KHOA HỌC – BIÊN GIỚI VÔ TẬN
SCIENCE – THE ENDLESS FRONTIER (1945)
hay là
TẠI SAO KHOA HỌC CƠ BẢN LẠI QUAN TRỌNG?
Vannevar Bush
Bài viết của France A. Córdova, Giám đốc thứ 14 của Quỹ NSF nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (1950–2020)
“Những cách quan trọng nhất mà Chính phủ có thể thúc đẩy nghiên cứu công nghiệp là tăng cường dòng chảy kiến thức khoa học mới thông qua hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và giúp phát triển nhân tài khoa học.”
“Trách nhiệm tạo ra tri thức khoa học mới—và phần lớn việc ứng dụng nó—thuộc về một nhóm nhỏ những người hiểu rõ các quy luật cơ bản của tự nhiên và thành thạo các kỹ thuật nghiên cứu khoa học. Sự tiến bộ nhanh hay chậm trên bất kỳ lĩnh vực khoa học nào sẽ phụ thuộc vào số lượng các nhà khoa học có trình độ cao và được đào tạo bài bản đang khám phá lĩnh vực đó.”
— Vannevar Bush từ The Endless Frontier

Vannevar Bush (11. 3. 1890– 28. 6. 1974) Ảnh của NSF
Lời nói đầu
Gần đây cụm từ “nghiên cứu khoa học cơ bản” được nói đến nhiều ở Việt Nam, và khoa học cơ bản được xem như “bà mẹ” của công nghệ. Thực tế, nếu khoa học cơ bản không phát triển trong những thế kỷ qua, có lẽ thế giới hôm nay không tiến xa hơn thời Trung cổ bao nhiêu. Các phát minh quan trọng đang ảnh hưởng thế giới như tia X quang, GPS, lượng tử, transistor, chip cuối cùng cũng sẽ không có, cũng như sẽ không có những tên tuổi Pasteur, Koch, Newton, Maxwell, Einstein, và những người khám phá ra cơ học lượng tử một trăm năm trước như Heisenberg, Schrödinger, Dirac chỉ kể một số người quan trọng mà nhân loại chịu ơn sâu sắc. Khoa học không được nghiên cứu và khám phá ở chiều sâu sẽ không phát huy tác dụng lớn lao của nó, đó là nhận thức của Wilhelm von Humboldt khi ông thành lập Đại học nghiên cứu Berlin (1810) như mô hình mẫu. Cũng như nếu không có nghiên cứu sâu cơ bản, sẽ không có nguồn năng lượng nguyên tử khổng lồ.
Một thí dụ có lẽ sinh động nhất minh họa cho những ý tưởng trên là báo cáo “Khoa học – Biên giới vô tận” của kỹ sư Vannevar Bush gửi cho Tổng thống Mỹ Truman năm 1945. Ông là cố vấn khoa học cho tổng thống. Báo cáo đó là Lời đáp của ông cho Tổng thống Mỹ Roosevelt lúc ông còn sống người đặt câu hỏi, chiến tranh qua rồi, chúng ta phải làm gì để nâng cao đời sống quốc gia, từ kinh tế đến y tế, để có nhiều công ăn việc làm cho dân chúng, cũng như có một nền quốc phòng vững mạnh. Báo cáo của Bush giống như một kiểu “sớ” muốn dâng lên tổng thống như một chương trình hành động quy mô cho thời hậu chiến. Trong lịch sử, có lẽ chưa có một sớ báo cáo nào quy mô, “hiện đại” đầy tính khoa học, đầy tính nhân văn và dân chủ như thế, và cũng chưa có chương trình hành động nào thành công cực kỳ lớn lao như thế cho một quốc gia đem lại những kết quả vượt trội như ngọn hải đăng.
Nội dung cốt lõi của báo cáo đò là: Hãy đẩy mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản, hãy lập quỹ hỗ trợ nghiên cứu, và đưa các đề tài nghiên cứu về các đại học nghiên cứu dựa dựa trên năng lực cạnh tranh của họ, đồng thời phát triển nguồn nhân lực tinh hoa trẻ. Hành động này đòi hỏi sự hợp tác của các cơ quan nhà nước và lực lượng trí thức dân sự ở các đại học nghiên cứu. Kể cả các đề án nghiên cứu quốc phòng cũng nằm trong chương trình hành động này. Nó quá quan trọng để chỉ được giao cho quân đội. Nhà nước đóng vai trò nhạc trưởng, không làm thay, và đối xử công bằng dựa trên năng lực. Họ thực hiện phương châm Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, ở đây là giới tinh hoa đại học.
Vào thời điểm những năm Thế chiến II, nước Mỹ đã có một hệ thống đại học nghiên cứu phát triển. Trong thời hoàng kim sau Nội chiến, các nhà giáo dục đại học Mỹ vốn từng nghiên cứu mô hình đại học nghiên cứu Humboldt đã làm cuộc chuyển đổi các college thành đại học nghiên cứu theo mô hình Đức đã được chứng minh thành công to lớn. Các đại học nghiên cứu thực tế lần lược thay thế tất cả các đại học, college truyền thống và lan tỏa khắp thế giới. Đến Thế chiến II, các đại học nghiên cứu Mỹ đã kinh qua gần một thế kỷ phát triển, nên sẳn sàng nhận nhiệm vụ của chương trình quốc gia của Vannevar Bush.
Năm 1950, tức năm năm sau khi báo cáo Khoa học — Biên giới vô tận được đệ trình và được duyệt, Quỹ Khoa học Quốc gia, National Science Foundation (NSF) ra đời với sứ mạng thực hiện chiến lược phát triển khoa học cơ bản của Bush. Việc Bush đề nghị đưa nghiên cứu cơ bản về các đại học nghiên cứu là hoàn toàn phù hợp theo tinh thần của Humboldt. Ba bên hợp lại: Nhà nước, NSF và các nhà khoa học ở các đại học nghiên cứu.
Còn thêm một sự kiện quan trọng nữa trong đời sống người dân Mỹ. Trong Thế chiến II, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nhận ra rằng gần 16 triệu nam nữ quân nhân Mỹ sẽ thất nghiệp khi chiến tranh kết thúc, và điều này có thể gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế khác và sự bất ổn kinh tế trên diện rộng tương tự như hậu quả của vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1929. Để ngăn chặn điều đó, các chuyên gia đã nghiên cứu vấn đề và đề xuất một loạt các chương trình giáo dục và đào tạo. Đó là lý do Đạo luật Quyền lợi Cựu chiến binh (G.I. Bill of Rights) ra đời. Nó đã được Tổng thống Franklin Delano Roosevelt ký vào ngày 22 tháng 6 năm 1944, sau khi được Hạ viện và Thượng viện thông qua nhất trí.

Ảnh Tổng thống F. D. Roosevelt ký G.I. Bill of Rights
Đạo luật này giúp những người lính trở về từ Thế chiến tiếp cận giáo dục đại học, đào tạo nghề, hay nhận được khoản vay lãi suất thấp để khởi nghiệp, tạo nhà ở, và một năm trợ cấp thất nghiệp cho các cựu chiến binh. Sau Thế chiến II, khoảng 14,5 tỷ đô la đã được đầu tư vào giáo dục đại học Mỹ thông qua Đạo luật GI (Đạo luật Điều chỉnh cho Quân nhân năm 1944). Trong số khoảng 16 triệu cựu chiến binh Thế chiến II, 2,3 triệu người theo học các trường college và đại học, trong khi 5,5 triệu người khác theo đuổi đào tạo nghề, kỹ thuật hoặc đào tạo tại chỗ. Đến năm 1951, gần 8 triệu cựu chiến binh đã nhận được các lợi ích về giáo dục và đào tạo, và 2,4 triệu người đã nhận được 13 tỷ đô la tiền vay liên bang để mua nhà, trang trại và doanh nghiệp. Đạo luật Quyền lợi Cựu chiến binh sau đó đã được điều chỉnh để bao gồm cả các cựu chiến binh của Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam; kể từ đó, nó đã được mở rộng cho tất cả những người đã phục vụ trong Lực lượng Vũ trang.
