Sách KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM
Đồng chủ biên:
Trần Văn Thọ – Phạm Chi Lan – Đậu Anh Tuấn – Vũ Kim Hạnh
![]()
Chung tay thúc đẩy sự phát triển KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM – Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh.
— Phạm Chi Lan, kinh tế gia

Lời nói đầu
Chúng tôi rất vui mừng được giới thiệu tác phẩm KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM ra đời kịp thời để tiếp sức cho động lực phát triển của doanh nghiệp tư nhân trong sự nghiệp làm cho “dân giàu nước mạnh”. Trong cuộc mưu sinh của quốc gia, không có lý do gì kinh tế tư nhân lại đứng ngoài, hay chỉ tham gia giới hạn vì sự cản trở thể chế và “thủ tục”. Nếu có “chiến tranh nhân dân” (Volkskrieg), khái niệm của Clausewitz, thì cũng phải có “kinh tế nhân dân”, nghĩ sâu xa là hệ quả của quan điểm kinh tế chính trị của Adam Smith từ hai trăm năm mươi năm trước. Nước Phổ thế kỷ XIX đã áp dụng chiến tranh nhân dân của Clausewitz để giải phóng đất nước khỏi sự chiếm đóng của Napoleon, đồng thời vua quan họ cũng đưa ra chương trình cải cách kinh tế mà bước đầu tiên, cũng là bước ngoặt lịch sử, giải phóng nhân dân khỏi chế độ nông nô và những trói buộc từ giới quý tộc đất đai, để con người có đầy đủ tự do bước vào nền kinh tế thị trường như chủ thể bình đẳng. Không thể khác hơn. Đó là mệnh lệnh của thời đại, không thì tiêu vong, điều chế độ quân chủ khắt khe đã chứng kiến. Đó chính là sự giải phóng mang tính Adam Smith.
Vấn đề còn lại là “cởi thêm bao nhiêu lớp trói buộc”, điều có thể đọc trên báo hàng ngày, để người dân muốn kinh doanh có thể thực hiện sự chọn lựa của mình một cách dễ dàng. Sau khi có được tự do, các doanh nhân tương lai đối mặt với một vấn đề thứ hai: Sự trang bị cho mình kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật sản xuất, thị trường, vốn, năng lực chiếm lĩnh thị trường. Vấn đề trang bị kiến thức công nghiệp không phải tự nhiên mà có. Thực tế đây là vấn đề lớn. Việt Nam chưa thực hiện công nghiệp hóa giai đoạn đầu (công nghiệp nhẹ) một cách intensive, nên năng lực công nghiệp còn rất giới hạn. Hãy xem vấn đề “nội địa hóa” cho ngành ô tô. Ở đây thị trường có sẵn trên đất nước, nhưng công nghiệp phát triển phần phụ trợ cho đến nay lại không phát triển như được chờ đợi trên giấy tờ.
Khi Tổng thống Park Chung Hee tiến hành cuộc công nghiệp hóa công nghiệp nặng và hóa chất (HCI, The Heavy and Chemical Industry), ông kêu gọi người dân hãy thực hiện cuộc “khoa học hóa” do nhu cầu cao hơn. Ông nói trong cuộc họp báo năm mới của mình năm 1973:
Tôi tuyên bố “Chính sách Công nghiệp Nặng và Hóa chất mà thông qua đó sau đây, chính phủ sẽ tập trung vào sự phát triển của các ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng. Tôi muốn kêu gọi nhân dân cả nước hãy bắt đầu một chiến dịch cho chương trình khoa học hóa quốc gia (national scientization). Tôi kêu gọi mọi người học hỏi các kỹ năng công nghệ, làm chủ và phát triển chúng. . . Nếu chúng ta muốn đạt được mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ đô la vào đầu năm 1980, các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất phải vượt quá 50% tổng hàng hóa xuất khẩu.
Ba trăm năm trước, Descartes đã từng quảng bá cho cái nhìn thế giới qua lăng kính scientia, khoa học, tri thức. Francis Bacon đưa ra triết lý rất ảnh hưởng, rằng con người hãy làm chủ tự nhiên để phục vụ hạnh phúc mình, bằng cách nghiên cứu những định luật của nó để dẫn dắt nó. Kiến thức, know how, expertise khoa học không phải tự dưng mà có. Cá nhân riêng lẻ cũng khó thực hiện, mà phải có các định chế, cơ sở hạ tầng khoa học, tổ chức giáo dục, đào tạo, mua bán. Việt Nam chưa có phong trào “đại chúng hóa khoa học” như Trung Quốc từng có trong những năm đổi mới. Họ biết khoa học là định mệnh của họ. Không có công nghiệp hóa nào mà đi ra khỏi quỹ đạo của khoa học, kỹ thuật. Không có quốc gia giàu có nào mà không có nhiều khoa học trong văn hóa.
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng là lực lượng nòng cốt của kinh tế đất nước. Hầu hết doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế; phần lớn có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao; tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, nhưng chủ yếu là do: Tư duy, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, pháp luật còn vướng mắc, bất cập; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa được quan tâm đúng mức; quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh chưa được bảo đảm đầy đủ. Kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn, công nghệ, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao. Một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả và khó tiếp cận; chi phí kinh doanh còn cao. (Nghị quyết 68)
Hàn Quốc và Đài Loan đã định chế hóa công nghệ bằng cách thiết lập các chương trình phát triển công nghệ. Ví dụ, chính phủ Hàn Quốc đã thành lập Cơ quan Khoa học và Công nghệ với tư cách là một ban của Văn phòng Thủ tướng Chính phủ vào năm 1967. Vị trí trung tâm của nó trong bộ máy nhà nước mang lại cho nó quyền lực và nó có quyền tự do thuê nhân viên cấp cao ngoài các quy tắc phục vụ dân sự của nhà nước. Bên cạnh đó, chính phủ đã thiết lập một mạng lưới các viện nghiên cứu của chính phủ (GRI, Government-funded Research Institute), như Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) và Viện Khoa học Tiên tiến Hàn Quốc (KAIS), vào cuối những năm 1960. Các viện này có mối kết nối mạnh mẽ trực tiếp đến Tổng thống Park và các cấp cao nhất của quân đội; và nhận được sự trợ giúp rộng rãi từ Hoa Kỳ. Các GRI lấy ‘nội địa hóa kiến thức nước ngoài’ làm mục tiêu cốt lõi, nghĩa là đưa kiến thức nước ngoài vào đầu óc người dân địa phương, theo tinh thần của phương châm Hàn Quốc, Chúng tôi không bao giờ học bất cứ điều gì đến hai lần.
