suy nghĩ của họ về những đề nghị tốt hơn, thậm chí đi kèm với một sự phê phán thẳng thắn, về luật pháp hiện hành; chúng ta có một ví dụ tuyệt vời về điều này (tự do), và chưa có vị quân vương nào đi trước vị quân vương mà chúng ta ngưỡng mộ.

Nhưng cũng chỉ có ai tự khai sáng, là người không biết sợ bóng tối, nhưng đồng thời chỉ huy một đội quân đông và kỷ luật trong tay để bảo đảm trật tự công cộng, có thể nói những gì mà một nhà nước tự do không dám làm: Hãy lý luận nhiều như các bạn muốn, và về những gì các bạn muốn; nhưng hãy vâng lời! Do đó ở đây người ta thấy một tiến trình kỳ lạ, bất ngờ, của sự đời; giống như thường lệ, nếu nhìn tiến trình ở quy mô lớn, thì bạn sẽ thấy hầu hết mọi thứ đều nghịch lý. Một mức độ tự do dân sự lớn hơn dường như có lợi cho tự do tinh thần của dân chúng, nhưng lại đặt ra những giới hạn không thể vượt qua được. Tuy nhiên một mức độ tự do dân sự ít hơn lại tạo ra không gian để tinh thần tự do mở rộng hết sức của nó. Và khi tự nhiên, dưới cái vỏ cứng, bóc ra cái nhân mà nó đã chăm sóc chu đáo nhất – đó là sự khao khát và tiếng gọi của tư duy tự do – thì điều này dần dần tác động lên cách tư duy của người dân (bằng cách đó, người dân sẽ có nhiều năng lực hơn để hành động trong tự do) và cuối cùng cũng có tác động lên các nguyên tắc của chính quyền. Chính quyền sẽ thấy điều đó có ích lợi cho chính họ, và đối xử con người, bây giờ đã hơn cái máy, theo đúng phẩm giá của anh ta.

(Hết trích)

Cho nên Hãy dám biết, và Hãy có can đảm sử dụng trí tuệ của chính mình là khẩu hiệu của Khai sáng.  Hãy dám đi tìm tri thức, sử dụng quyền tự do của mình để trưởng thành. Kant tin vào sự trưởng thành của con người như những công dân trách nhiệm. Ông tin tưởng: “Con người tự lao động để đưa mình dần dần bước ra khỏi tình trạng thô thiển, nếu người ta không cố ý ngăn cản một cách giả tạo để giữ con người lại trong đó.” Đó là sự tự giải phóng bằng tri thức. Học để biết nhiều hơn, có nhiều lý tính hơn, để tự do nhiều hơn, đó mới là mục đích cuối cùng. Có tư duy (Denken), hàm chứa phê phán, mới có khai sáng và tự do. Ngay cả tự do cũng chính là tư duy; ai gạt bỏ tư duy và nói về tự do, người đó không biết anh ta nói gì, như Hegel nói. Thật ra, lịch sử của châu Âu là lịch sử của sự dám biết, dám tiếp thu sự thật, ngày càng diễn ra dồn dập. Cao điểm là thế kỷ XVII. Sống trong thời đại chi phối chặt chẽ bởi tôn giáo, nhưng các nhà khoa học dám tư duy, dám biết để làm cuộc cách mạng khoa học ngược lại các tín điều tôn giáo. Rổi hậu thế ở thế kỷ XVIII dám tiếp thu mạnh mẽ để thắp lên ngọn lửa khai sáng cho cả lục địa.