Một làn sóng lớn các cựu chiến binh đã sử dụng Đạo luật GI để theo đuổi giáo dục đại học, làm thay đổi căn bản bối cảnh học thuật. Số lượng đại học phát triển rất nhanh chóng. Hàng trăm người đã trở thành những giáo sư nổi tiếng, hiệu trưởng đại học và người đoạt giải Nobel. Leon Lederman là một trong những cựu chiến binh nhận được giải Nobel Vật lý (1988) cho những công trình nghiên cứu hạt neutrino. Đại học Mỹ vươn tới đỉnh cao sau một trăm năm từ luật giao đất Morrill Land-Grant Acts của những năm 1860. Một trăm năm sau, những năm 1960, các đại học lớn phát triển thành những tập đoàn đại học khổng lồ mà cựu chủ tịch Đại học California Clark Kerr gọi là đa đại học (multiversity) để mô tả một đại học bao gồm nhiều đại học lớn trong đó, như hệ thống UC.
Về các quỹ đầu tư khoa học, thực tế, ngoài NSF ra còn có vô số cơ quan khác tài trợ cho phát triển khoa học, công nghệ, trong đó phải nhắc tới DARPA (Defense Advanced Research Projects Agency) chuyên tài trợ cho những ý tưởng công nghệ tương lai. Bảng dưới đây cho thấy ảnh hưởng của họ.

Bản minh họa sự đầu tư của các cơ quan nhà nước Mỹ vào các bộ phận công nghệ thiết yếu để iPod và iPad ra đời (DARPA: Defense Advanced Research Projects Agency; DoE: US Department of Energy; DoD: US Department of Defense; NIH: National Institutes of Health (USA); NSF: National Science Foundation (USA); CERN: European Organization for Nuclear Research, Geneva) (Mariana Mazzucato, The Entrepreneurial State, “Nhà nước khởi tạo”, 109). Xem Nhà nước đổi mới sáng tạo (2018).
Đặc biệt hai phòng thí nghiệm tiên phong của Đại học Stanford, một về Trí tuệ nhân tạo có tên SAIL do nhà toán học John McCarthy của M.I.T. lãnh đạo, và một “Tăng cường trí tuệ” (Augmentation Research Center, ARC), do Doug Engelbart lãnh đạo, đều được tài trợ từ Pentagon thông qua cơ quan ARPA, tiền thân của DARPA sau này. SAIL đã tạo ra nhiều bộ óc sáng tạo nhất, và một số sau đó đã chuyển qua Xerox PARC. Tài trợ liên bang cũng trải rộng ra trên nhiều lãnh vực khác, như công nghệ sinh học, công nghệ dược phẩm. Ngoài DAPRA, còn có thêm 3 tổ chức then chốt nữa: SBIR (Small Business Innovation Research) nhằm giúp một số doanh nghiệp nhỏ tiến hành nghiên cứu và phát triển (R&D), Orphan Drug Act (ODA) nhằm khuyến khích các công ty dược phẩm phát triển các loại thuốc điều trị bệnh có thị trường nhỏ cho các bệnh hiếm, và National Nanotechnology Initiative (NNI) nhằm khuếch trương công nghệ nano. Đó là chưa kể nhiều cơ quan nữa của quân đội. DAPRA cũng được biết rộng rãi là đã tạo ra ARPANET, tiền thân của Internet, vào cuối những năm 1960. Những sự thật này giờ đây được trình bày trong nhiều sách vở, phá vỡ “huyền thoại” về vai trò nhà nước thụ động của Mỹ, và về quan điểm bấy lâu nay cho rằng chỉ thị trường mới có tính quyết định tất cả. Năm 1998 Bill Gates tuyên bố: “Ngành công nghiệp PC đang dẫn dắt nền kinh tế của quốc gia chúng ta bước vào thế kỷ 21 … Không có ngành công nghiệp nào ở Mỹ sáng tạo hơn, sống động hơn và cạnh tranh hơn. Và điều đáng kinh ngạc là tất cả những điều này đã xảy ra mà không có bất kỳ sự tham gia nào của chính phủ.” Kết luận như thế là chưa đúng, có lẽ bởi vì lúc đó các tài liệu về đầu tư liên bang chưa được công bố rộng rãi (Xem một bài viết về Thung lũng Silicon sắp tới)
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nhỏ, nước Mỹ có các quỷ đặc biệt: chương trình Nghiên cứu Đổi mới Doanh nghiệp Nhỏ (SBIR, Small Business Innovation Research, thành lập năm 1982) và Chương trình Chuyển giao Công nghệ Doanh nghiệp Nhỏ (STTR, Small Business Technology Transfer (STTR) programs, thành lập năm 1992). Cả hai thuộc về Chương trình liên bang, hoạt động dưới tên thương hiệu được sử dụng rộng rãi là Quỹ Hạt giống của Mỹ (America’s Seed Fund). Những loại này rất phù hợp cho kinh tế tư nhân nhỏ để tạo sức mạnh cho họ, để họ có đóng góp có đáng kể chứ không phải chỉ là những shopkeepers. Đó cũng là trách nhiệm của một nhà nước kiến tạo phát triển. Xem chi tiết: Đã đến lúc phải xây dựng tinh thần khởi nghiệp quốc gia (Nguyễn Trung Dân 2025)
Dưới đây là bài viết của Bà France A. Córdova, giám đốc thứ 14 của Quỹ NSF về việc thực hiện chương trình của Vannevar Bush trong thời gian 70 năm, 1950–2020.
20
Nguyễn Xuân Xanh

France Anna-Dominic Córdova (5. 8. 1947 – ), là một nhà vật lý thiên văn người Mỹ. Bà từng giữ chức chủ tịch thứ 11 của Đại học Purdue từ năm 2007 đến năm 2012 và giám đốc thứ 14 của Quỹ Khoa học Quốc gia từ năm 2014 đến năm 2020. Hiện bà đang giữ chức chủ tịch của Science Philanthropy Alliance. Bà nhận được 13 bằng tiến sĩ danh dự (Doctor honoris causa).
“…nghiên cứu cơ bản là động lực thúc đẩy tiến bộ công nghệ.”
Tuyên bố đó vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay như năm 1945 khi Vannevar Bush viết nó trong luận văn mang tính bước ngoặt của ông, Khoa học – Biên giới vô tận (Science – The Endless Frontier). Trong báo cáo đệ trình lên Tổng thống Harry S. Truman, Bush đã lập luận về việc thành lập một cơ quan mới mà ông và những người khác cảm thấy cần thiết để hỗ trợ nghiên cứu cơ bản thiết yếu nhằm chống lại bệnh tật, đảm bảo an ninh quốc gia và nâng cao mức sống, bao gồm cả việc hỗ trợ các ngành công nghiệp và việc làm mới.
Bush đã rút ra một bài học quan trọng từ việc điều hành Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển Khoa học (Office of Scientific Research and Development) trong Thế chiến II:
“Những cách quan trọng nhất mà Chính phủ có thể thúc đẩy nghiên cứu công nghiệp là tăng cường dòng chảy kiến thức khoa học mới thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và giúp phát triển tài năng khoa học.”