Còn Đài Loan thì thành lập tổ chức Phát triển Công nghiệp nằm trong cơ quan Kinh tế, để hoạt động như một dịch vụ mở rộng công nghiệp (với đội ngũ khoảng 150 người vào đầu những năm 1980, phần lớn là các kỹ sư). Trong nhiều thập kỷ sau liên tiếp, các kỹ sư được chia thành các nhóm ngành, đi khắp chiều dài Đài Loan (hợp đồng công việc của họ yêu cầu họ phải rời khỏi văn phòng rất nhiều ngày mỗi tháng), thăm các nhà máy, cho tư vấn, lắng nghe các vấn đề, và phản hồi lại các cuộc thảo luận chính sách.
Chính quyền Đài Loan bắt đầu thể chế hóa một tổ hợp Khoa học và Công nghệ cùng lúc với Hàn Quốc. Cả hai đều quan sát nhau chặt chẽ và cử các đội học hỏi lẫn nhau ngay trong các bộ. Cả hai cũng đã gửi một số lượng lớn sinh viên để nghiên cứu khoa học và công nghệ tại Hoa Kỳ, với sự ràng buộc họ phải trở lại và được sử dụng thích đáng. Chính quyền Đài Loan đã thành lập một văn phòng đặc biệt chuyên tổ chức cộng đồng người Hoa ở hải ngoại: tiếp xúc với người Đài Loan làm việc tại các công ty Hoa Kỳ trong các lĩnh vực ưu tiên cao ở Đài Loan (ví dụ: IBM), tài trợ những chuyến đi cho họ về Đài Loan tham dự các hội nghị và để kết nối; cũng như tạo điều kiện hồi hương trọn thời gian. Đài Loan cũng thành lập Nhóm tư vấn khoa học và công nghệ (STAG) cho khuyến nghị về chính sách kinh tế để theo kịp phương Tây.
Nguyễn Xuân Xanh
CẬP NHẬT: Chúng tôi mới nhận được bài trả lời phỏng vấn của kinh tế gia Phạm Chi Lan trên báo Một thế giới mới ra hôm nay, người rất am hiểu bức tranh của kinh tế tư nhân Việt Nam, rất đáng đọc:
Bà Phạm Chi Lan: Công lao của 80% người dân phải được ghi nhận
∗ ∗ ∗
Vài hình ảnh giới thiệu sách ở Đại học Fulbright và Văn Lang:


Chương tổng luận: DẪN NHẬP
(Phạm Chi Lan, Đậu Anh Tuấn, Trần Văn Thọ)
Chung tay thúc đẩy sự phát triển KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM –
Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh
– Phạm Chi Lan
Năm 2026, nước ta bước vào năm đầu tiên trên hành trình thực hiện khát vọng vươn mình, phấn đấu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Trên hành trình đó, với Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 4 tháng 5 năm 2025, được thể chế hoá bằng Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội và các văn bản pháp quy của Chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân đã được giao trọng trách là một động lực quan trọng nhất.
Được giao trọng trách như vậy, tất cả những người đang hoạt động trong khu vực kinh tế tư nhân (KVKTTN) và những người quan tâm tới khu vực này hết sức phấn chấn. KVKTTN vốn là nơi đông đảo người dân nước ta sinh sống và làm việc đã biết bao năm trời, trải qua biết bao thăng trầm trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Chỉ riêng trong 50 năm hoà bình, thống nhất từ 1975 tới nay, cũng đã không ít gập ghềnh trên con đường sống của khu vực này. Đã từng có những quy định trong Hiến pháp, trong các văn kiện của Đảng và luật pháp, chính sách của Nhà nước về vai trò quan trọng của KVKTTN, nhưng vẫn còn đó biết bao khúc mắc. Phải tới Nghị quyết 68 cùng các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, sự khẳng định vai trò khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất mới được xác quyết.
Song bên cạnh niềm vui, không phải không có những băn khoăn với câu hỏi lớn: vậy Nhà nước và doanh nghiệp cần làm gì để khu vực kinh tế tư nhân thật sự đóng vai trò động lực quan trọng nhất nhằm đạt mục tiêu Việt Nam thịnh vượng trong hai thập niên tới?*
Cuốn sách KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM — Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh được những người vô cùng tâm huyết và trăn trở với sự phát triển của kinh tế tư nhân nước ta cùng nhau nghiên cứu, bàn luận và đưa ra một số vấn đề, nhằm góp phần giải đáp câu hỏi lớn trên.
Theo các tác giả, để KVKTTN thực sự đóng vai trò động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần: đổi mới căn bản tư duy, nhận thức về vai trò của KVKTTN và hành vi ứng xử với doanh nghiệp tư nhân trong nước (của Nhà nước và xã hội); đổi mới thể chế ở những lĩnh vực cụ thể cần thiết nhất cho KTTN, có chiến lược, chính sách cụ thể để KVKTTN phát triển nhanh, mạnh và bền vững; và bản thân KVKTTN cần tự đổi mới, nâng tầm, nâng năng lực, liên kết để phát triển.
Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước thu nhập cao, hay Việt Nam Thịnh vượng — dân giàu nước mạnh — theo nghĩa rộng bao gồm nhiều mặt về kinh tế — xã hội, về văn hoá, sức mạnh mềm, quan hệ quốc tế, an ninh quốc phòng… Nhưng cuốn sách này tập trung chủ yếu bàn về kinh tế, về KVKTTN và những lĩnh vực liên quan trực tiếp như thể chế, giáo dục — đào tạo (nguồn nhân lực), khoa học công nghệ, hội nhập kinh tế quốc tế…
Khu vực kinh tế tư nhân theo nghĩa rộng bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hợp tác xã, các hình thái tổ chức của nông dân hoạt động trong nông — lâm — ngư nghiệp…, nhưng cuốn sách này tập trung bàn về doanh nghiệp tư nhân (DNTN) của người Việt, thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, và một phần về hộ kinh doanh thành lập theo Nghị định 01/2021/NĐ-CP.
Là cuốn sách đầu tiên về Kinh tế Tư nhân Việt Nam, cuốn sách cũng không có tham vọng đề cập tới tất cả các vấn đề rộng lớn liên quan đến chủ đề này. Với hạn chế về thời gian và khả năng của những người tham gia làm sách, tập thể tác giả đã tập trung vào một số nội dung chính có thể góp phần giải đáp những câu hỏi lớn nói trên.
Cuốn sách gồm 5 phần, trong đó 4 phần với 20 bài viết bàn về 4 chủ đề, và phần thứ 5 giới thiệu câu chuyện của một số doanh nghiệp tư nhân — doanh nhân tiên phong qua các thời kỳ từ sau 1975 tới nay.