Kant không phải là nhà cách mạng theo nghĩa thường. Ông muốn làm những thay đổi tinh tế hơn trong trí óc của con người. Ông là người thận trọng trong chính trị như đã nói. Thời đại nào cũng là sự trộn lẫn của những khuynh hướng không thể hòa hợp với nhau được: lý tính và mê tín. Những thời đen tối, thô thiển nhất cũng có các nhà triết học của chúng. Những thời sáng chói nhất của lý tính và văn hóa cũng vẫn còn chứa nhiều tàn dư của mê tín. Đó là điều Voltaire diễn tả khi ông bảo rằng thế kỷ XVIII là thời đại của cả hai: khai sángmê tín. Chưa kể đến những quyền lực bảo thủ đang ngự trị. Kant cũng diễn tả sự dè dặt khi ông nói, thế kỷ XVIII không phải là thời đại đã được khai sáng, mà là thời đại của khai sáng. Kant may mắn khi tác phẩm đột phá của ông, Phê phán lý tính thuần túy, được xuất bản năm 1781 trong thời của Frederick Đại đế, với thái độ “Hãy để họ nghĩ những gì họ thích, miễn là họ tuân lệnh”. Đến thời sau của cháu trai của ông, Frederick William II (1786-97), dưới tác động bạo động của cách mạng Pháp, ít có sự khoan dung hơn và Kant bị cấm dạy hoặc viết về tôn giáo.

Ở phương Đông, quốc gia đầu tiên tiến hành khai sáng theo nghĩa của Kant là Nhật Bản. Ngay từ đầu Hoàng đế Minh Trị đã công bố Năm điều thề ước 1868 cho thần dân, xem như tuyên ngôn hành động trong tương lai của chính quyền và thể chế mới, trong đó có ghi: Tri thức phải được tìm kiếm khắp nơi trên thế giới, để mở rộng và tăng cường quyền lực của đế chế. Và họ đã làm đúng như thế. Mấy chục năm tới, cả giới tinh hoa, đứng ngoài hay nằm trong chính quyền, đều bôn ba đi tìm tri thức từ phương Tây để thực hiện văn minh và khai sáng, bunmei-kaika, cho Nhật Bản.

***

Marx gọi triết học Kant là “Triết học Đức của Cách mạng Pháp”. Đó là một cuộc cách mạng bằng triết học, bằng sức mạnh tư duy, bằng sự phê phán toàn diện cái cũ, giống như cuộc cách mạng Pháp đã làm bằng sức mạnh của nhân dân. Nhà thơ Heinrich Heine nói rõ hơn:

Với cuốn sách này (Phê phán lý trí thuần tuý)…bắt đầu một cuộc cách mạng tinh thần ở Đức với những nét tương tự đặc biệt nhất với cuộc cách mạng vật chất ở Pháp….Ở hai bên bờ sông Rhein chúng ta thấy cùng một cuộc đoạn tuyệt với quá khứ, người ta hủy bỏ hết mọi sự kính trọng trước truyền thống; như ở đây tại Pháp mọi quyền lợi, thì ở đó tại Đức mọi ý tưởng phải tự biện minh mình, và như ở đây chế độ quân chủ, cái cột trụ của trật tự xã hội cũ, thì ở đó thần luận, cái cột trụ của chế độ tinh thần cũ, sụp đổ.

Nếu ở Pháp người ta làm cuộc giải phóng bằng sức mạnh cách mạng của quần chúng thì ở Đức Kant làm cuộc tự giải phóng phóng của con người bằng tri thức, tư duy. Tiếng sấm cách mạng của Pháp đã rền vang trong triết học và văn hoá Đức, không phải chỉ trong chốc lát rồi im. Triết học và văn hóa Đức thế kỹ 18 đã trở thành nền tảng âm ỉ hay bộc phát cho sự phát triển xã hội Đức ở những thế kỷ sau. Triết học Kant đặc biệt trở thành người đồng hành trợ lực cho khoa học.

Kant tại giảng đường

 

Nguyễn Xuân Xanh

Viết tháng 3 năm 2004, và được

bổ sung đáng kể cuối 2019/ đầu 2020,

kết thúc trong những ngày dịch vi rút CoVid-19; xem lại tháng 2, 2025.

Ghi chú

[1] Xem thêm bài viết Adam Smith và ảnh hưởng của Isaac Newton lên ông của tác giả, bản thảo công bố trong dịp tới.

[2] Xin xem thêm bài viết của tác giả, Khai sáng Scotland, Adam Smith, Nhật Bản và Trung Quốc trong Kỷ yếu Adam Smith để thấy người Nhật đi tìm khai sáng như thế nào.

[3] Các tác phẩm 1, 4, và 5 đã được nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn chuyển ngữ và chú giải công phu.