Bush mong muốn những lợi ích của nghiên cứu khoa học đạt được trong chiến tranh có thể được ứng dụng rộng rãi hơn nữa sau chiến tranh. Ông ủng hộ việc chính phủ tài trợ cho nghiên cứu cơ bản tại các trường đại học, college và viện nghiên cứu vì đó là nơi tập trung những tài năng. Ông ngưỡng mộ sự tự do tìm tòi (freedom of inquiry, tự do truy vấn) mà ông đã trải nghiệm khi làm quản lý tại MIT. Bush ca ngợi nghiên cứu dựa trên sự tò mò (curiosity-driven research) với những người làm việc trên “các chủ đề do chính họ lựa chọn”.
Thêm vào đó, ông cũng nêu lên nhu cầu hỗ trợ đào tạo một thế hệ tài năng khoa học mới. Ủy ban tư vấn cho ông về vấn đề này cho rằng cần phải tạo cơ hội cho tất cả mọi người:
“không nên có bất kỳ giới hạn nào, ngoài chính khả năng của bản thân, đối với tham vọng trí tuệ… mỗi cậu bé và cô gái đều cần biết rằng, nếu họ chứng tỏ được mình có đủ năng lực, thì bầu trời là giới hạn.”
Năm năm sau, Quốc hội thành lập NSF (Qủy khoa học quốc gia, National Science Foundation). Khoảng thời gian dài giữa đề xuất của Bush và sự ra đời của cơ quan mới đã tạo cơ hội cho các cơ quan liên bang khác—đặc biệt là Ủy ban Năng lượng Nguyên tử, Viện Y tế Quốc gia và Văn phòng Nghiên cứu Hải quân—mở rộng danh mục hoạt động của mình. Do đó, NSF mới không trở thành đơn vị tài trợ cho tất cả các nghiên cứu cơ bản trên toàn chính phủ liên bang như Bush đã hình dung. Tuy nhiên, về nhiều mặt, báo cáo đã có tác động mà Bush mong muốn, và ảnh hưởng của ông đối với chính sách khoa học vẫn tiếp tục rất lớn. Ngày nay, danh mục khoa học và kỹ thuật cơ bản của NSF trải rộng hơn bất kỳ cơ quan nào khác; sự hỗ trợ của NSF đối với nghiên cứu học thuật được cảm nhận sâu sắc tại các trường college và đại học trên cả nước; và việc phát triển lực lượng lao động khoa học tài năng vẫn là trọng tâm chính. Những lập luận cao cả của Bush ủng hộ nghiên cứu cơ bản vẫn còn vang vọng đến ngày nay. Chúng ta có thể nghe thấy tiếng vọng của chúng trong những tuyên bố mạnh mẽ về giá trị của nghiên cứu cơ bản được đưa ra bởi các thành viên Quốc hội, các chính quyền tổng thống, NSF, Hội đồng Khoa học Quốc gia và các nhà lãnh đạo khoa học và kỹ thuật trên toàn thế giới.
Qua nhiều thập kỷ, danh mục các chương trình của NSF đã phát triển để đáp ứng các chính sách khác nhau của tổng thống và quốc hội, cũng như các chính sách do chính NSF và Hội đồng Khoa học Quốc gia đề ra. Sự thay đổi trong dư luận và quan điểm chính trị, ở cả quy mô lớn và nhỏ, đã định hình trọng tâm của các chương trình và giải thưởng của NSF, thúc đẩy những thay đổi mà Bush không hề dự tính ban đầu.
Điều gì đã thay đổi?
Danh mục hoạt động của cơ quan này đã phát triển và thay đổi kể từ khi NSF được thành lập vào năm 1950, được chuyển đổi bởi lợi ích của nhiều bên liên quan trong suốt bảy thập kỷ qua. Ở đây, tôi nêu bật một số thay đổi.
Sự phát triển của các cấu trúc khoa học:
- Một bức ảnh trên Bức tường Lịch sử của NSF tại trụ sở chính ở Alexandria, Virginia, ghi lại những khoản tài trợ đầu tiên của cơ quan này. Khoản tài trợ đầu tiên của NSF, trị giá 10.300 đô la, dành cho lĩnh vực khoa học sinh và được trao cho Viện Nghiên cứu Ung thư. Trong bản đề xuất năm 1945 về việc thành lập một cơ quan mới chuyên về sự tiến bộ của khoa học, Vannevar Bush đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc chính phủ hỗ trợ nghiên cứu cơ bản trong “y học và các ngành khoa học nền tảng” cho “cuộc chiến chống lại bệnh tật”. Tuy nhiên, trong năm năm giữa thời điểm công bố báo cáo của Bush và việc Quốc hội thành lập NSF, Viện Y tế Quốc gia đã mở rộng phạm vi nghiên cứu và nguồn tài trợ. Do đó, NSF tập trung vào nghiên cứu được thiết kế để hiểu các nguyên tắc và cơ chế cơ bản biểu hiện trong các hệ thống sống (living systems), từ phân tử đến hệ sinh thái, bao gồm cả nghiên cứu cơ bản về khoa học thần kinh và các lĩnh vực khác liên quan đến sức khỏe con người. Thật vậy, nhiều khám phá được NSF tài trợ trong vật lý và sinh học đã dẫn đến các thiết bị dò và công nghệ mới cho y học. Danh mục khoa học sinh học ngày nay bao gồm các nghiên cứu về hệ gen học (genomics) và biểu sinh học (epigenetics), sinh học thực vật (plant biology), hệ thống sinh vật (organismal systems), sinh thái học (ecology) và đa dạng sinh học (biodiversity). Sự xuất hiện gần đây của Dữ liệu lớn được ghi nhận trong cơ sở quy mô lớn đầu tiên của ngành sinh học – Mạng lưới Quan sát Sinh thái Quốc gia (National Ecological Observatory Network), hoàn thành vào năm 2019. Cơ sở mới, quy mô lục địa này được thiết kế để thu thập dữ liệu sinh thái dài hạn, truy cập mở nhằm hiểu rõ hơn về môi trường sống đang thay đổi.
- NSF thành lập bộ phận khoa học xã hội vào năm 1957 (theo sự thúc giục của Phó Tổng thống Nixon, người nhận thấy lợi ích quốc phòng của nó) và trở thành một ban giám đốc (directorate) độc lập vào năm 1992. Điều này không nằm trong kế hoạch ban đầu của Bush; tuy nhiên, theo thời gian, mối liên hệ của nó với các nhu cầu quốc gia cấp bách ngày càng được công nhận. Năm 1968, Quốc hội đã bổ sung rõ ràng việc hỗ trợ khoa học xã hội vào nhiệm vụ của NSF. Ban giám đốc khoa học xã hội của NSF hiện nay hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết xuyên biên giới với các ban giám đốc (của các ngành khoa học ND), nhận thấy rằng sự “hội tụ” (hợp tác liên ngành, ND) các ngành học có liên quan đến nhiều vấn đề cấp bách hiện nay. Ngoài ra, các nhà kinh tế học được ban giám đốc tài trợ chiếm phần lớn trong danh sách các giải Nobel được trao trong lĩnh vực này. Ứng dụng công trình nghiên cứu của họ đã chứng minh tác động rộng lớn của khoa học xã hội đối với việc ra quyết định và chất lượng cuộc sống trên toàn thế giới.