Các bài viết được đóng góp bởi một tập thể tác giả rất đa dạng. Có những người ở lứa tuổi 70 đến trên 80, đã chứng kiến sự gian nan của lứa doanh nghiệp tư nhân đầu tiên của nước ta sau hoà bình, và đã gắng sức góp phần vào quá trình đưa KVKTTN thành một thành phần trong nền kinh tế khi Đổi mới. Nhiều nhất là những người ở lứa tuổi trên dưới 60, 50 hoặc xấp xỉ 40, những người đã bền bỉ góp sức trong việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh doanh ở nước ta, đặc biệt khi quyền tự do kinh doanh chính thức được nhà nước trao lại cho doanh nghiệp KVKTTN. Các tác giả cũng hoạt động trong nhiều lĩnh vực: có các nhà nghiên cứu — giảng dạy chuyên nghiệp ở các đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước; có những người phần lớn cuộc đời gắn bó với các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp; có các nhà doanh nghiệp dầy dạn kinh nghiệm thương trường nội — ngoại; và có các nhà báo với khả năng quan sát tinh tường về doanh nghiệp KVKTTN Việt từ các góc nhìn khác nhau. Danh sách và tiểu sử ngắn gọn của các tác giả được giới thiệu trong những trang đầu của cuốn sách này.
Dưới đây trước hết xin tóm tắt một số ý chính của mỗi phần và từng bài viết trong cuốn sách, sau đó là phẩn tổng luận Tổng quan về điều kiện để kinh tế tư nhân Việt Nam lớn mạnh, thực hiện vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới. Phần Tổng quan sẽ trả lời ba câu hỏi: Ở giai đoạn phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay, sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa như thế nào? Nhà nước cần những chính sách gì để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh? Mặt khác, doanh nghiệp tư nhân cần những tố chất gì để đảm nhận vai trò là động lực quan trọng trong kỷ nguyên mới?
A. Tóm tắt các phần và chương trong sách
Đậu Anh Tuấn
Phần I. Tư duy lại về vai trò của kinh tế tư nhân ở Việt Nam mở đầu cuốn sách bằng việc đặt lại câu hỏi gốc rễ: xã hội Việt Nam đã nhìn nhận kinh tế tư nhân như thế nào qua các thời kỳ, và tư duy ấy đã thay đổi ra sao để đi tới sự thừa nhận mang tính bước ngoặt ngày hôm nay? Bốn bài viết trong phần này lần lượt soi chiếu vấn đề từ lịch sử doanh nghiệp Việt thời thuộc địa, qua lăng kính văn học — báo chí, hành trình chuyển biến nhận thức của Đảng suốt nửa thế kỷ, đến thực trạng thể chế vẫn đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” cần được tháo gỡ.
Doanh nghiệp Việt thời thuộc địa: Khởi sự gian nan trong nửa đầu thế kỷ XX (Võ Phúc Toàn, Nguyễn Nam) khảo sát hành trình khai phóng tư duy kinh doanh của doanh nhân Việt thời Pháp thuộc, từ “Thương cổ luận” trên báo chí Quốc ngữ đến các doanh nghiệp tiên phong như Bạch Thái Bưởi, Trương Văn Bền, cho thấy tinh thần dân tộc chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được chuyển hoá thành thiết chế tổ chức hiện đại.
Báo chí, nghệ thuật và kinh tế tư nhân: Một lịch sử của hoài nghi và định kiến (Đinh Đức Hoàng) lần theo năm giai đoạn thái độ của xã hội Việt Nam đối với kinh tế tư nhân qua lăng kính văn học và báo chí, từ định kiến giai cấp thời bao cấp, qua hoài nghi trước sự giàu lên thời Đổi mới, tới sự ủng hộ và cuối cùng là mối quan hệ cộng sinh đầy thách thức giữa truyền thông và doanh nghiệp ngày nay.
Đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân ở Việt Nam: từ đối tượng bị cải tạo trở thành động lực quan trọng nhất (Lê Đăng Doanh) phác hoạ toàn cảnh hành trình nhận thức đầy kịch tính của Đảng về kinh tế tư nhân suốt nửa thế kỷ, từ các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp sau 1975, qua bước ngoặt Đổi mới 1986, đến khi Đại hội XIV chính thức xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”.
Cải cách thể chế: gỡ nút thắt cho kinh tế tư nhân phát triển trong kỷ nguyên vươn mình (Nguyễn Đình Cung) phân tích bốn thập niên cải cách thể chế với quỹ đạo “zic-zak” đầy đứt gãy, chỉ ra rằng thể chế đã và đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đồng thời đề xuất lộ trình hai bước đột phá nhằm tháo bỏ toàn diện các rào cản pháp lý, cải cách phân bổ nguồn lực đất đai, vốn và công nghệ cho khu vực tư nhân.
Phần II. Xây dựng nhà nước kiến tạo cho sự phát triển của KTTN Việt Nam tập trung vào vai trò của Nhà nước — không phải với tư cách người can thiệp trực tiếp, mà với tư cách người kiến tạo môi trường, thiết lập “luật chơi” và lắng nghe thực tiễn để chính sách thực sự đi vào cuộc sống. Ba bài viết trong phần này bàn về cơ chế tham vấn doanh nghiệp, hành trình lập pháp mở đường cho quyền tự do kinh doanh và triết lý giải phóng năng lượng sáng tạo xã hội.
Lắng nghe doanh nghiệp tư nhân trong quyết định và thực thi chính sách kinh tế (Đậu Anh Tuấn) chứng minh rằng mỗi bước đột phá kinh tế của Việt Nam đều gắn liền với một sự lắng nghe thực tiễn, và đề xuất bốn nhóm giải pháp có tính hệ thống nhằm biến lắng nghe doanh nghiệp từ thủ tục hình thức thành năng lực thể chế cốt lõi.
Luật Doanh nghiệp 1999 — đạo luật trả lại quyền kinh doanh cho người dân (Hoàng Tư Giang) kể lại hành trình soạn thảo và thực thi đạo luật mang tính cách mạng nhất cho kinh tế tư nhân Việt Nam, qua câu chuyện của chính những nhà cải cách đã đấu tranh bền bỉ để xoá bỏ “35 chữ ký, 35 con dấu” và hàng trăm giấy phép con, mở đường cho làn sóng doanh nghiệp bùng nổ.
Kinh tế tư nhân — giải phóng năng lượng sáng tạo của xã hội (Lê Minh Hoan) nhìn kinh tế tư nhân như một hệ sinh thái sống động, từ xưởng bánh làng quê đến startup công nghệ, và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lực lượng “doanh nông” mới — những người làm nông nghiệp bằng tư duy doanh nghiệp, biến cánh đồng thành không gian sáng tạo kinh tế.
Phần III. KTTN trong hiện đại hoá nền kinh tế đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể mà kinh tế tư nhân cần và có thể đóng vai trò dẫn dắt quá trình hiện đại hoá đất nước: từ nâng cấp năng lực cạnh tranh tổng thể, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao, đến phát triển nông nghiệp và hội nhập quốc tế qua xuất khẩu nông sản — những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã và đang chứng tỏ sức sống mạnh mẽ.