- Kể từ khi NSF ra đời, danh mục hoạt động của ban giám đốc khoa học địa chất đã mở rộng đáng kể. Trong những thập kỷ sau khi thành lập, NSF đã trở thành một trong số các cơ quan khoa học liên bang tài trợ nghiên cứu về sự tương tác giữa đại dương, khí quyển, đất liền và hoạt động của con người. Những tương tác đó tạo nên những gì ngày nay được coi là toàn bộ hệ thống Trái đất. Các công cụ mới và mô hình tính toán đã giúp các nhà nghiên cứu đạt được những đột phá quan trọng trong việc hiểu cách thời tiết và khí hậu khắc nghiệt ảnh hưởng đến cuộc sống và tài sản của con người, cũng như cách hoạt động của con người ảnh hưởng đến khí hậu Trái đất. Nghiên cứu tập trung vào Bắc Cực đã ghi nhận những thay đổi môi trường đang gia tăng và các chu kỳ phản hồi liên quan ảnh hưởng đến toàn bộ hành tinh. Công việc này tiếp tục thúc đẩy các cuộc thảo luận quốc gia và tạo động lực cho các nghiên cứu mới mang tính đột phá. Ban giám đốc khoa học địa chất cũng giám sát chương trình Nam Cực của quốc gia – một trách nhiệm địa chính trị cực kỳ quan trọng – với các cơ sở vật chất và địa hình độc đáo tiếp tục mang lại những đột phá khoa học trong hiểu biết của chúng ta về hành tinh và vũ trụ.
- Theo thời gian, ngành kỹ thuật (engineering) ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn tại Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Trong khi nghiên cứu cơ bản về khoa học tạo ra những hiểu biết về thế giới hiện tại, nghiên cứu cơ bản về kỹ thuật lại tạo ra kiến thức thiết yếu về cách xây dựng thế giới mà chúng ta mong muốn. Từ năm 1973, các kỹ sư đã thúc đẩy các mối quan hệ đối tác năng động do NSF tài trợ với chính phủ, giới học thuật và ngành công nghiệp. Mặc dù văn kiện ban đầu của Bush chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ bản và để lại nghiên cứu ứng dụng cho ngành công nghiệp, NSF đã tiếp tục tài trợ cho nhiều chương trình với mục tiêu chuyển giao công nghệ, bao gồm các Trung tâm Nghiên cứu Kỹ thuật và chương trình Innovation Corps gần đây hơn. Những nỗ lực này tạo ra những con đường nhanh hơn để đạt được kết quả hữu hình, đã tạo ra nhiều công ty khởi nghiệp và nhận được sự chấp thuận từ Chính quyền và Quốc hội. Kể từ khi thành lập vào năm 1981, ban giám đốc kỹ thuật đã tạo ra giá trị theo nhiều cách, từ các phương pháp ứng phó thảm họa hiệu quả hơn, đến sản xuất bồi đắp (additive manufacturing; công nghệ in 3D, ND), đến các thiết bị y tế mới và nhiều hơn nữa.
- Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính và Thông tin đã trở thành một ban quản lý riêng biệt vào năm 1986. Điều này hẳn sẽ làm hài lòng Bush, người luôn đi đầu trong việc nhìn thấy tiềm năng của máy tính trong việc thay đổi mọi khía cạnh của cuộc sống. Ngay cả Bush cũng không thể hình dung được cuộc cách mạng kỹ thuật số sắp xảy ra, cũng như vai trò của NSF trong việc mở rộng Internet, tài trợ cho các siêu máy tính hiệu năng cao và tạo ra phương tiện để nhiều thế hệ nhà nghiên cứu tiếp cận sức mạnh tính toán chưa từng có. Có lẽ ông sẽ ngạc nhiên khi thấy chiều sâu và sự phong phú của điện toán và khả năng ngày càng tăng của nó trong việc xử lý lượng lớn dữ liệu, mang lại tiềm năng khám phá lớn hơn cho mọi lĩnh vực. Ông hẳn sẽ rất vui mừng trước những cuộc thảo luận ngày nay về lời hứa đầy hứa hẹn của trí tuệ nhân tạo, và sự cần thiết phải tạo ra một khuôn khổ an toàn, minh bạch, công bằng và có đạo đức cho nó.
- Giáo dục và Nguồn nhân lực đã mở rộng từ việc chỉ tài trợ học bổng cho sinh viên sau đại học vào năm 1952 đến nay bao gồm hỗ trợ giáo dục tiểu học, trung học và đại học, cũng như học tập phi chính quy trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Trong môi trường thông tin ngày càng nhanh và phức tạp, nghiên cứu cơ bản về giáo dục đang làm thay đổi cách dạy khoa học và có thể tạo ra những cải tiến to lớn trong những gì học sinh học được. Trong khi các cuộc tranh luận về chương trình giảng dạy khoa học vẫn tiếp diễn, đặc biệt là trong bối cảnh trường tiểu học và trung học, một nhóm rộng các bên liên quan vẫn cam kết với lý tưởng của Bush về việc nâng cao vị thế của giáo dục STEM trên toàn quốc. Ngày nay, Ban Giám đốc Giáo dục và Nguồn nhân lực hợp tác với các đối tác từ giới học thuật, công nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan liên bang khác để tài trợ cho các nghiên cứu mới năng động về cách cải thiện việc dạy và học STEM.
- Điều đáng chú ý là toán học và khoa học vật lý đã tạo nên cốt lõi của NSF ngay từ những ngày đầu thành lập và cấu trúc của chúng hầu như không thay đổi. Các hoạt động trong lĩnh vực toán học và khoa học vật lý tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ công chúng và giới chính trị . Những kết quả đột phá của các chương trình này tận dụng các thiết kế nghiên cứu sáng tạo, các cơ sở công nghệ cao quy mô lớn và khả năng tiếp cận sức mạnh tính toán mới để thúc đẩy khoa học và truyền cảm hứng cho công chúng trên toàn thế giới. Ví dụ, trong những năm gần đây, chỉ riêng trong lĩnh vực vật lý thiên văn, các nhà khoa học được NSF tài trợ đã tạo ra những hình ảnh rõ nét về các hệ mặt trời đang hình thành, đã thực hiện phát hiện đầu tiên trên Trái đất về sóng hấp dẫn từ sự hợp nhất của các lỗ đen và sao neutron, đã phát hiện ra các neutrino năng lượng cao từ một thiên hà hoạt động gọi là “blazar”, và đã chụp ảnh một lỗ đen khổng lồ ở trung tâm của một thiên hà xa xôi. Những khám phá này giải quyết những câu hỏi tồn tại hàng thế kỷ về sự hình thành hệ mặt trời của chúng ta, nguồn gốc của sóng hấp dẫn và nguồn gốc của tia vũ trụ. Chúng cũng chứng minh tiềm năng khám phá của các công cụ mới tinh vi. Bush hẳn sẽ rất vui mừng.
Mở rộng sự đa dạng:
Một yếu tố then chốt trong công việc của NSF qua nhiều năm là mở rộng tính đa dạng và tăng cường sự tham gia vào khoa học. Bush lập luận rằng việc trao giải thưởng tài trợ chỉ nên dựa trên năng lực cạnh tranh. NSF đã mở rộng nguồn nhân lực có khả năng đề xuất các công trình nghiên cứu xuất sắc bằng cách khuyến khích mọi người từ mọi tầng lớp xã hội—bất kể danh tính, vị trí địa lý hay con đường sự nghiệp—theo đuổi chương trình đào tạo khoa học nâng cao (advanced scientific training) cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn cao của NSF.
Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) từ lâu đã cam kết mở rộng sự tham gia của phụ nữ và các nhóm thiểu số ít được đại diện trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Để đáp ứng điều này, toàn bộ NSF, đặc biệt là ban giám đốc giáo dục và nguồn nhân lực, đã xây dựng các chương trình nhằm thúc đẩy cơ hội tiếp cận và học tập cho sinh viên thuộc các nhóm thiểu số ít được đại diện có hứng thú với STEM. Chương trình INCLUDES (bao gồm) của NSF sẽ mở rộng sự tham gia của tất cả những người thuộc các nhóm thiểu số ít được đại diện trong lĩnh vực STEM bằng cách thiết lập các chương trình trên toàn quốc và kết nối chúng lại với nhau để mở rộng nỗ lực này.
Hơn nữa, để đáp ứng những lo ngại của Quốc hội về việc tập trung nguồn tài trợ nghiên cứu vào một số ít tiểu bang, NSF đã trở thành cơ quan liên bang đầu tiên thành lập chương trình EPSCoR (Chương trình Thử nghiệm nhằm Kích thích Nghiên cứu Cạnh tranh; Experimental Program to Stimulate Competitive Research) vào năm 1979. Chương trình EPSCoR đã chứng minh rằng việc đầu tư vào xây dựng năng lực thể chế rộng khắp sẽ khuyến khích sự đổi mới trên toàn quốc và giúp thu hút thêm nhiều người tham gia thuộc các nhóm thiểu số vào lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Nhận thấy tính chất lâu đời của chương trình, chữ “E” trong EPSCoR đã được đổi nghĩa từ “Thử nghiệm” thành “Đã được thành lập” (“Established”) vào năm 2018.
Cơ quan này cũng trở nên nhạy cảm hơn với sự đa dạng nghề nghiệp. Ngày nay, ngày càng nhiều sinh viên tốt nghiệp ngành STEM lựa chọn các nghề nghiệp ngoài lĩnh vực học thuật (non-academic). Xu hướng này đã thúc đẩy NSF và giới học thuật xem xét lại việc đào tạo STEM, đặc biệt là ở cấp độ sau đại học, với mục tiêu làm cho chương trình giảng dạy khoa học phù hợp hơn với nhiều loại công việc khác nhau. Khi nhu cầu về kỹ năng STEM tiếp tục tăng trong toàn bộ nền kinh tế, NSF, với sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học Quốc gia, đang tập trung hơn nữa vào việc phát triển lực lượng lao động kỹ thuật lành nghề (skilled technical workforce). Sự tập trung này bao gồm đào tạo và đào tạo lại người lao động ở mọi cấp độ giáo dục không chỉ cho các công việc có kỹ năng hiện nay, mà còn cho các công việc được hình dung trong các ngành công nghiệp của tương lai.
Ngành công nghiệp đã đáp lại bằng cách thiết lập các mối quan hệ đối tác mới với NSF để giúp các nhà giáo dục và các tổ chức STEM cung cấp thông tin khoa học quan trọng và phù hợp với hiệu quả ngày càng cao.
Khoa học vì lợi ích quốc gia
Nhiệm vụ của NSF ngay từ đầu đã được thiết kế để phục vụ lợi ích quốc gia; Bush đã nhấn mạnh điều đó trong báo cáo của mình, và điều đó cũng được ghi trong điều lệ thành lập cơ quan. Việc diễn giải nhiệm vụ đó như thế nào và những chương trình nào sẽ được tài trợ cụ thể đã là chủ đề tranh luận sôi nổi và dễ bị ảnh hưởng bởi các ưu tiên khác nhau kể từ khi NSF được thành lập.
Trong suốt lịch sử của NSF, cho đến nay, nhiều dự luật (chống) “lãng phí” (“wasterbooks”) của Quốc hội đã chỉ trích những đề xuất có mục đích không rõ ràng hoặc dường như không hữu ích. Tuy nhiên, các báo cáo từ Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ (The U.S. National Academies of Science, Engineering, and Medicine) vẫn tiếp tục trích dẫn những ví dụ về nghiên cứu dựa trên sự tò mò, ban đầu không có ứng dụng cụ thể nào, nhưng lại mang đến những đột phá giúp thúc đẩy lợi ích quốc gia theo những cách sâu sắc và lâu dài. Hiệp hội Khuếch trương Khoa học Hoa Kỳ (The American Association for the Advancement of Science), một tổ chức ủng hộ mạnh mẽ khoa học và truyền thông khoa học (science communication), hàng năm tài trợ giải thưởng Golden Goose để nêu bật những kết quả có lợi từ nghiên cứu dựa trên sự tò mò mà ban đầu mục đích dường như không rõ ràng. Tất cả điều này đều đúng như Bush đã dự đoán khi ông viết:
“Nhiều khám phá quan trọng nhất đến từ các thí nghiệm được thực hiện với những mục đích rất khác nhau”.
Khả năng liên tục tạo ra những tác động có lợi của NSF là kết quả của nhiều yếu tố, nhưng không có yếu tố nào quan trọng hơn cam kết của tổ chức này đối với việc đánh giá dựa trên năng lực. Quá trình này, giúp xác định những nghiên cứu triển vọng nhất, đã là dấu ấn đặc trưng trong giá trị cốt lõi của NSF kể từ khi thành lập. Với 70 năm lịch sử – bao gồm cả việc hỗ trợ hơn 230 người đoạt giải Nobel trong sự nghiệp của họ – rõ ràng là hệ thống đánh giá dựa trên năng lực của Quỹ đã tạo ra vô số thiết kế nghiên cứu mang lại những khám phá đáng chú ý – những khám phá thúc đẩy khoa học, phục vụ lợi ích quốc gia và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Cũng nằm trong “Khoa học—Biên giới vô tận”
Có nhiều phần trong báo cáo nổi tiếng của Bush thường không được nhấn mạnh trong các bài đánh giá nhưng lại rất quan trọng đối với hoạt động khoa học hiện nay. Tôi đề cập đến chúng ở đây để làm nổi bật tầm nhìn rộng lớn của Bush, bao gồm hợp tác quốc tế, phục vụ cộng đồng, và thậm chí cả một thiết kế thể chế cụ thể cho một cơ quan mới.
Ví dụ, Bush đã nói về việc loại bỏ những rào cản áp đặt lên nghiên cứu khoa học trong thời chiến và khôi phục “tự do tìm tòi và tinh thần cạnh tranh khoa học lành mạnh rất cần thiết cho việc mở rộng ranh giới tri thức khoa học”. Vào thời điểm đó, có những đối thủ cạnh tranh khoa học quốc tế, chủ yếu ở châu Âu. Trên thực tế, khả năng cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng của Mỹ phụ thuộc vào cam kết của nước này đối với sự lưu thông tự do thông tin khoa học, điều này khuyến khích sự đổ bộ (influx) vào nước Mỹ của các chuyên gia tài năng từ khắp nơi trên thế giới. Bush nhận ra thế mạnh đó và nói, “Chính phủ nên đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự lưu thông thông tin khoa học quốc tế”. Ông lập luận rằng kiến thức khoa học, khi được thực hiện tại một trường đại học hoặc viện nghiên cứu duy nhất, có thể trở nên rời rạc và cô lập. Ngược lại, sự tham gia rộng rãi cung cấp một phương tiện tốt hơn để một quốc gia duy trì khả năng cạnh tranh về khoa học. Vì lý do này, ông kêu gọi sự phối hợp các chương trình giữa các cơ quan khoa học và các chính phủ đồng minh.
Bush cũng ủng hộ việc cấp học bổng và trợ cấp cho sinh viên theo học tại một quỹ dự bị khoa học quốc gia (national science reserve). Quỹ dự bị này sẽ được huy động “phục vụ chính phủ” trong thời kỳ khủng hoảng và sẽ đi kèm với việc dỡ bỏ các hạn chế an ninh sau chiến tranh để thúc đẩy khoa học nhanh hơn. Ông tìm kiếm sự tiến bộ và hiểu biết bằng cách nuôi dưỡng sự tham gia và cởi mở trong những thời điểm quan trọng.