Để kinh tế tư nhân Việt trở thành động lực trung tâm của hiện đại hoá (Phạm Phú Ngọc Trai) chỉ ra nghịch lý “đông nhưng chưa mạnh” của khu vực tư nhân Việt Nam và lập luận rằng bước ngoặt thực sự đòi hỏi đồng thời cải cách thể chế từ nhà nước kiến tạo, tái cấu trúc thị trường vốn, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cấp năng lực nội tại của chính doanh nghiệp.
Về kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số (Hồ Tú Bảo) phân tích sự thay đổi căn bản của sản xuất và sản phẩm trong kỷ nguyên số, đề xuất chiến lược “thông minh hoá sản phẩm hữu hình” — tức nhúng phần số vào tất cả những gì Việt Nam đang làm tốt — như con đường đột phá phù hợp nhất cho kinh tế tư nhân nước ta.
Doanh nghiệp tư nhân trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (Nguyễn Thanh Trọng) nhấn mạnh rằng doanh nghiệp tư nhân không chỉ là người sử dụng lao động mà đã trở thành mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái đào tạo, và đề xuất bốn phương diện phát huy vai trò của họ: đào tạo trực tiếp, đặt hàng phối hợp, hỗ trợ thực tập, và tham gia xây dựng chuẩn nghề nghiệp.
Kinh tế tư nhân trong phát triển nông nghiệp: Bài học từ Đồng bằng sông Cửu Long (Trần Hoàng Tuyên) kể lại hành trình lịch sử từ thời đại điền chủ đến “xé rào” Đổi mới và sự trỗi dậy của kinh tế tư nhân ở ĐBSCL, minh chứng rằng chính sự gắn bó giữa chính quyền, nông dân và doanh nghiệp tư nhân đã biến vùng châu thổ này thành trụ cột xuất khẩu nông sản của cả nước.
Doanh nghiệp tư nhân hội nhập quốc tế — Góc nhìn từ xuất khẩu nông sản (Nguyễn Phương Lam) phân tích ba giai đoạn hội nhập của doanh nghiệp tư nhân qua ngành chế biến nông sản, từ tận dụng lợi thế chi phí thấp thời WTO đến đáp ứng các chuẩn mực ESG và chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên FTA thế hệ mới, với những doanh nghiệp tiêu biểu như Vĩnh Hoàn, Minh Phú và Hồ Quang Trí đã chứng minh năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Phần IV. Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đổi mới và vươn mình mở rộng tầm nhìn ra quốc tế và hướng tới tương lai, với các bài học từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức cùng những phân tích về doanh nghiệp nhỏ và vừa, liên kết với FDI, hành trình Go Global và trọng trách của doanh nghiệp Việt trước khát vọng kỷ nguyên mới — tất cả nhằm trả lời câu hỏi: khu vực kinh tế tư nhân cần đổi mới và vươn mình như thế nào để thực sự trở thành động lực quan trọng nhất đưa đất nước tới thịnh vượng.
Phát triển kinh tế tư nhân: Kinh nghiệm Đông Á và Chính sách của Việt Nam (Trần Văn Thọ) đưa ra khung phân tích về nguồn lực kinh doanh và rút ra bài học từ mô hình Nhật Bản, Hàn Quốc, trong đó doanh nghiệp tư nhân đã thành công ngoạn mục nhờ tích cực du nhập công nghệ nước ngoài rồi dần tự chủ bằng nội lực, từ đó khuyến nghị Việt Nam cần chính sách công nghiệp hiệu quả để giúp doanh nghiệp lớn mạnh và giảm dần phụ thuộc vào FDI.
Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc (Vũ Thành Tự Anh) phân tích bốn nhân tố then chốt đằng sau sự trỗi dậy ngoạn mục của khu vực tư nhân Trung Quốc — vị thế chính trị, cấu trúc khuyến khích địa phương, thị trường hoá và năng lực thích nghi của nhà nước — và rút ra hàm ý rằng bài học cho Việt Nam không nằm ở việc sao chép công cụ chính sách cụ thể mà ở việc hiểu và vận dụng logic thể chế sâu xa.
Doanh nghiệp lớn tại Đức — Động lực tăng trưởng và hàm ý cho Việt Nam (Võ Quang Huệ) cho thấy sức mạnh “Made in Germany” là kết quả của sự kết hợp giữa các tập đoàn công nghiệp lớn đầu tư mạnh vào R&D, một trật tự pháp quyền nghiêm ngặt và cơ chế đồng quản trị độc đáo, gợi mở rằng Việt Nam cần phát triển các tập đoàn tư nhân lớn gắn với công nghiệp và công nghệ lõi trong một thể chế minh bạch, ổn định.
Phát triển của cộng đồng trí thức và kinh tế tư nhân người Việt tại Nhật Bản (Lê Đức Anh) phân tích sự hình thành và lớn mạnh của cộng đồng hơn 660.000 người Việt tại Nhật Bản, trong đó mối quan hệ tương hỗ giữa trí thức và doanh nhân đang tạo nên một hệ sinh thái tri thức — kinh doanh mới, là nguồn lực xuyên quốc gia quan trọng cho quan hệ Việt — Nhật và sự phát triển của Việt Nam.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa và Hộ kinh doanh — nhỏ mà không hề nhỏ (Phạm Ngọc Thạch) chỉ ra rằng hơn 6 triệu hộ kinh doanh và gần 1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy áp đảo về số lượng nhưng vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng suất thấp, và đề xuất xây dựng chính sách từ trải nghiệm thực tế của chính họ, gắn kết các công cụ hỗ trợ thành gói đơn giản theo từng nấc phát triển.
Liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với FDI (Nguyễn Hoa Cương) phân tích thực trạng liên kết còn yếu giữa hai khu vực — với tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam kết nối chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ 35% năm 2019 xuống 18% năm 2023 — và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm biến FDI thành chất xúc tác cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp trong nước.
Những nét mới trong hành trình Go Global của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam (Vũ Kim Hạnh) giới thiệu ba phương thức kinh doanh mới mà doanh nghiệp tư nhân Việt đang sử dụng để vươn ra thế giới: nhượng quyền thương hiệu quốc tế, xuất khẩu thông qua “chuyển đổi kép” với R&D và kinh tế tuần hoàn, và kinh doanh xuyên biên giới qua thương mại điện tử với mô hình vận hành hoàn toàn bằng công nghệ.
Trọng trách trên vai doanh nghiệp trước khát vọng về một kỷ nguyên mới (Lê Duy Bình) lập luận rằng doanh nghiệp Việt chính là lực lượng nòng cốt để vượt bẫy thu nhập trung bình, với trọng trách làm mới các động lực tăng trưởng cũ — từ chuyển đổi mô hình xuất khẩu sang chất lượng, giữ vững thị trường nội địa 100 triệu dân, đến khẳng định vai trò đầu tư tư nhân trong nước và nắm bắt cơ hội từ đổi mới sáng tạo.