Chương cuối cùng của báo cáo “Phương tiện để đạt được mục tiêu” (“Means to the End”) là đề xuất chi tiết của Bush về cơ quan mới, bao gồm cơ chế thành lập, tổ chức thành các bộ phận cụ thể, chức năng của “Thành viên của Quỹ”, tư vấn về chính sách bằng sáng chế và các quyền hạn đặc biệt mà cơ quan này nên có. Ông đưa ra lời khuyên cụ thể về ngân sách cho các bộ phận. Ông nhấn mạnh rằng quan trọng nhất là “Năm nguyên tắc cơ bản” (“The Five Fundamentals”), những nguyên tắc nền tảng để thành lập cơ quan mới. Trong số các nguyên tắc này có sự ổn định và liên tục về nguồn tài trợ, việc quản lý các khoản tài trợ bởi những công dân có hiểu biết sâu sắc về nghiên cứu và giáo dục khoa học, việc cơ quan không được tự vận hành các phòng thí nghiệm, sự kiểm soát môi trường tài trợ bởi các trường đại học và viện nghiên cứu, và trách nhiệm giải trình trước tổng thống và Quốc hội. Mặc dù NSF, được Quốc hội thành lập năm năm sau đó, có phần khác biệt so với đề xuất này—đặc biệt là việc bổ nhiệm Giám đốc bởi Tổng thống chứ không phải bởi Hội đồng Khoa học Quốc gia—nhưng nó vẫn duy trì các mục đích đã nêu là hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và phát triển tài năng khoa học của Mỹ.
Vấn đề cốt lõi
“Khoa học – Biên giới vô tận” là một luận văn có tầm nhìn xa đáng kinh ngạc. Nó vẫn giữ được phần lớn tầm nhìn ban đầu và tính phù hợp cho đến ngày nay. Người ta có thể tranh luận về sự tận tâm đặc biệt của Bush đối với nghiên cứu cơ bản và ai nên là người cung cấp và hỗ trợ nó. Bush đã viết,
“Nghiên cứu cơ bản là một quá trình dài hạn – nó sẽ không còn là nghiên cứu cơ bản nếu người ta mong đợi kết quả ngay lập tức với sự hỗ trợ ngắn hạn.”
Tuy nhiên, ranh giới phân chia giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ngày nay không còn rõ ràng như khi Bush viết báo cáo của mình. Nhiều nhà nghiên cứu đại học tham gia vào toàn bộ phạm vi nghiên cứu, từ khám phá cơ bản đến ứng dụng, và không nhận thấy sự phân chia giữa các giai đoạn phát triển nghiên cứu này. Ngày nay, nghiên cứu cơ bản hướng đến ứng dụng và nghiên cứu cơ bản hướng đến sự tò mò là động lực thúc đẩy nhiều nhà khoa học và kỹ sư trẻ. Tất cả các lĩnh vực đều ngày càng chú trọng đến chuyển giao công nghệ và lợi tức đầu tư, điều này đã được cả giới học thuật và khu vực tư nhân áp dụng. Các “chương trình tăng tốc” (“accelerators”) mới được tài trợ bởi cả các tổ chức tư nhân và chính phủ đang nỗ lực đưa nghiên cứu và các ý tưởng mới đến thành công nhanh hơn.
Công nghệ thông tin là động lực mạnh mẽ thúc đẩy những thay đổi này, tạo ra cơ hội trao đổi nghiên cứu, dữ liệu và ý tưởng mà khó có thể hình dung được sau Thế chiến II. Những thay đổi này cho phép các hình thức giao tiếp và trao đổi khoa học mới. Ngày nay tại NSF, những cơ hội này thể hiện ở nhiều khía cạnh—đặc biệt là trong cam kết của chúng tôi đối với các Ý tưởng Lớn (Big Ideas). Các Ý tưởng Lớn được xây dựng dựa trên tầm nhìn của Bush bằng cách thúc đẩy các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau cùng nhau làm việc ở tất cả các giai đoạn của quá trình khoa học về các chủ đề quan trọng đối với khoa học và quốc gia.
Phục vụ quốc gia vẫn là sứ mệnh cốt lõi của cơ quan này, và ngày nay NSF hợp tác với nhiều cơ quan khác để thúc đẩy lợi ích quốc gia. Mối quan hệ giữa các cơ quan đã phát triển theo những cách quan trọng. Năm 1945, Bush viết: “Chúng ta không có chính sách quốc gia nào cho khoa học”. Ngày nay, Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ (Office of Science and Technology Policy) và Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia của Tổng thống (The President’s National Science and Technology Council) hợp tác với toàn bộ các cơ quan định hướng khoa học để phối hợp các hoạt động, và Ban Khoa học Quốc gia (National Science Board) của NSF duy trì vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin cho chính sách khoa học quốc gia. Những nỗ lực này giúp NSF và các cơ quan khác chuyển đổi các khoản đầu tư của liên bang vào k hoa học thành giá trị công cộng mang tính đột phá.
Tuyên bố mang tầm nhìn xa của Bush về vai trò của khoa học trong xã hội chứa đựng nhiều yếu tố vẫn còn đúng cho đến ngày nay. Ví dụ, Bush đã viết:
“Khoa học đã luôn ở phía sau hậu trường. Nó cần được đưa lên vị trí trung tâm – bởi vì trong đó chứa đựng phần lớn hy vọng của chúng ta về tương lai.”
(“Science has been in the wings. It should be brought to the center of the stage—for in it lies much of our hope for the future.”)
Khoa học, nền tảng của hầu hết các tiện nghi hiện đại, cơ sở hạ tầng y tế và quốc phòng, và đã tạo điều kiện cho rất nhiều ngành công nghiệp mới, (lúc đó) vẫn chưa được đặt ở vị trí trung tâm. Cho đến khi điều đó xảy ra, văn bản của Bush sẽ đứng vững như một ngọn hải đăng tượng trưng cho niềm hy vọng mà nó mang lại. Nó nhắc nhở chúng ta rằng đầu tư vào khoa học có tiềm năng chuyển đổi, và sự tham gia đa chiều nghiêm túc vào thế giới khoa học, là chìa khóa để giữ cho quốc gia chúng ta năng động, cạnh tranh và mạnh mẽ. Có cả rủi ro và phần thưởng trên những lĩnh vực tiên phong của khoa học.\

HẾT
Lời bạt
(1)
Vannevar Bush tạo ra báo cáo từ kinh nghiệm Thế chiến II. Đó là trận chiến lịch sử được diễn ra bằng khoa học, công nghệ, mà Đức là biểu tượng của sức mạnh đó. Với một cuộc chiến như thế, khoa học, công nghệ là vũ khí tất yếu để chiến thắng, hoặc thua. Và thực tế Mỹ và Đồng minh đã chiến thắng vì cuối cùng tao ra ưu điểm khoa học công nghệ. Đó là kinh nghiệm quý báu để giới chính trị gia thời hậu chiến Mỹ đề ra kế hoạch. Thứ hai, cuộc chiến tranh lạnh đang tới, với tuyên bố của Churchill trong một bài diễn văn (tháng 3, 1946) về “bức màn sắt”, cảnh báo sự bành trướng của Liên Xô ở Đông Âu; năm 1947 (tháng 3) Tổng thống Truman công bố “Học thuyết Truman” thiết lập chính sách ngăn chặn (containment) của Hoa Kỳ đối với sự bành trướng đó; 1947 (tháng 6): Hoa Kỳ thành lập Kế hoạch Marshall, giúp củng cố kinh tế của Khối phương Tây.

Bản sao bức chân dung kỹ sư Vannevar Bush do Eugene Montgomery vẽ, được dùng kèm với bài báo “For Man to Know” của Bush đăng trên tạp chí Atlantic Monthly năm 1955.