Phần V của cuốn sách giới thiệu vài câu chuyện về những doanh nghiệp tư nhân, doanh nhân tiên phong trong một số ngành kinh tế của Việt Nam — từ nông nghiệp, gốm sứ, cà phê, công nghệ thông tin đến thương mại điện tử và thời trang — qua ngòi bút của các nhà báo giàu kinh nghiệm, giúp người đọc cảm nhận sinh động tinh thần doanh nhân Việt trong hành trình kiến tạo giá trị và vươn tầm quốc tế.
B. Tổng quan về điều kiện để kinh tế tư nhân Việt Nam lớn mạnh, thực hiện vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới
Trần Văn Thọ
Ở giai đoạn phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay, sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa như thế nào? Nhà nước cần những chính sách gì để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh? Mặt khác, doanh nghiệp tư nhân cần những tố chất gì để đảm nhận vai trò là động lực quan trọng trong kỷ nguyên mới?
I. Điều kiện để tăng trưởng nhanh và bền vững làm nổi bật vai trò của doanh nghiệp tư nhân: Kinh nghiệm Nhật Bản
Năm 2025 lãnh đạo Việt Nam đưa ra mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới song song với quyết tâm tiến hành cải cách thể chế, tinh giản và hiệu suất hóa bộ máy hành chánh, khơi dậy tiềm năng trong đó chú trọng phát triển doanh nghiệp tư nhân. Đây là một quyết tâm có sức kêu gọi toàn dân, nhất là doanh nghiệp, chuẩn bị tham gia vào kỷ nguyên mới.
Tôi cho rằng Việt Nam chưa đủ điều kiện để thực hiện ngay mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu thực hiện cho bằng được sẽ mang lại nhiều hệ lụy như tăng lạm phát, ảnh hưởng môi trường và không bền vững. Tuy nhiên, nếu quyết tâm tiến hành ngay các cải cách cần thiết và có các chính sách thích hợp trong 4-5 năm tới thì tăng trưởng hai con số có thể thực hiện trong thập niên 2030. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong thời đại phát triển hai con số (1955-1973) cho thấy nhiều điểm đáng cho Việt Nam tham khảo.
Tăng mạnh mẽ năng suất tổng hợp (TFP) là điều kiện cơ bản để kinh tế tăng trưởng có hiệu suất với tốc độ cao. Nhưng yếu tố làm tăng TFP không phải chỉ là đổi mới sáng tạo (cách tân công nghệ) mà còn nhiều nguyên nhân khác. Để hiểu đúng vấn đề ta thử khảo sát trường hợp của Nhật Bản trong giai đọan phát triển hai con số
Năm 2025, Việt Nam đạt mức phát triển trung bình cao và có mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao trong 20 năm tới. Hiện nay, Việt Nam đang ở vào thời điểm giống Nhật Bản vào giữa thập niên 1950. Đến giữa thập niên 1960, Nhật Bản trở thành một cường quốc công nghiệp, một quốc gia có thu nhập cao. Trong quá trình đó, Nhật Bản có 18 năm liên tiếp tăng trưởng trện dưới 10%.[1]
Biểu 1 trình bày những yếu tố đưa lại mức tăng trưởng rất cao của Nhật Bản trong giai đoạn 1953-1971.

Biểu 1 có nhiều hàm ý cho VN Nam trong giai đoạn tới. Thứ nhất, TFP đóng vai trò quan trọng nhất (4.9/8.8 tức 56%) trong tốc độ tăng trưởng cao. Thứ hai, cải tiến công nghệ (đổi mới sáng tạo) chỉ chiếm 41% (2/4.9) của TFP, những yếu tố khác cũng quan trọng. Thứ ba, trong TFP, yếu tố tăng quy mô đặc biệt quan trọng, tương đương với đổi mới sáng tạo. Quy mô đầu tư phải lớn và qui mô doanh nghiệp phải lớn mới có thể đầu tư lớn. Thứ tư, chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chuyển lao động cá thể từ các đơn vị sản xuất nhỏ, phi chính qui sang lãnh vực chính qui với qui mô lớn cũng có vai trò làm tăng TFP. Yếu tố này lớn hay nhỏ tùy theo cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Như sẽ thấy, khu vực phi chính qui ở Việt Nam rất lớn nên việc cải cách sẽ đóng góp vào TFP nhiều hơn trường hợp của Nhật. Thứ năm, đóng góp của tư bản (đầu tư) vào tăng trưởng cũng quan trọng như cải tiến công nghệ. Kinh nghiệm của Nhật cho thấy đầu tư và đổi mới sáng tạo bổ sung cho nhau: doanh nghiệp phải tích cực đầu tư mới thực hiện được đổi mới sáng tạo, và đổi mới sáng tạo là tiền đề để đầu tư có hiệu quả.
Nhật Bản đã đưa ra bốn chính sách về các nội dung phân tích ở trên và cả bốn đều liên quan mật thiết đến doanh nghiệp tư nhân. Một là chính sách công nghiệp, trong đó nhà nước vạch ra tầm nhìn dài hạn và khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp tích cực đầu tư mạnh vào công nghiệp, vào đổi mới sáng tạo, kể cả chi tiêu nhiều hơn cho nghiên cứu và triển khai (R&D). Đặc biệt các doanh nghiệp lớn cùng với nhà nước chia sẻ tầm nhìn dài hạn của nền kinh tế, tầm nhìn về cơ cấu công nghiệp trong tương lai dựa trên lợi thế so sánh động.[2]
Hai là chính sách về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong đó chú trọng tạo điều kiện để SME tiếp cận vốn, đất đai để đầu tư, chú trọng cung cấp thông tin về công nghệ và thị trường, và cung cấp dịch vụ tư vấn về quản lý doanh nghiệp, về xây dựng dự án đầu tư, v.v.. Trong quá trình tích lũy nguồn lực kinh doanh dưới các điều kiện chính sách thuận lợi ấy, SME lớn mạnh và một số ngày càng đông trở thành những doanh nghiệp lớn. Mặt khác, do chính sách hỗ trợ, khuyến khích, một bộ phận ngày càng lớn của khu vực cá thể, phi chính thức trở thành SME.
Ba là cải cách thị trường vốn, thị trường đất đai để, qua đầu tư của doanh nghiệp, các nguồn lực di chuyển đến các lãnh vực năng suất cao. Ngoài ra, nhà nước và các ngân hàng lớn có cơ chế huy động vốn dài hạn và cũng cấp tín dụng ưu đãi cho những dự án đầu tư lớn dựa trên lợi thế so sánh động.
Bốn là chính sách đào tạo nguồn nhân lực, trang bị tri thức, kỹ năng cho lao động nông nghiệp và phi chính qui để họ có thể di động sang công nghiệp và khu vực chính qui có năng suất cao. Đây cũng là một trong những tiền đề để doanh nghiệp có thể đầu tư vào những ngành có hàm lượng kỹ năng cao, công nghệ cao.. , từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, kéo theo chuyển dịch lao động từ nông sang công, từ cá thể sang khu vực chính qui.
Nhật Bản đã triệt để cải cách thể chế và có các chính sách thích hợp trong thập niên 1950 nên đã thực hiện dễ dàng giai đoạn tăng trưởng hai con số trong gần 20 năm từ 1955 đến 1973.
II. Chính sách để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trở thành động lực quan trọng trong nền kinh tế
Từ kinh nghiệm Nhật Bản và từ hiện thực kinh tế nước ta, theo tôi có bốn vấn đề nếu trong vòng 4-5 năm tới cải cách triệt để và có chính sách thích hợp, Việt Nam sẽ có một giai đoạn tăng trưởng cao, có thể hai con số, trong thập niên 2030. Bốn vấn đề nầy đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp tư nhân.
Vấn đề thứ nhất liên quan công nghiệp hóa. Kinh nghiệm các nước Đông Á cho thấy công nghiệp hóa phải tiến hành ở mức cao trong giai đoạn dân số vàng, nhưng trường hợp của Việt Nam đã gần hết giai đoạn dân số vàng (1980-2032) mà tỉ lệ giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp trong GDP còn thấp. Một vấn đề nữa là mô hình công nghiệp hóa cho đến nay chủ đạo là gia công, lắp ráp nên năng suất thấp và gây ra rủi ro trong ngoại thương, nhất là va chạm thương mại với Hoa Kỳ vì Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sản phẩm trung gian nhập từ Trung Quốc và xuất khoảng 1/3 thành phẩm sang Mỹ. [3]
Để giải quyết vấn đề nầy, Việt Nam cần khẩn trương xây dựng chính sách công nghiệp trong đó tiến hành công nghiệp hóa cả chiều rộng và chiều sâu. Về chiều rộng, tạo môi trường pháp lý và hành chính thuận lợi để doanh nghiệp tích cực đầu tư vào các lãnh vực mới. Riêng nhà nước nên chú trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp ô-tô và công nghiệp vi mạch bán dẫn. Đây là những lãnh vực doanh nghiệp lớn sẽ tích cực đầu tư. Về chiều sâu, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, khuyến khích sản xuất linh kiện và các sản phẩm trung gian khác, thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Đây là lãnh vực SME đặc biệt có vai trò quan trọng.
Vấn đề thứ hai liên quan trực tiếp đến kinh tế tư nhân, một khu vực làm cho năng suất toàn xã hội rất thấp.[4] Hiện nay (2023), lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước chiếm tới 82% tổng lao động có việc làm. Trừ nông nghiệp, còn lại 55% có thể được xem là khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ. Về số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, vào năm 2023, có tất cả gần 74 vạn doanh nghiệp trong đó hơn 49 vạn là siêu nhỏ và gần 20 vạn là doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra còn có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.[5]
Vì manh mún, nhỏ bé và cho đến nay trực diện với môi trường kinh doanh với nhiều thủ tục hành chính nhiêu khê, đại bộ phận các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và siêu nhỏ phần lớn không có năng lực cạnh tranh, không tham gia vào các chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng toàn cầu mặc dù nền kinh tế Việt Nam hội nhập rất sâu rộng vào kinh tế thế giới. Ngoài ra, doanh nghiệp phải lớn mới đâu tư lớn, điều kiện để tăng tính qui mô kinh tế, một yếu tố quan trọng trong TFP như Biểu 1 cho thấy. Rất mừng là gần đây lãnh đạo Việt Nam đã thấy tình trạng yếu kém, manh mún của khu vục nầy và đưa quyết tâm cải cách. Đây là khu vực làm cho năng suất lao động toàn xã hội tăng chậm và qui mô doanh nghiệp càng nhỏ càng khó tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khu vực kinh tế tư nhân có thể chia thành ba nhóm và nhà nước nên có các chính sách thích hợp cho mỗi nhóm.
Về nhóm các doanh nghiệp lớn, tạo cơ chế để họ cùng chia sẻ với nhà nước về tầm nhìn dài hạn của kinh tế trong tương lai, cùng với nhà nước thực hiện các dự án nghiên cứu công nghệ cơ bản, và qua chính sách thuế khuyến khích họ đầu tư nhiều hơn trong nghiên cứu và triển khai (R&D) và chuyển giao công nghệ, tri thức quản lý trong liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Về nhóm SME, đề nghị cơ quan quản lý nhà nước cũng như ngân hàng chuyên môn về SME cần có thêm chức năng tư vấn cho SME cải thiện các dự án đầu tư, có chế độ cấp chứng chỉ cho chuyên gia tư vấn về SME.. Ngoài ra, cơ quan quản lý ở trung ương cần có chức năng điều tra, nghiên cứu về thị trường và công nghệ, về chính sách mới để cung cấp cho SME những bản tin hàng quý và phát hành Sách trắng SME hằng năm.
Về nhóm cá thể, đơn vị gia đình, gọi chung là nhóm phi chính thức, nên có các biện pháp chuyển phần lớn thành doanh nghiệp có tổ chức, thành SME. Họ là những đơn vị nhỏ bé không có nguồn nhân lực để thực hiện những thủ tục phức tạp, nhiêu khê nên nhà nước cần đơn giản hóa hồ sơ và quan chức phụ trách phải kiên nhẫn thuyết phục, giúp đỡ họ.
Về doanh nghiệp nói chung, mục tiêu của chính sách là giúp doanh nghiệp lớn ngày càng lớn mạnh hơn, giúp SME phát triển thành doanh nghiệp lớn, và doanh nghiệp siêu nhỏ, đơn vị cá thể chuyển thành SME. Kinh nghiệm các nước đi trước cho thấy trong giai đoạn phát triển từ thu nhập trung bình hướng về mục tiêu thu nhập cao, phải có nhiều doanh nghiệp lớn mới dễ thành công. Ở giai đoạn nầy, các dự án đầu tư ngày càng lớn, nhu cầu nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới ngày càng nhiều với độ rủi ro cao mà chỉ doanh nghiệp lớn mới có khả năng chống chịu.[6]
Vấn đề thứ ba là cải cách thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động, để các nguồn lực nầy, qua cơ chế thị trường, di động đến những lãnh vực có hiệu quả, có năng suất cao nhất. Đặc biệt thị trường vốn cần cải thiện mạnh mẽ. Thị trường vốn ở Việt Nam phát triển từng bước từ thập niên 1990 nhưng còn nhiều dư địa để cải cách hơn nữa. Đặc biệt, SME vẫn ở trong trạng thái bất lợi như nhiều điều tra nghiên cứu đã phản ảnh. Ngân hàng thương mại có khuynh hướng chỉ cho vay đối với các doanh nghiệp lớn như doanh nghiệp nhà nước và FDI, và ít lưu tâm đối với SME. Thủ tục xin vay tiền rất nhiêu khê đến nỗi nhiều SME bỏ cuộc, và trường hợp vay được thì SME phải chịu lãi suất cao hơn so với lãi suất áp dụng cho doanh nghiệp lớn. Ngoài ra, ngân hàng dành riêng cho SME nên có nhiều chuyên viên có năng lực thẩm định các dự án đầu tư và có một bộ phận tư vấn giúp SME tăng tính khả thi của các dự án đầu tư.