Ngần ấy sự kiện đã thôi thúc Vannevar Bush xây dựng chương trình phát triển khoa học công nghệ để đối phó và bảo vệ nước Mỹ. An ninh quốc gia giờ đây được xem là phụ thuộc thiết thân vào sức mạnh khoa học cũng như vào con người và nền kinh tế. Bush đặt báo cáo của mình trong bối cảnh cạnh tranh khoa học trong tương lai giữa Mỹ và Liên Xô. “Trong một thế giới mà chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai, đất nước này phải có nền nghiên cứu khoa học mạnh mẽ, nếu không sẽ không thể cạnh tranh hiệu quả với những nỗ lực mà, ví dụ, Nga chắc chắn sẽ dành cho khoa học.” Ông nói: “Về cơ bản, không có lý do gì để tin rằng các nhà khoa học của các quốc gia khác sẽ không khám phá lại tất cả những gì chúng ta biết nhưng đang được giữ bí mật.” Và ông cảnh báo về một sự thất bại chắc chắn nếu chểnh mảng phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực trẻ. Nghiên cứu khoa học là “hoàn toàn thiết yếu đối với an ninh quốc gia”. Và ông kết luận: “Chiến tranh hiện đại đòi hỏi việc sử dụng các kỹ thuật khoa học tiên tiến nhất… [vì vậy] cần có sự hợp tác chuyên nghiệp giữa các sĩ quan trong quân đội và các nhà khoa học dân sự.”
Khi bản báo cáo của Bush được công bố, Truman, Churchill và Stalin đang gặp nhau tại Potsdam, Đức, để thảo luận về tương lai của nước Đức bại trận và châu Âu đang bị chiếm đóng. Ở Thái Bình Dương, các tàu sân bay của Mỹ, tiến ngày càng gần các đảo chính của Nhật Bản, đã tấn công Tokyo. Bất chấp những sự kiện này, bản báo cáo của Bush đã khiến thủ đô Washington xôn xao. Ông hy vọng “gây ra một chút xáo trộn” bằng cách phân phát khoảng 100 bản sao báo cáo trước cho những người trong giới chính trị Washington và đích thân thuyết phục một số nhà bình luận báo chí và đài phát thanh. Các chuyên gia đã phản hồi thuận lợi qua sự ca ngợi “Biên giới Vô tận” như một tác phẩm kinh điển ngay lập tức. Nói chung, báo cáo của ông đạt được sự đồng thuận. Tạp chí Business Week gọi Science—The Endless Frontier là “một báo cáo mang tính bước ngoặt” và là “tài liệu bắt buộc phải đọc đối với các doanh nhân Mỹ”. Tờ Washington Post ca ngợi Bush vì đã đưa ra “một kế hoạch kỹ lưỡng, cẩn thận nhằm thúc đẩy sự tiến bộ khoa học của chính phủ liên bang, đồng thời vẫn giữ cho khoa học độc lập khỏi sự kiểm soát của chính phủ”.

Douglas C. Engelbart cùng với một con chuột máy tính đời đầu vào năm 1968, năm nó được ra mắt. Nguồn ảnh: SRI International
Bush còn nổi tiếng về một mô hình máy tính tiên khởi. Tháng 7, năm 1945, ông công bố một bài báo “As We May Think” (Như chúng ta có thể nghĩ) trên tạp chí Atlantic Monthly cho rằng có thể chế tạo một máy tính được ông đặt tên “Memex”, có thể thu cả bộ Encyclopaedia Britannica vào “một loại tệp và thư viện riêng được cơ giới hóa” và có thể gọi các thông tin ra rất nhanh khi cần. Bài báo này tiên đoán công nghệ máy tính hiện đại. Năm 1945 nó lọt vào mắt của Douglas Engelbart, một kỹ thuật viên radar Hải quân 20 tuổi lúc đó đóng quân tại Philippines trong thế chiến II. Những ý tưởng mang tính đột phá mà Engelbart đọc được ngày hôm đó cuối cùng đã khơi nguồn cho buổi tổng trình diễn “Mother of All Demos” vào năm 1968, 23 năm sau, tại hội nghị máy tính quốc gia ở Brooks Hall, San Francisco, vào ngày 9, tháng 12, trước sự tham dự của cả ngàn chuyên gia khắp nước Mỹ. Ông trình bày con chuột máy tính, màn hình bitmap, siêu văn bản, máy tính nối mạng và tiền thân của giao diện người dùng đồ họa. Máy tính không còn chỉ thực hiện những nhiệm vụ tính toán thuần túy mà còn tăng cường năng lực đầu óc con người, một công cụ để liên lạc và truy xuất thông tin. Ông muốn biến ý tưởng của Vannevar Bush về một cỗ máy Memex thành hiện thực, nơi một cỗ máy được một người sử dụng tương tác có thể “tăng cường” trí thông minh của họ. “Chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng như thế.” Khi buổi trình diễn chấm dứt, hội trường vỗ tay như sấm, rồi đứng lên tiếp tục hoan hô không muốn dứt. Toàn bộ chi phí cũng được APRA chi trả. Từ thời điểm này, máy tính cá nhân trở thành một hệ hình mới.
(2)
Làm sao để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Đó là đề thi của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông Việt Nam sáng 11/6, năm 2026, với hơn 1,2 triệu thí sinh của cả nước cần viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trả lời câu hỏi trên. Steve Jobs được xem là biểu tượng của đổi mới sáng tạo trong công nghệ có năng lực thay đổi tầm thế giới. Đề tài đó có lẽ biểu lộ khát vọng của người Việt Nam về một thời kỳ phát triển mới mà đổi mới sáng tạo là nền tảng với những vị anh hùng như Steve Jobs của họ; và câu hỏi đó muốn “chuẩn bị tinh thần” về một lộ trình phát triển hoàn toàn mới, cũng như đánh thức mối quan tâm của các em học sinh để chuẩn bị tham gia.
Sự so sánh Việt Nam và Hoa Kỳ dĩ nhiên là rất không thực tế, mặc dù biết rằng chúng ta cũng phải nuôi dưỡng lý tưởng đổi mới sáng tạo ờ những người trẻ để có những đóng góp lớn nhất cho xã hội. Steve Jobs không xuất hiện đơn lẻ, mà từ một vùng đất đổi mới sáng tạo đang được dăm trồng từ nhiều thứ, với hàng loạt đồng nghiệp, đồng chí hướng của ông, những geeker, nerd hay tinkerer, những type người đại diện cho hình mẫu của văn hóa công nghệ đang lên. Ở đó có Đại học Stanford, có Fred Terman: Trưởng khoa Kỹ thuật tại Đại học Stanford, người có tầm nhìn tạo ra khởi nghiệp công nghệ, và được xem chính là cha đẻ của Thung lũng Silicon. Ông đã có thành tích tham gia vào cuộc chiến tranh công nghệ chống lại Đức quốc, qua đó có quan hệ rất tốt với Vannevar Bush. Thực tế, Terman từng là sinh viên nghiên cứu tiến sĩ kỹ thuật điện đầu tiên của Vannevar Bush tại MIT. Ông khuyến khích các giáo sư và sinh viên sau đại học thành lập các công ty khởi nghiệp tư nhân bằng cách sử dụng nghiên cứu của trường đại học—cụ thể là để giành được các hợp đồng quốc phòng. Ông khuyến khích Hewlett và Packard thôi học tiến sĩ để ra khởi nghiệp ngay – trong ga ra xe với số tiền $500 của Terman như “vốn mạo hiểm”.