Những doanh nghiệp nhắm đến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, năng suất lao động cao phải đầu tư lớn, và thường dùng công nghệ có hàm lượng vốn cao. Họ phải là những doanh nghiệp đủ lớn. Với những cải cách nói trên, sẽ ngày càng có nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn. Với sự lớn mạnh cùng với hỗ trợ từ chính sách, số lượng SME có thể tham gia vào chuỗi cung úng toàn cầu của doanh nghiệp FDI sẽ ngày càng tăng. Nói khác đi, SME Việt Nam sẽ ngày càng tham gia vào các ngành công nghiệp hỗ trợ. Kết quả là SME sẽ đóng góp vào việc mở rộng và tăng cường qui mô vốn của khu vực công nghiệp, và tăng năng suất cho toàn nền kinh tế. Cần nhấn mạnh là nhiều đơn vị cá thể và doanh nghiệp nhỏ trở thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa trở thành doanh nghiệp lớn mới có thể đầu tư lớn hơn, vào những lãnh vực có hàm lượng lao động kỹ năng cao hơn để vừa cạnh tranh được với FDI vừa có thể kết nối với FDI trong các chuỗi cung ứng.
III. Tinh thần doanh nghiệp cần có của kinh tế tư nhân Việt Nam
Kinh tế tư nhân có trở thành động lực quan trọng trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững hay không, ngoài chính sách của nhà nước, còn tùy thuộc vào tố chất và hành động của chính doanh nghiệp tư nhân. Tố chất quan trọng nhất là tinh thần doanh nghiệp (enterpreneurship).
Tinh thần doanh nghiệp là tính tiến thủ của nhà doanh nghiệp, không bằng lòng với hoàn cảnh đương có mà xông xáo tìm kiếm và nắm bắt cho bằng được các cơ hội do công nghệ và thị truờng mang lại. Người có tinh thần doanh nghiệp có con mắt nhìn xa trông rộng vào thế giới trong tương lai, giàu trí tưởng tượng về thành quả của công nghệ, biết là sẽ có nhiều bất xác định và rủi ro nhưng vẫn quyết đoán và đi tới hành động đầu tư, phối trí nhân lực và các nguồn lực kinh tế khác vào lãnh vực mới vừa khám phá được. Để rõ hơn các tố chất của một người có tinh thần doanh nghiệp, ta có thể nêu một số đặc tính cụ thể sau:
Thứ nhất là có chí lớn. Người có tinh thần doanh nghiệp không màn đến cái lợi truớc mắt, có hoài bão, lý tưởng, quyết đem tài năng của mình góp phần biến cải xã hội, thay đổi được cuộc sống của mọi người. Việt Nam đang trong quá trình theo kịp các nước đi trước nên “có chí lớn” ở đây còn bao gồm cả tinh thần yêu nước, tinh thần trách nhiệm với tiền đồ dân tộc.[7]
Thứ hai là tinh thần mạo hiểm. Trong tinh thần doanh nghiệp có tinh thần mạo hiểm, nỗ lực khám phá thị truờng mới, nguyên liệu mới, công nghệ và phương thức quản lý mới. Tinh thần mạo hiểm dựa trên sự tự tin vào năng lực của mình và óc phán đoán, trí tưởng tượng về hướng đi của công nghệ và thị truờng trong tương lai.
Thứ ba là tinh thần tự lập. Người có tinh thần doanh nghiệp không trông cậy vào sự bảo hộ, giúp đỡ của nhà nước. Kinh tế học về sự phát triển phân biệt hai trường hợp về hành động của công ty: một bên là mưu tìm đặc lợi (rent-seeking) và một bên là tìm kiếm lợi nhuận chân chính (profit-seeking). Mưu tìm đặc lợi là lợi dụng cơ chế xin cho để mua chuộc những người có chức có quyền, qua đó kiếm được những cái lợi lớn mà không mất nhiều công sức trong kinh doanh. Lợi nhuận chân chính là thành quả của nỗ lực khám phá công nghệ, khám phá thị truờng cho những sản phẩm mới, hoặc cải tiến quản lý, khám phá phương pháp sản xuất mới để giảm giá thành sản phẩm. Dĩ nhiên bảo hộ có điều kiện trong những ngành còn non trẻ không mâu thuẫn với tinh thần doanh nghiệp.
Thứ tư là đạo đức kinh doanh trong kinh tế thị trường. Doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong cơ chế thị trường. Đặc tính cơ bản của thị trường là cạnh tranh và tự do tham gia nhưng giao dịch, trao đổi, cạnh tranh trong kinh tế thị trường chỉ bền vững khi chất lượng của thị trường được đảm bảo. Chất lượng của thị trường lại liên quan đến đạo đức, đến sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường.. Trên cơ sở tự do mua bán, thị trường mang lại lợi ích cho các bên. Thị trường bền vững đòi hỏi sự thành thật, trung thực, sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường.
Adam Smith, tác giả cuốn sách kinh điển Sự phồn vinh của các quốc gia (The Wealth of Nations, xuất bản năm 1776), là ông tổ của kinh tế học hiện đại, là người đầu tiên xác lập các nguyên lý của kinh tế thị trường Trước khi cuốn sách nổi tiếng nói trên ra đời, Adam Smith còn có một cuốn sách khác tên là Luận về sự tình cảm đạo đức (Theory of Moral Sentiments), xuất bản năm 1759, trong đó chủ trương trật tự xã hội được hình thành, duy trì trên cơ sở sự đồng cảm của cá nhân. Thị trường là cạnh tranh nhưng cạnh tranh phải được xã hội đón nhận mới là cạnh tranh chính đáng. Sự đồng cảm của con người làm cơ sở cho trật tự xã hội, điều kiện đảm bảo cho kinh tế thị trường. Theo Smith, mưu tìm lợi ích của mình không mâu thuẫn với các đặc tính, động cơ khác của con người như lòng vị tha, tôn trọng quyền lợi và danh dự của người khác, v.v…
Nền tảng văn hóa, đạo đức là cơ sở để kinh tế thị trường phát triển lành mạnh, bền vững, để xây dựng một xã hội hài hòa, nhân ái. Trên nền tảng đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần góp phần xây dựng một xã hội như vậy.