Nước Mỹ như đã nói đã có nền giáo dục đại học phát triển đáp ứng nhu cầu nghiên cứu & phát triển cho những công nghệ mới. Thung lũng Santa Clara là một vùng nông nghiệp nông thôn, sau thế chiến II đã biến thành một trung tâm công nghệ thông qua những thay đổi văn hóa, kinh tế và thể chế rõ rệt. Vùng đất đó có “văn hóa đối lập” hay “văn hóa phản kháng” (counterculture), có độ cởi mở, khoan dung, tin tưởng và hợp tác cao, có luật pháp đặc biệt cho phép nhân viên ra lập công ty cạnh tranh lại công ty cũ; có định hướng công nghệ rõ rệt và một cách say mê, xem công nghệ như công cụ giải phóng khỏi mọi sự lệ thuộc. Có Phong trào Phát biểu Tự do (Free Speech Movement) năm 1964 tại Đại học California, Berkeley, như ‘ngòi pháo’ cho phong trào ‘văn hóa đối lập’ và chống đối chiến tranh Việt Nam phát triển trong thập niên tới, đem lại giới trẻ ý thức độc lập, tự do và tự quyết trong cuộc sống và lập thân mình. Có bóng bán dẫn (transistor) vừa được một trong ba chủ nhân nó, William Shockley, mang từ Bell Labs ở Murray Hill, New Jersey, về Palo Alto năm 1955. Đây chính là tia lửa, ngòi pháo! Đây là thanh nam châm thu hút mạnh mẽ những tài năng khoa học hàng đầu, những người sau này đã khai sinh ra Fairchild Semiconductor và Intel và nhiều công ty bán dẫn khác làm thành một đại gia đình Fairchild. Những khách hàng “sộp” nhất cho những sản phẩm công nghệ mới không ai khác là giới quân sự, điều dễ hiểu, bởi Mỹ đang bị đặt trong tình thế chiến tranh lạnh và moonshot. Thung lũng Silicon thực tế là một Florence quy tụ nhân tài đủ mọi thành phần về hợp sức làm một thời Phục Hưng mới về công nghệ. Nó không có trung tâm điều khiển hay thiết kế, mọi người hoạt động theo sở thích, đam mê và cơ chế thị trường. Tài năng tự động được xã hội công nhận bằng bằng cách này hay cách khác, hoặc bằng sự công nhận của thị trường.

“Cái đầu hippie, tâm hồn Phật tử, trái tim nghệ sĩ” như một blogger ví (Milena Nguyen). Bức ảnh này của Steve Jobs được nhiếp ảnh gia Norman Seeff chụp vào năm 1984 cho tạp chí Rolling Stone.
Bản thân Steve Jobs là con người đặc biệt. Ông sinh ra ngày 24 tháng 2, 1955. Những đứa trẻ có cha mẹ từng phục vụ trong quân đội và sinh ra trong khoảng 1946 – 1964 sau Thế chiến II được gọi là baby boomer. Thời kỳ baby boom đã cho ra đời khoảng 76 triệu trẻ em được nuôi dưỡng và dạy dỗ trong những điều kiện tốt. Tuy nhi, Jobs không phải con của bố mẹ là cựu chiến binh như thế. Cha ruột của ông, Abdulfattah “John” Jandali, là một người nhập cư Syria sinh năm 1931, đến Hoa Kỳ với tư cách là sinh viên sau đại học rất lâu sau chiến tranh. Mẹ ruột của ông, Joanne Schieble, có cha mẹ xuất thân từ một gia đình nông dân ở Wisconsin. Tuy nhiên, Steve Jobs sau đó được nuôi dưỡng bởi cha mẹ nuôi phục vụ trong quân đội. Cha nuôi của ông, Paul Reinhold Jobs, phục vụ trong Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ trong Thế chiến II. Và ông lớn lên ngay trong khu vực Thung lũng Silicon. Ông đã sớm có đầu óc là một doanh nhân, entrepreneur, có tầm nhìn. Ông và Wozniak đã thành lập công ty khởi nghiệp ngay trong ga ra xe của bố mẹ. Ông có những tố chất đặc biệt ít người khác có. Ông là một entrepreneur bẩm sinh, có tầm nhìn và óc sáng tạo mạnh mẽ. Chuyến đi thiền ở Ấn độ đã giúp ông phát triển tầm nhìn càng rõ nét mà những người khác không có. Ông ăn chay trường và thiền. Xem thêm: Thiền và Nhà khoa học (2017) và Startup – Nhìn từ Thung lũng Silicon đến Việt Nam (2023).
(3)
Việt Nam thiếu Steve Jobs đã đành, mà cũng thiếu cả một Vannevar Bush. Có một danh nhân Việt Nam có một số điểm tương đồng với Vannevar Bush, sống chỉ 60 năm trước Bush. Ông là nhà canh tân lỗi lạc nhất của Việt Nam vào thế kỷ XIX. Ông được xem là người đặt nền móng cho tư tưởng tổ chức lại xã hội, khoa học kỹ thuật và giáo dục theo hướng hiện đại. Đó là Nguyễn Trường Tộ. Ông đã dâng lên triều đình Tự Đức nhiều bản điều trần (nổi tiếng nhất là bản 58 điều) đề xuất cải cách toàn diện trên mọi lĩnh vực: nội trị, ngoại giao, kinh tế, giáo dục, tài chính và quân sự. Ông kêu gọi canh tân học thuật, mở trường dạy các môn khoa học, toán học, kỹ thuật phương Tây thay vì chỉ tập trung vào kinh sử và khoa cử Nho giáo. Ông cũng là người tiên phong thiết kế quy hoạch, cầu đường và khai khoáng, đồng thời đề xuất thành lập các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật chuyên môn.

Nguyễn Trường Tộ (1830-1871)
Nhưng không may, Việt Nam lúc bấy giờ không có giới tinh hoa để ủng hộ những ý kiến của ông. Giới quan lại đã quá lậm sâu vào nho học như một “ý thức hệ” phong kiến chỉ muốn giữ nguyên hiện trạng hơn là thay đổi, và nhất là thay đổi theo phương Tây. Ngay cả khi Tân Thư từ Trung quốc tràn vào, gây tiếng vang lớn, nhưng rồi “vũ như cẩn”. Sự thụ động và ảnh hưởng của lối học nho giáo để làm quan đã ăn sâu và di căn vào tới xương tủy làm cho giới tinh hoa không còn tỉnh táo để phân tích và nhận định tình hình thế giới như giới tinh hoa Nhật Bản Minh Trị.
(4)
Cuối cùng, tôi hy vọng cũng sẽ có một câu hỏi tương tự: Làm sao để có những “Albert Einstein”? và có một bức tượng Einstein đâu đó cho công chúng, xứng đáng với thiên tài và những gì ông đã đóng góp cho thế giới mà cả thế giới và chính chúng ta cũng đang thừa hưởng. Dĩ nhiên còn nhiều danh nhân khoa học khác cũng rất xứng đáng: Newton, Galilei, Pasteur, Koch, Röntgen …
Nguyễn Xuân Xanh
Xin xem thêm:
Startup – Nhìn từ Thung lũng Silicon đến Việt Nam (Nguyễn Xuân Xanh)
Từ Thung lũng Silicon đến Vùng Zurich-Bern (Nguyễn Xuân Xanh)
Đã đến lúc phải xây dựng tinh thần khởi nghiệp quốc gia (Nguyễn Trung Dân)
Giải sách Quốc gia 2023 cho Bí mật Thung lũng Silicon (Nguyễn Xuân Xanh)
và những bài gần đây:
- Claude Shannon: Nhà khoa học đặt nền móng cho thời đại số (Nguyễn Trung Dân) 7 Tháng Sáu, 2026
- Muốn vươn lên, Việt Nam phải tái định nghĩa đại học (Phan Thanh Bình) 19 Tháng Năm, 2026
- Anthropic và những bài viết mới của Nguyễn Trung Dân 16 Tháng Năm, 2026
- Tuyển tập thơ Nguyễn Duy 15 Tháng Năm, 2026
Tham khảo
[1] Zachary, Pascal, The Endless Frontier. Vannevar Bush, Engineer of the American Century. The Free Press, 1997.