Cuối cùng có lẽ nên bàn thêm một điểm nữa. Đó là việc xây dựng, chọn lựa người lãnh đạo kế cận của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường còn non trẻ như Việt Nam, nhiều doaanh nghiệp do đời thứ nhất sáng lập và lãnh đạo. Thông thường thì ai cũng muốn con mình sẽ kế tục sự nghiệp. Nhưng nếu người kế tục không có tư chất, năng lực và tinh thần doanh nghiệp cần thiết thì công ty sẽ không lớn mạnh. Do đó muốn con cháu mình kế tục sự nghiệp thì phải tạo các điều kiện qua giáo dục, bồi dưỡng ở các đại học tiên tiến, và qua tích lũy kinh nghiệm của người sẽ thừa kế.. Nếu không thành công trong việc chuẩn bị nầy hoặc con cháu muốn thi thố tài năng ở những lãnh vực khác thì nhà doanh n ghiệp cần chọn người khác (ngoại tộc) kế tục sự nghiệp. Dưới đây tôi giới thiệu kinh nghiệm của Toyota, một doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật và là công ty ô-tô hàng đầu thế giới, để thấy nghệ thuật dùng người cả trong và ngoài gia tộc để chọn lãnh đạo đúng người đúng lúc
Ngày 27/1/2023, trên trang nhất các báo lớn ở Nhật đăng tin ông Toyoda Akio tuyên bố là từ tháng 4 cùng năm sẽ thôi chức Tổng Giám đốc Toyota. Tuy ở cương vị nầy đã 13 năm nhưng ông còn trẻ, mới 66 tuổi, và là hậu duệ của người sáng lập công ty, nếu muốn ông có thể làm Tổng Giám đốc hàng chục năm nữa. Nhưng ông quyết định giao chức vụ lãnh đạo tối cao cho Sato Koji, 53 tuổi, một thành viên trẻ trong ban giám đốc và là người ngoại tộc Toyoda.
Về lý do của việc thay đổi lãnh đạo, Toyoda Akio giải thích là ngành ô- tô đang trực diện những vấn đề rất mới như ô tô chạy bằng điện, ô -tô tự lái, v.v., công nghệ kỹ thuật lại thay đổi nhanh và cạnh tranh trên thị trường quốc tế càng khốc liệt. Trước tình hình đó Toyoda Akio cho rằng mình “là người cũ rồi”, phải để cho người mới, trẻ và có năng lực gánh vác việc lớn.
Thật ra thái độ chọn lãnh đạo đúng người đúng lúc là truyền thống của Toyota. Công ty nầy do Toyoda Kiichiro sáng lập năm 1937, trên nguyên tắc con cháu thân tộc của nhà sáng lập thay nhau lãnh đạo nhưng người sẽ lãnh đạo phải được bồi dưỡng năng lực từ nhỏ và khi trong dòng họ không có người thích hợp thì họ tích cực tìm người bên ngoài làm lãnh đạo. Do đó trong lịch sử Toyota ta thấy dù người trong hay ngoài dòng họ, lãnh đạo của công ty toàn những người tài giỏi và được xã hội kính trọng. Trong 30 năm qua, kinh tế Nhật trì trệ nhưng Toyota vẫn phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Toyoda Akio và ba người tiền nhiệm là ngoại tộc.
Sato Koji, người sẽ thây Toyoda Akio làm Tổng Giám đốc Toyota từ tháng 4/2023, sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí tại Đại học Waseda, được tuyển vào làm việc ở Toyota từ năm 1992. Lại một lần nũa người ngoại tộc Toyoda trở thành lãnh đạo tối cao của công ty ô-tô nổi tiếng này.
Trong cuốn sách Kinh tế Nhật Bản, giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973 (Trần V. Thọ 2022), tôi có viết chi tiết về Toyoda Eiji (1913-2013), cháu gọi người sáng lập Toyota là chú ruột. Ông là người được xem là một trong những nhà doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật Bản thời hậu chiến. Ông là mẫu mực của một người thuộc dòng họ Toyoda đã đưa Toyota từ một công ty nhỏ trở thành một doanh đa quốc gia bậc nhất thế giới. Dù người của dòng họ hay ngoại tộc, việc chọn lãnh đạo đúng người đúng lúc làm cho Toyota phát triển vượt bậc.
Như vậy cả chính sách của nhà nước và tinh thần doanh nghiệp của doanh nhân là điệu kiện cần thiết để kinh tế tư nhân Việt Nam lớn mạnh, thực hiện vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.
Sách, tư liệu có trích dẫn:
Lee, Keun (2025), The Korean Model of Development and Implications for Vietnam, paper submitted to ERIA on the Vietnam Project, March.
Ohno K., D. T. Nguyen và T. H. Pham (2021), Nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam trong ba thập niên cải cách và hội nhập 1990-2020, Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.
Trần Q. Hùng, Trần V. Thọ và Nguyễn X. Xanh chủ biên (2025), Kỷ yếu 300 năm Adam Smith: Người đặt nền tảng của kinh tế học phồn vinh, Phanbook phát hành.
Trần Văn Thọ (2022), Kinh tế Nhật Bản giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973, NXB Đà Nẵng, Phanbook phát hành.
Tran Van Tho (2023), Viet Nam’s Conditions for Sustained Growth to Become a High-Income Country: How to Escape from the Middle-Income Trap? Ch. 6 in Fukunari Kimura and Vietnam 2045 team, eds., Viet Nam 2045: Development Issues and Challenges, Economic Research Institute for ASEAN and East Asia, Published in November 2023
Trần Văn Thọ (2025), Nhìn lại con đường công nghiệp hóa của Việt Nam, Kinh tế Saigon Online, 21/12/2025
https://thesaigontimes.vn/nhin-lai-con-duong-cong-nghiep-hoa-cua-viet-nam/
Chú thích:
[1] Về chi tiết, xem Trần Văn Thọ (2022).
[2] Lợi thế so sánh (comparative advantage) có hai trường hợp: lợi thế so sánh tĩnh (static) là lợi thế so sánh hiện tại dựa trên cơ cấu các yếu tố sản xuất và trình độ kỹ thuật công nghệ hiện có; lợi thế so sánh động (dynamic) là lợi thế so sánh trong tương lai 5 hay 10 năm tới, trong đó nếu có chính sách xây dựng, tạo ra cơ cấu các yếu tố sản xuất mới, nâng cao trình độ công nghệ qua đầu tư cho R&D, thì lợi thế so sánh động sẽ trở thành hiện thực.
[3] Chi tiết về các vấn đề công nghiệp hóa Việt Nam hiện nay, xem Tran Van Tho (2023), Trần Văn Thọ (2025).
[4] Xem data trong Ohno, Nguyen and Pham (2021) và phân tích trong Tran Van Tho (2023).
[5] Xem Biểu 2 trong bài viết của Trần Văn Thọ (Phát triển Kinh tế tư nhân: Kinh nghiệm Đông Á và Chính sách của Việt Nam) trong sách nầy.
[6] Đặc biệt Lee (2025) nhấn mạnh điểm nầy sau khi phân tích kinh nghiêm của Hàn Quốc.
[7] Điểm này đặc biệt rõ nét trong trường hợp của Nhật Bản. Xem Trần V. Thọ (2022).